Diễn đàn Tu viện Phật giáo Việt nam


Bát Chánh Đạo: 5 Chánh Mạng

Chuyên đề tham khảo Thiền Nam Tông

Các điều hành viên: Sen Hong, Bất Nhị

Bát Chánh Đạo: 5 Chánh Mạng

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 2 02 Tháng 2, 2015 12:51 pm

5/ Chánh mạng, còn gọi là đế thọ, chánh mạng đạo chi, là chi thứ năm trong Bát chánh đạo, là chỉ cho cách sống của hành giả, phương pháp sanh nhai hằng ngày mang lại cơm no áo ấm, thuốc thang, và những nhu cầu cần cho cuộc sống trong gia đình.

Là hành giả tu tập theo chánh pháp của Phật thì trước hết phải thanh tịnh hóa ý nghiệp trong từng ý nghĩ bằng các không nghĩa đến những điều ác hại mình hại người, mà phải có những ý nghĩ đem lại lợi ích vui vẻ cho chính mình và cho mọi người chung quanh gần nhất là những người thân trong gia đình và, xa hơn nữa là xã hội; kế đến là thanh tịnh thân, khẩu nghiệp của mình bằng vào những công việc làm và những lời nói trong công việc khi giao thiệp; hành giả phải tránh xa mọi công việc làm đưa đến hại mình, hại người như học nghề chú thuật, bói tóan … lường gạt kẻ khác, mà ngược lại hành giả phải sống đúng với chánh pháp nghĩa là chúng ta phải lựa chọn những nghề nghiệp nào mang lại mọi lợi ích an vui cho mình cho người thì chúng ta chọn nghề đó để sống.

Đó gọi là nghề nghiệp sinh sống chánh đáng của một hành giả thực hành chánh pháp của đức Phật.

Hình ảnhHình ảnh

Thượng Tọa Thích Đức Thắng( Bút hiệu: Đại Lãn, Phổ Đồng)

********************************************************
Nguồn:
Links Bát Chánh Đạo: Chánh Kiến Chánh tư duy

Lưu bút: Sau khi tìm hiểu Chánh kiến này, hành giả có thể tìm thêm nội dung chính của kinh số 10. Kinh Chánh Tri kiến từ Nguồn gốc: http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung00.htm Hai là, Luận giải Kinh Chánh Tri Kiến, Tỳ Khưu Chánh Minh http://www.budsas.org/uni/u-chanhminh/ctk00.htm về: 1. Thiện và Bất thiện; 2. Bốn loại vật thực; 3. Tứ Diệu Đế; 4. Sau cùng là lý 12 nhân duyên. Nơi đây sẽ giúp cho hành giả phân biệt thêm sâu sắc thế nào là Chánh kiến và thế nào là tà kiến. Chúc các bạn thành công. QH.

Lưu bút: Chánh tư duy trong Thiền còn gọi là ''Tầm'', hiểu chánh tư duy thế nào, xin mời bạn trở lại với tiêu đề TẦM (VITAKKA)

*************************
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Bát Chánh Đạo: 5 Chánh Mạng

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 2 02 Tháng 2, 2015 1:53 pm

CHÁNH MẠNG (SAMMÀ-ÀJÌVA)


1. C
hi thứ ba
và cũng là chi cuối cùng của nhóm giới là chánh mạng, chánh mạng đòi hỏi người ta không được quan hệ mua bán các loại vũ khí, các loại súc vật để giết thịt, mua bán người (làm nô lệ), các loại rượu và chất say, và mua bán độc dược.

Mặc dù Ðức Phật chỉ đề cập đến năm loại này, nhưng như chúng ta biết, còn có nhiều cách nuôi mạng không chơn chánh khác nữa. Chúng ta phải nhớ rằng những điều này được Ðức Phật nói với xã hội Ấn Ðộ vào thế kỷ thứ 6 trước Công Nguyên mà phần lớn, ngay cả ngày nay cũng vậy, bao gồm giới nông dân, chăn nuôi và buôn bán. Ðiều ghi nhận khá lý thú ở đây là trong kinh điển Phật giáo, có những phần miêu tả rất sinh động về cuộc sống của người nông dân và những người chăn nuôi gia súc.

Bài kinh thứ hai và thứ tư của Sutta- Nipata (Kinh Tập, thuộc Tiểu Bộ kinh) chứng thực khá phong phú sự kiện này. Ấn Ðộ là một nước nông nghiệp và chính phủ của họ không phải là chính phủ 'dân chủ'. Hầu hết các tiểu quốc đều theo chế độ phong kiến đặt dưới sự cai trị của một vị tiểu vương (Ràjà: Vua) như trường hợp bộ tộc Thích Ca của Ðức Phật, nhưng cũng có những nước Cộng Hoà, chẳng hạn như cộng hoà Licchàvi, được cai trị bởi một viện nguyên lão gồm các vị trưởng tộc và các vị lãnh đạo.

Trong các tiểu vương quốc, Vua là người cai trị mà mọi người đều phải phục tùng và chịu ơn mưa móc của Vua. Cuộc sống lúc đó dường như yên ả hơn so với cuộc sống của nhiều đất nước hiện nay. Vì cách sinh nhai thời ấy còn hạn chế nên Ðức Phật chỉ cảnh giác đối với năm điều kể trên.

***********

2. Chúng ta không nên nghĩ rằng Ðức Phật chỉ nói về những hậu quả xấu của tà mạng và những lợi ích của chánh mạng cho hàng dân giả thôi.
Trong Nikàyas (Kinh Bộ), đáng kể nhất là trong Trường Bộ (Dighà Nikàya) và Tăng Chi Bộ (Anguttara Nikàya), chúng ta tìm thấy những bài pháp nói về đời sống mà một vị Vua hay người cầm quyền cần phải sống theo. Như đã được tuyên bố một cách minh bạch rằng Vua phải cai trị đúng Pháp (dhammena), không đựơc cai trị phi pháp (A-dhammena).

Ngoài việc giữ ngũ giới như các thần dân của họ ra, một vị Vua hay người cầm quyền còn phải có tất cả những phẩm chất hiền thiện xứng đáng làm vị nguyên thủ của một quốc gia nữa.

Kinh Phật thường đề cập đến Thập Vương Pháp (Dasa-Ràja Dhamma) hay mười phận sự của một vị Vua: bố thí, trì giới, bỏ của cải ra để làm lợi ích chung; công bình ngay thẳng; ôn hoà, mềm dịu; cố gắng dứt bỏ sự ác; không có sân hận, hung dữ vô ích, không có lòng thù oán, hãm hại kẻ khác; có sự nhẫn nãi; không làm quá phạm vi luật lệ của quốc gia đã có, vì lòng bất bình sân hận của mình
[1].

Như Ðức Phật đã chỉ ra, chính các bậc Vua chúa là người phải an lập mình vào chánh pháp (dhamma), hiếu đạo với cha mẹ và có lòng chánh trực, tránh những thói hư tật xấu và làm mẫu mực cho thần dân của mình.
Ngài nói: "Nếu Vua là người được liệt vào hàng chánh trực nhất trong số những thần dân sống không chánh trực của mình. Thời có cần phải nói người khác không? Mọi người sẽ noi theo gương Vua. Nếu Vua sống không chánh trực thì cả nước sống trong thống khổ... nếu Vua sống ngay thẳng, mọi người sẽ tích cực noi gương Vua và cả nước sẽ sống trong hạnh phúc".


Không bao giờ thoả mãn với những vinh dự đã đạt được, bậc Vua chúa hay bậc cai trị được trông đợi phải sống nhân ái và biết chăm lo đời sống cho người dân: "giống như người cha nhân từ đối với con cái vậy"[3].

Một ông Vua suốt ngày chìm đắm trong dục lạc, kiêu hãnh với vương quyền (Issariyamadamatta) đã không được mọi người ca tụng, mà còn bị khinh miệt. Ðể có được sự công bằng, thành thật và chánh trực đối với mọi người không thiên vị hay tư vị, bậc cai trị phải tránh bốn pháp cư xử sai lầm với mọi người hay còn gọi là bốn pháp tư vị. Ðó là tư vị vì thương (chandàgati), tư vị vì ghét (dosàgati), tư vị vì si mê (mohàgati), và tư vị vì sợ (bhayàgati).

Về phương diện này, Asoka (A-Dục) bậc vĩ nhân của Ấn Ðộ, người, do đời sống gương mẫu của mình, sau đó đã trở nên nổi danh là Dhammàsoka, hay Pháp A-Dục, có thể được xem như một trong những nhà cai trị công minh, trí tuệ và nhân từ nhất của mọi thời đại. Ðiều này được chứng minh qua những chỉ dụ của người:

'Tất cả mọi người đều là con của ta'.
'Ta mong cho con ta hưởng mọi sự giàu sang và hạnh phúc trong đời này và đời sau như thế nào thời ta mong cho mọi người đều được như vậy'.
'Ta sẽ đem lại sự an ủi đến cho thế gian này. Từ nơi ta thế gian này sẽ được hạnh phúc, không còn sầu lo'. (Chỉ Dụ I).
'Không có bổn phận nào cao quý hơn là thúc đẩy sự hạnh phúc của toàn thế gian'.
'Ta phải làm việc vì lợi ích của cả thế gian' (Chỉ Dụ II).


Chắc chắn có thể nói rằng Hoàng đế A-Dục, người đã theo lời khuyên của Ðức Phật thực hiện việc cai trị quốc gia đúng theo vương pháp, là một nhà cai trị mẫu mực và như H.G. wells đã viết: 'Trong số hàng chục ngàn các bậc quân vương... chất đầy các cột lịch sử, tên tuổi của A-Dục chói sáng, và chói sáng hầu như đơn độc, đó là một ngôi sao'[4].

************

3. Ðó là chuyện của 23 thế kỷ trước, từ đó đến nay mọi sự đã trở nên xấu đi và người ta ngày càng ít quan tâm đến hạnh phúc của đồng loại. Con người ngày nay không ngừng dùng bất cứ thủ đoạn nào để nắm lấy những gì họ đã khát khao mong mỏi ngay đến độ họ phải tước đi mạng sống của kẻ khác.


Trong thế giới văn minh này chánh mạng (nghề nghiệp chân chánh) có thể là một trong những điều luật khó vâng giữ nhất. Có rất nhiều loại việc làm tác hại đến xã hội và không xứng với người Phật tử chân chánh.

Chẳng hạn, có những kỹ nghệ chế tạo vũ khí phục vụ chiến tranh; buôn bán rượu; những nghề liên quan đến giết thú mổ thịt hoặc mổ xẻ các động vật sống để làm thí nghiệm; nghề làm báo chuyên viết các tin giật gân; nghề quảng cáo và chào hàng không trung thực; và việc mua bán có tính cắt cổ hoặc cho vay nặng lãi.

Ðạo Phật không phải là một Tôn giáo hẹp hòi thiển cận. Ðạo Phật nhìn những khuyết điểm của con người với sự hiểu biết và cảm thông. Tuy nhiên, người Phật tử chân chánh không thể thọ trì một giới luật và làm ăn sinh sống bằng một giới luật khác, làm mất giá trị của giới luật ấy đi'
[5].

Giới liên quan đến nuôi mạng chân chánh được Ðức Phật thiết lập là nhằm đem lại hạnh phúc thực sự cho từng cá nhân và xã hội, đồng thời để thúc đẩy tình đoàn kết và những mối quan hệ chính đáng giữa con người.

Một lối sống tà vạy, không chân chánh kéo theo nó rất nhiều bất hạnh, chia rẽ và rối ren cho toàn xã hội.
Khi một người hay một cộng đồng không khắc phục được tội ác bóc lột người khác, điều này đã gây trở ngại cho sự an lành và hoà hợp của xã hội. Chính lòng ích kỷ và tham lam đã thúc giục người ta chọn lối sống tà vạy và phi pháp. Những người như vậy hoàn toàn lãnh đảm hay dửng dưng trước những mất mát và đau khổ mà họ đã gây ra cho đồng bào của họ và cho xã hội. Do vậy, Ðức Phật nói:

"Không vì mình, vì người
Làm điều gì sai trái
Ðừng mong cầu con cái
Tài sản hay quốc độ,
Chẳng mong được thành công
Bằng phương tiện bất chánh
Người ấy thật đức hạnh
Có trí tuệ, chân chánh"
[6].

Ðức Phật không phải không biết đến những gánh nặng mà người tại gia sống với vợ và con cái phải cưu mang, chính vì vậy Ngài không trông đợi nơi họ những giới luật y như Ngài đã trông đợi ở một vị xuất gia.

Nhưng Ngài nhấn mạnh rằng người tại gia cư sĩ phải cố gắng gìn giữ ít nhất là ngũ giới, chuẩn mực đạo đức tối thiểu của một người bình thường, và rằng họ phải cố gắng sinh sống bằng những nghề nghiệp chân chánh, bằng chánh hạnh (Dhamma cariyà), và nuôi nấng vợ con cũng bằng cách ấy.

Nuôi mạng bằng những phương tiện bất công và không chân chánh là thế nào - sát sanh, trộm cắp, lừa đảo và bằng những việc làm bất lương khác, không thể đựơc xem là sinh sống chân chánh. Về mặt luân lý đó là lối sống phi pháp (Adhamma cariyà), một lối sống không bình thường, một lối sống bất chánh (Visamma cariyà).


Ðức Phật không xem thường hàng tại gia, mà Ngài cảm thông với những khiếm khuyết và hạn chế của họ. Suy cho cùng thì xã hội không phải chỉ gồm những bậc Sa-Môn và ẩn sĩ từ bỏ gia đình sống không gia đình, mà xã hội còn có cả hàng thế tục mà họ được coi là một lực lượng đông đảo của xã hội, về cơ bản mà nói thì đó là một sự tập hợp của các nhân tố xã hội, vì thế sự thịnh vượng hay suy thoái của xã hội tuỳ thuộc vào các cá nhân. Nếu các cá nhân là những người tốt và sống một cuộc sống đúng đắn, đương nhiên xã hội ấy không thể là xấu được.

************************************

4. Một số bài kinh như Sigàla Sutta[7] (kinh Giáo Thọ Thi Ca La Việt) có thể gọi một cách chính xác là giới luật của người tại gia (gihi vinaya), Vyagghapajja Sutta [8] ... là những bài kinh do Ðức Phật thuyết đặc biệt cho hàng tại gia đã cho thấy rõ sự quan tâm của bậc Ðạo Sư đối với cả hai phương diện hạnh phúc vật chất và phát triển tinh thần của hàng tục gia đệ tử của Ngài.

Trong bài kinh giáo hoá thanh niên Sigàla, bằng ngôn ngữ giản dị, Ðức Phật đã giải thích những phận sự cần phải chu toàn của một người tại gia cư sĩ đối với tất cả những người mà họ có quan hệ: Những phận sự hỗ tương giữa các bậc cha mẹ và con cái, giữa thầy và trò, giữa vợ và chồng, giữa bạn bè và thân quyến, giữa chủ và tớ, và phận sự đối với tôn giáo, nghĩa là đối với các Sa-Môn và Bà-La-Môn. Bằng cách này Ðức Phật đã khuyến khích người tại gia cư sĩ sống một cuộc sống chân chánh, hoàn thành mọi phận sự của mình một cách tốt đẹp bằng hết khả năng của mình và điều quan trọng là không bỏ sót việc gì không làm.

************************

5. Bà C.A.F. Rhys Davids, khi bình luận về kinh Sigala này có nói:

"Giáo lý của Ðức Phật về tình thương và thiện chí ở đây được giới thiệu trên nền tảng luân lý gia đình và xã hội với chi tiết dễ hiểu hơn ở các bài kinh khác... .và thực sự chúng ta có thể nói rằng ngay cả ngày nay những giới luật này vẫn chứa đựng những lợi ích cơ bản nhất của con người, trí tuệ vạch ra những điều này quả là sáng suốt và sâu rộng, rằng việc trình bày ở không gian và thời gian này vẫn mới mẻ và thực tiễn như nó đã từng tại Ràjagaha lúc bấy giờ.

Hạnh phúc thay những xóm làng và bộ tộc hai bên bờ sông Hằng (Ganges), nơi đây con người sống ngập tràn tinh thần nhân ái của sự thông hiểu lẫn nhau, ngập tràn tinh thần cao thượng của vị công bằng mà họ hít thở qua những lời dạy chất phác và giản dị này".

Ắt hẳn sẽ hạnh phúc không kém đối với các ngôi làng hay dòng họ ở hai bên bờ sông Thames (một con sông của nước Anh, nơi bà Rhys Davids sinh sống) ngày nay, nếu như những lời dạy mộc mạc và bình dị này có thể được trình bày"
[9].

Như chúng ta đã biết, sau khi thành tựu sự giác ngộ viên mãn Ðức Phật không phải lúc nào cũng giam mình trong tịnh thất, mà Ngài dong duỗi hết thị trấn này đến thị trấn khác, hết làng mạc này đến làng mạc khác qua những con đường lớn nhở của Ấn Ðộ.

Ngài lưu tâm đến tầng lớp bình dân hơn tầng lớp thượng lưu dân quý tộc. Các bậc Vua chúa và hoàng gia tìm đến Ngài để xin lời chỉ dạy và hướng dẫn, nhưng bậc Ðạo Sư đích thân đi đến những người nghèo khổ, thấp hèn và đau khổ để giúp họ.

Ngài hiểu mọi người, từ những tầng lớp thấp thỏi nhất của xã hội đến tầng lớp cao quí nhất và Ngài cũng ý thức rất rõ điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội của Ấn Ðộ lúc bấy giờ. Nhờ hiểu biết mọi việc như vậy nên Ngài không giới hạn những bài giảng và thảo luận của Ngài, vào những vấn đề triết lý và tâm lý cao siêu. Là một bậc Thầy thực tiễn với lòng từ và trí tuệ vô biên, Ngài lưu tâm đến những phúc lợi xã hội và điều kiện kinh tế của số đông, và luôn luôn mong ước, bằng lời khuyên của Ngài sẽ làm vơi đi nỗi thống khổ của con người, cũng như thấy rằng họ sống không quá mức bất hạnh. Thực sự mà nói thì hạnh phúc phải phát xuất từ một cuộc sống thanh tịnh và an lạc; nhưng điều hiển nhiên là nếu không có một mức độ ổn định nào đó về mặt vật chất và kinh tế thì tiến bộ đạo đức và tinh thần cũng khó có thể ổn định.


Ðối với một người tu sĩ, bốn món vật dụng thiết yếu (Catupaccaya) giúp họ tiến bước trên con đường thanh tịnh và giải thoát. Ðó là y áo, thực phẩm, thuốc men và sàng toạ. Ðây chỉ là những nhu yếu mà không có nó thì không ai có thể sống được. Về cơ bản đó cũng là những nhu cầu cần thiết của người tại gia.
Chính thói quen của Ðức Phật là hỏi các vị Tỳ khưu mỗi khi gặp họ: "Các con có được an lành không, các con sống có an vui không? Như Lai tin rằng các con sống được an vui, các con sống không đến nỗi thiếu thốn vật thực"[10].

**************************
6. Có một câu chuyện cảm động kể về một người mục đồng nọ đang đi tìm con bò thất lạc, lỡ bữa ăn trưa. Trên đường trở về, vừa đói vừa mệt, anh ta đi đến chỗ Ðức Phật để nghe Ngài giảng pháp. Tuy nhiên, Ðức Thế Tôn biết rằng người mục đồng này đã không ăn gì suốt cả ngày nay, Ngài bèn hỏi thăm mọi người xem trước hết có gì cho anh ta ăn không đã. Ðức Phật biết là thuyết pháp cho bất luận người nào mà trước tiên không thoả mãn cơn đói của họ là việc làm vô ích. Nhân dịp đó Ðức Phật nói lên bài kệ này:
"Ðói bụng bịnh trầm kha,
Các uẩn khổ vô cùng
Biết đúng sự thật này
Niết bàn lạc tối thượng"
[11].

Mặc dù Ðức Phật không xem tiến bộ vật chất trong ý nghĩa văn minh hiện đại cũng như hạnh phúc thế gian là điều quan trọng, nhưng không phải là Ngài hoàn toàn bỏ qua việc ấy, bởi vì đó là căn bản cho tiến bộ tâm linh hay tinh thần của con người như đã nói rõ ở trên.

Vì thế có thể nói Ðức Phật rất là thẳng thắn khi đề cập đến những phương diện có liên quan tới điều kiện vật chất và an lạc xã hội.

Một thực tế mà cũng phải nhìn nhận rằng đói nghèo là nguyên nhân chính của tội ác. Nếu người ta bị tước đoạt mất bốn món vật dụng kể trên, hoặc nếu bốn món thiết yếu này, đặc biệt là thực phẩm trở nên khan hiếm, tâm con người sẽ bất an. Họ không thể và chắc chắn là không còn nghĩ gì đến giới hạnh, hoặc là quan tâm đến nếp sống chân chánh.

Tuỳ cơ ứng biến và thế là họ nghiêng về lối sống bất chánh để được sống còn. Do thiếu ổn định về kinh tế, và do thiếu thốn tiền bạc mà con người bị dẫn đến chỗ trộm cắp và phạm vào những tội ác khác.

7. Kinh Kàtadanta
[12] nói rõ cách làm thế nào để phát triển các điều kiện kinh tế và xã hội của một xứ sở, theo đó người nông gia và thương gia cần phải được chu cấp những phương tiện cần thiết để thực hiện việc canh tác và buôn bán của họ, và rằng mọi người phải được trả lương đầy đủ.

Khi họ đã có đủ ăn đủ mặc và cuộc sống kinh tế ổn định như vậy, tội phạm sẽ giảm và an vui, hoà hợp sẽ tăng trưởng.

Trong một bài kinh khác Ðức Phật giải thích cho Cấp Cô Ðộc (Anàthapindika), người sáng lập Kỳ Viên Tịnh Xá (Jetavana), bốn loại lạc mà người tại gia có thể thọ hưởng.

Thứ nhất là lạc sở hữu hay sự ổn định kinh tế, nhờ đó người ấy có phương tiện đầy đủ (atthi sukha), thủ đắc đúng pháp do chính những nỗ lực của mình, không dùng đến năm nghề bất chánh kể trên;

thứ hai là lạc về tài sản (bhoga sukha) hay hạnh phúc thành tựu do biết tiêu dùng sáng suốt những tài sản hợp pháp đó;
thứ ba là lạc không bị mắc nợ (anana sukha), là sự hoan hỉ và thoả thích phát sanh với ý nghĩ: "Ta không mắc nợ ai điều gì cả",
thứ tư là lạc không phạm tội (anavajja sukha), là sự thoả mãn phát sanh từ ý nghĩ: "ta thành tựu các hành vi không lỗi về thân, về lời và ý"
[13].


Tất cả những gì được thảo luận ở đây cũng như trong các bài pháp trích dẫn đủ để cho thấy rằng người tại gia cư sĩ, như một thành phần của xã hội, phải có bổn phận siêng năng làm việc để sinh sống và củng cố địa vị kinh tế và xã hội của mình, nếu không họ sẽ trở thành gánh nặng cho chính bản thân họ và cho xã hội, nhưng đồng thời họ cũng phải tránh những cách sanh nhai bất chánh, tà vạy và nhất là không đi lệch ra ngoài con đường chánh trực,

Những lời chỉ dẫn và khuyên bảo của Ðức Phật về chánh mạng nhằm vào cả hai giới tại gia và xuất gia.

Ngài rõ ràng đã giải thích cho hàng đệ tử của mình thấy rằng đời sống của người tu sĩ phải tuyệt đối trong sạch và không lầm lỗi.

8. Bậc Ðạo Sư thật sự rất chú trọng đến vấn đề này, vì Ngài nói:

"Này các Tỳ khưu, những vị Tỳ khưu nào lừa dối, cứng đầu, lắm mồm, lắm miệng, hoang dâm, hỗn hào, không có định tĩnh, những vị Tỳ khưu ấy không phải là đệ tử của Ta. Những Tỳ khưu ấy đã rơi khỏi Pháp-Luật này, họ không thể phát triển, tăng trưởng và tăng thịnh trong Pháp-Luật này"[14].

Bậc Ðạo Sư nói thêm: "Này các Tỳ khưu, phạm hạnh (Brahmacariyam) được sống không phải để lừa dối mọi người, không phải để mưu đồ, không vì lợi lạc vật chất, cũng không phải vì mục đích danh vọng. Ðời phạm hạnh này được sống không phải để lý luận, tạp thoại, không phải với ý định: "mong rằng mọi người sẽ biết ta như thế này, như thế nọ..." Mà này các Tỳ khưu, phạm hạnh này được sống vì mục đích tiết chế, vì mục đích từ bỏ, vì mục đích xả ly, vì mục đích đoạn diệt"
[15].

Như bài kinh "Xuất gia"[16] đã chỉ rõ, chính Ðức Phật đã nêu tấm gương cho hàng đệ tử khi Ngài nói:
"Bỏ nhà ta xuất gia
Từ bỏ mọi lời ác
Và những thân hành ác
Chánh mạng ta thanh tịnh".

Trong trường hợp một người xuất gia, vấn đề tránh năm loại nghề bất chánh không được nêu ra, vì người xuất gia chắc chắn không dính mắc vào những công việc, vị ấy cũng không có trách nhiệm chăm lo đời sống gia đình. Người xuất gia đã từ bỏ gia đình và chấp nhận lối sống thiểu dục, tri túc (ít muốn, biết đủ) như Ðức Phật nói; chính bổn phận của người tại gia cư sĩ có niềm tin là hộ trì cho chư Tăng bốn món vật dụng: Y áo, thực phẩm, sàng toà và thuốc men[17].


Vị Tỳ khưu, như một người đã bước vào đời phạm hạnh, phải tránh tất cả những phương tiện sinh sống tà vạy, vì nếu vị ấy không minh bạch và trong sạch trong lối sống thì khó có thể đi theo con đường thanh tịnh dù chỉ với chút tín tâm và lòng hoan hỉ.

Chính vì vậy Ðức Phật nói:

"Ðường này đến thế gian,
Ðường kia đến Niết bàn
Tỳ khưu đệ tử Phật,
Phải ý thức rõ ràng
Ðừng đắm say thế lợi
Hãy tu hạnh ly tham"
[18].

Với chương này chúng ta khép lại phần thảo luận về nhóm giới của Bát Chánh Ðạo. Trong hai chương trước chúng ta đã đề cập đến Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp và cùng với Chánh Mạng này tạo thành Giới hay luân lý của đạo Phật. Sự kiện này một lần nữa được làm sáng tỏ trong lời tuyên bố cô đọng của


Ðức Phật ở bài kinh số 78 của Majjhimà Nikàya (Trung Bộ Kinh):

"Này gia chủ, thế nào là các thiện giới (Kusasìlam)? Thân nghiệp thiện, khẩu nghiệp thiện, và chánh mạng hoàn toàn thanh tịnh Như Lai tuyên bố là gồm trong các thiện giới. Những điều này được gọi là thiện giới, vậy cái gì là sự sanh khởi của những thiện giới này?... thiện giới được sanh khởi trong tâm (ý: citta)... tâm nào? Vì có rất nhiều tâm khác nhau. Tâm nào không tham, không sân, và không si. Các thiện giới phát sanh từ tâm ấy..."

Lời nói và hành động đều do ý thể hiện. Trong Phật giáo cả hai động cơ và kết quả cần phải được cân nhắc. Cho dù động cơ có thể là tốt, nhưng nếu kết quả xảy ra sẽ không lành mạnh, chúng ta cũng nên tránh những lời nói và hành động sai lầm ấy.

(Theo sách 'Con Ðường Cổ Xưa'' Piyadassi Thera Dịch giả: Tỳ Khưu Pháp Thông)
--ooOoo--
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Bát Chánh Đạo: 5 Chánh Mạng

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 4 11 Tháng 3, 2015 6:06 pm

Bài 3:

2.2. Phân biệt với Tà mạng:
Ngược lại với Chánh mạng là Tà mạng, tức là sinh sống bằng những phương tiện bất chánh, hành nghề bất chánh, như sát sanh, trộm cướp, tà dâm, môi giới v.v…
Kinh luận liệt kê năm nghề nuôi sống khả dĩ tạo nghiệp xấu, gọi là Tà mạng, đó là: buôn bán vũ khí, buôn bán nô lệ, nuôi thú vật bán cho người ta ăn thịt hoặc làm nghề đồ tể, bán những chất ma túy,chất gây nghiện, và buôn bán độc dược. Đối với người xuất gia, nếu sống bằng những phương tiện sau đây là đang hành Tà mạng:
1.Trá hiện dị tướng, tức đối với người thế tục, trá hiện tướng kỳ dị đặc biệt để cầu lợi dưỡng.
2.Tự thuyết công năng, tức là tự khoe khoang công đức, tài cán của mình để cầu lợi dưỡng.
3.Chiêm tướng cát hung, tức xem tướng, xem bói, xem thiên văn, địa lý, phong thủy, nói điều lành dữ của người để cầu lợi dưỡng.

4.Cao thanh hiện uy, tức nói năng huênh hoang, cố tỏ uy thế để cầu lợi dưỡng.
5.Thuyết sở đắc lợi dĩ động nhân tâm, tức ở nơi kia được lợi thì đem đến khoe ở đây, ở đây được lợi thì đến khoe ở nơi kia để cầu lợi dưỡng. Đó là những phương tiện mưu sinh bất chánh mà một người xuất gia phải từ bỏ. Ngoài ra, nếu lạm dụng hai chữ “phương tiện”, để biến các pháp sự như cầu an, cầu
siêu, dâng sao giải hạn, rút xăm, coi ngày tốt xấu, mở dịch vụ mai táng, hộ niệm. v.v… thành “cái nghề”, nhằm thỏa mãn nhu cầu cuộc sống, đánh mất chí nguyện độ sanh, đánh mất lý tưởng tu học, đều được xem là sinh sống Tà mạng.

2.3. Phân loại Chánh mạng:
TheoTạp A-hàm: “Chánh mạng có hai loại: Có loại Chánh mạng thuộc thế tục, hữu lậu, hữu thủ, chuyển hướng cõi thiện; có loại Chánh mạng thuộc xuất thế gian của bậc Thánh, vô lậu, bất thủ, hết khổ chân thật, hướng đến thoát khổ.

(3) A tỳ đạt ma phẩm loại túc luận, 18 quyển, Tôn giả Thế Hữu tạo, Đường Huyền Trang dịch. Đại chính 26, số 1542.
(4) Luận Đại trí độ, 100 quyển, Bồ tát Long Thọ tạo, Cưu Ma La Thập dịch. Đại chính 25, số 1509

3“Thế nào là chánh mạng thuộc về thế tục, hữu lậu, hữu thủ, chuyển hướng cõi thiện? Tìm cầy y, thực, ngọa cụ, thuốc thang theo bệnh đúng như pháp, chứ chẳng phải không như pháp. Đó gọi là Chánh mạng thuộc về thế tục, hữu thủ, hữu lậu, chuyển hướng cõi thiện. “Thế nào là Chánh mạng thuộc về xuất thế gian của bậc Thánh, vô lậu, không thủ, chân chánh đoạn tận khổ, chuyển hướng đến thoát khổ? Thánh đệ tử nơi Khổ tư duy Khổ, nơi Tập, Diệt, Đạo tư duy Đạo; đối với các tà mạng, vô lậu, không thích đắm trước cố thủ, giữ gìn không phạm, không vượt qua thời tiết, không vượt qua giới hạn. Đó là Chánh mạng thuộc về xuất thế gian của bậc Thánh, vô lậu, không thủ, chân chánh đoạn tận khổ, chuyển hướng đến thoát khổ”.

Như vậy, một cách tổng quát, Chánh mạng có hai loại, hữu lậu và vô lậu, hay còn gọi là thế gian và xuất thế gian. Trên bình diện thế gian, thuộc chân lý tương đối, còn gọi là tục đế, mà đức Phật thường khuyên dạy hàng Phật tử tại gia cố gắng hành trì để có cuộc sống an lạc, hạnh phúc trong hiện tại, đồng thời gieo trồng nhân lành để có phước báo tối thắng trong cõi Trời và cõi Người thì, Chánh mạng là những nghề nghiệp chân chánh, lương thiện, đúng chánh pháp, như từ bỏ sát sanh, trộm cướp, tà dâm, nói dối, buôn lậu, môi giới, buôn bán vũ khí, kinh doanh chất gây nghiện…

Đối với người xuất gia, sống bằng hạnh khất thực, phải đúng như pháp để tìm cầu bốn việc: y áo, thức ăn, ngọa cụ và thuốc thang (gọi là tứ sự) trên tinh thần “thiểu dục tri túc”. Trên bình diện xuất thế, thuộc chân lý tuyệt đối, gọi là chân đế, Chánh mạng là cái gì thuộc từ bỏ, từ đoạn, từ khước Tà mạng của bậc Thánh thuần thục trong Thánh đạo; mọi phương tiện sống đều được thực hiện với tâm vô lậu, không vướng mắc vào Tà mạng và cũng không vướng mắc vào Chánh mạng.

3. Tác dụng của Chánh mạng:
Quy luật của sự phát triển và tồn tại buộc con người, cũng như các loài khác, phải đấu tranh, cạnh tranh để sinh tồn. Để bảo tồn đời sống cá nhân và nuôi sống gia đình, con người phải xem công cuộc làm ăn sinh sống là một vấn đề trọng đại và do đó, có một thúc dục cấp bách đẩy con người đi dài theo kiếp sống để thành tựu sự nghiệp. Động lực thúc đẩy đó có thể là để tồn tại được, có thể là để tồn tại sung sướng, hạnh phúc, thỏa mãn mọi nhu cầu của cuộc sống. Xét cho cùng, đó chính là dục vọng. Và do không ý thức được loại dục vọng nào đang thúc đẩy chúng ta đi, thúc đẩy chúng ta hành động, nên chúng ta đã đẩy cuộc sống của bản thân mình cùng với thế giới loài người đi đến chỗ tương tàn, chiến tranh, bất công, bạo động, khủng bố…
Đạo Phật với tuệ giác giải thoát, quán chiếu thấy thực trạng khổ đau, bất công của kiếp sống con người được tạo nên bởi chính những ngành nghề bất chính, không lương thiện nên quyết tâm xây dựng một xã hội lành mạnh, an vui hạnh phúc trên nền tảng Chánh mạng mà mọi người đều có thể thực hiện được, đó là từ bỏ sinh nhai bằng một nghề nghiệp có hại cho kẻ khác, như buôn bán khí giới, chất uống say sưa, độc dược, giết hại súc vật, lừa dối, mại dâm v.v… và nên sống bằng nghề nghiệp đáng kính, vô tội, không có hại cho người và vật.

4 Qua đó, chúng ta thấy đạo Phật phản đối chiến tranh và bạo tàn, cũng không ủng hộ những lối sống sa hoa trác táng như rượu chè, bài bạc, ma túy, mại dâm… Chúng ta thử hình dung một thế giới mà ở đó, con người sống bằng con đường Chánh mạng, thì làm gì có khổ đau, chiến tranh, bất công và tệ nạn xã hội? Chánh mạng đích thực là một bản hiến pháp để xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh và hạnh phúc; là bức thông điệp hòa bình cho thế giới.
Đối với người xuất gia, những Tỳ kheo đã từ bỏ đời sống gia đình, sống không gia đình, không nhà cửa, không tài sản, tất cả những gì người xuất gia có chỉ bao gồm ba y và một bình bát. Họ không phải buôn bán hay làm lụng để sinh sống như người cư sĩ tại gia. Dù vậy họ cũng phải thực hành Chánh mạng trong quá trình khất thực, mà cụ thể là xa lìa những phương tiện mưu sinh tà vạy như đã trình bày ở trên.

Ngày nay, ở những đất nước có truyền thống Phật giáo Đại thừa, người xuất gia không còn phải đi khất thực nữa, mà thậm chí còn tham gia vào xã hội với những ngành nghề cụ thể. Điều đó không có nghĩa là trái với tinh thần giới luật, nhưng một điều mà người xuất gia luôn cân nhắc và ý thức rằng, nghề nghiệp mà mình đang làm có Chánh mạng hay không? Hơn nữa, người xuất gia luôn ý thức, đó chỉ là phương tiện nhằm góp phần xây dựng xã hội, giúp ích cho mọi người, chứ không phải cứu cánh của đời sống xuất gia. Xưa, vua Trần Thánh Tông ở ngôi vị đế vương, lãnh đạo cả đất nước, mà vẫn có thể hành thiền và chứng quả giải thoát. Tuệ Trung Thượng Sỹ cũng vậy. Đó là những tấm gương sáng của đời sống Chánh mạng, hơn nữa là Chánh mạng vô lậu.

4. Kết luận:

Chánh mạng, cũng như Chánh ngữ và Chánh nghiệp, là biểu hiện của nhận thức và tư duy đúng đắn, tức là nhờ có Chánh kiến và Chánh tư duy, chúng ta biết nên sống bằng những ngành nghề nào không gây khổ đau cho bản thân mình, cho tha nhân và muôn loài. Chánh mạng là biểu hiện của đời sống đạo đức, lành mạnh. Xuất phát từ tâm chân thật, từ bi, bình đẳng, người Phật tử biết sống trong sạch, ngay thẳng bằng những ngành nghề chân chính, lương thiện. Người sống bằng nghề nghiệp lương thiện là người có đạo đức. Mà đạo đức thì lúc nào cũng đáng quý, đáng kính.

Tóm lại, Chánh mạng tạo điều hòa trong đời sống xã hội và đem lại an lành hạnh phúc cho từng cá nhân. Nếu người sống Tà mạng, hàng ngày gạt gẫm, giết chóc, hoặc say sưa, trộm cắp và do đó gây xáo trộn cho toàn thể cộng đồng, thì người có Chánh mạng đem lại tình trạng an toàn, hòa hợp cho tất cả mọi người.(Tài liệu Thầy Tùng...?!)
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Bát Chánh Đạo: 5 Chánh Mạng

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 5 23 Tháng 4, 2015 3:02 pm

Bài 4:
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland


Quay về Thiền Nguyên Thủy

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến0 khách

cron