Diễn đàn Tu viện Phật giáo Việt nam


Tam muội da giới

Thảo luận về Kinh điển Mật.

Các điều hành viên: Sen Hong, Bất Nhị

Tam muội da giới

Gửi bàigửi bởi huenhan » Chủ nhật 18 Tháng 3, 2012 5:13 am

Hiện nay có rất nhiều người tu đang muốn và đang và đã tu kim cang thừa thừa và có một số lạm dụng mật thừa làm chuyện bậy bạ .......nên hôm nay tôi post tam muội da lên cho các bạn đọc mong các bạn chưa,đã và đang thực hành kim cang thừa cần hiểu rõ hơn:

Đạo Phật, Đại thừa hay Tiểu thừa, đều lấy giới vô lậu làm nền tảng căn bản và tuệ vô lậu ( tuệ giải thoát) làm mục tiêu cứu cánh.
Ba vô lậu học là giới định tuệ và ba pháp hành là văn tư tu. Nếu tu theo Tiểu thừa thì giới là xuất gia biệt giải thoát giới (gồm giới của năm giới xuất gia: sa di, sa di ni, thích xoa ma na, tỳ kheo và tỳ kheo ni) trong tạng luật , còn định là các pháp luyện tâm do Phật dạy trong các tạng kinh nhằm phát triển giới vô lậu thành bản thể của người tu tập, nhờ đó có thể đối trị các phiền não, thân tâm thanh tịnh rồi theo lời dạy của chư Phật chư tổ có thể kiến lý ngộ tánh thành tựu tuệ giải thoát (tuệ vô lậu), phần tuệ vô lậu này nằm trong luận tạng và một phần trong kinh tạng .
Đại thừa cũng phải nương vào ba vô lậu này nhưng giới vô lậu thì là Bồ tát giới trong tạng luật của Đại thừa, định và tuệ vô lậu thì cũng giống như Tiểu thừa, nằm trong các tạng kinh và luận của Đại thừa .
Kim cang thừa (Mật thừa) là một chi của Đại thừa nặng về phương tiện thiện xảo dùng hạnh và gia trì của chư Phật, Bồ tát để gieo duyên và đưa chúng sanh đến rốt ráo giải thoát, nên cũng phải căn cứ vào ba vô lậu pháp, và vì là một chi của Đại thừa nên căn bản giới vô lậu của Kim cang thừa vẫn là Bồ tát giới và để hộ thủ hành giả Kim cang thừa trên bước tu tập đúng theo bản nguyện Bổn tôn, hành giả Kim cang thừa phải giữ thêm một giới nữa, gọi là Tam muội da giới, nhận lễ quán đảnh đều phải tuyên hứa giữ Tam muội da giới của bộ pháp này, và thành tựu bộ pháp Mật tông là viên mãn cùng cực Tam muội da giới đã thọ nhận, tức là có năng lực trí tuệ công đức giống như chư Phật Bồ tát (Bổn tôn mà mình đang tu trì) và có thể hành thệ nguyện (Tam muội da) giống như các ngài.
Nếu đứt hay bỏ Tam muội da thì dù có quán đảnh tu tập bộ pháp đều không đạt được kết quả gì mà còn có thể lạc vào các năng lực quỷ thần, trở thành tà ma ngoại đạo.

Riêng về Tam muội da giới của bộ Tối thượng du già mật (chỉ truyền ở Tây tạng) mà bổn tôn ở trung ương đàn thường biểu tượng bằng hình song thân nam nữ có những Tam muội da nghĩa đen có tính cách tính dục, để giữ tinh thần chính xác, chúng tôi xin phiên dịch đúng nguyên văn. Xin các bạn tham khảo không nên thiên kiến, nếu muốn hiểu đúng tinh thần (nghĩa xác thực) nên tham khảo và học hỏi từ những đạo sư Tây tạng có thẩm quyền, hầu có thể giữ đúng Tam muội da, tu tập đúng pháp, lợi lạc chúng sanh, thành tựu giải thoát.
còn về phần Đại thừa là lấy tánh không làm nền tảng. Diễn bài cảnh giới bất khả tư nghì. Chỉ rõ chơn tâm của tất cả chúng sanh điều có phật tánh và điều thành phật.

Đó là con đường của nhân thừa. Tất cả mọi người điều sẽ thành phật. Còn Kim Cang Thừa lấy trí tuệ làm nền tảng, phương tiện làm cứu cánh. Diệt trừ tất cả các vô minh bằng phương tiện bí mật. Lấy giới luật làm tôn chỉ dùng thần chú, ấn khế làm phương tiện tịnh hóa các nghiệp chướng từ vô minh diệt trừ tham, sân, si làm thanh tịnh 3 nghiệp than, khẩu, ý. Đưa hành giả hòa nhập vào bổn tôn. Đó là con đường của Quả Thừa. Như vậy Đại Thừa chính là nhân còn Kim Cang Thừa là Quả. Còn trí tuệ bát nhã chỉ là một phần của Đại Thừa và Kim Cang Thừa.
qua đó các bạn cần thấy tam muội da giới rất quan trọng đối với một hành giả mật tông,sau khi đọc xong tam muội da giới mong các bạn hiểu hơn và thực hành tinh tấm hơn,chúc các bạn thân tâm an lạc
Sau đây là tam muội da :


TAM MUỘI DA GIỚI (THỆ NGUYỆN VÀ GIỚI)

A/ BỒ TÁT GIỚI NGUYỆN:

I/ BỒ TÁT NGUYỆN GIỚI CĂN BỔN TỘI:

1/ Khen mình chê người
2/ Không bố thí pháp hay tài vật
3/ Không chấp nhận sự sám hối của kẻ khác
4/ Bỏ pháp Đại thừa
5/ Trộm của Tam bảo
6/ Bỏ Phật pháp
7/ Đoạt tăng y
8/ Phạm ngũ vô gián tội (giết cha, giết mẹ, giết a la hán, phá hòa hợp tăng, làm thân Phật chảy máu)
9/ Chấp thủ tà kiến (đoạn, thường, không nhân quả, v.v...)
10/ Hủy diệt chỗ ở (thí dụ: thành phố, nhà cửa, v.v...)
11/ Giảng tánh Không cho người chưa xứng đáng
12/ Khiến người khác bỏ Đại thừa
13/ Khiến người khác phạm giới (bỏ giới)
14/ Coi khinh Tiểu thừa
15/ Thuyết sai về chơn không
16/ Nhận tài sản trộm từ Tam bảo
17/ Chế ác giới
18/ Từ bỏ Bồ đề tâm (nguyện thành Phật độ chúng sanh)

http://www.thegioivohinh.com/diendan/sh ... hp?t=19873
NGOÀI CÂU PHẬT HIỆU RA TRONG TÂM KHÔNG CÒN NIỆM NÀO KHÁC
huenhan
Cảm ơn, Thành viên Moderator (Xin thông báo BQT)
 
Bài viết: 279
Ngày tham gia: Thứ 2 30 Tháng 11, 2009 3:23 am

Re: Tam muội da giới

Gửi bàigửi bởi huenhan » Chủ nhật 18 Tháng 3, 2012 5:24 am

II/ BỒ TÁT NGUYỆN GIỚI (PHỤ):

a/ Vi phạm chướng ngại Bố thí ba la mật:

1/ Không cúng dường Tam bảo mỗi ngày (thắp nhang, thay nước, ...)
2/ Dễ duôi luyến ái trong các dục thế gian (ngũ dục, v.v...)
3/ Không kính trọng những kẻ đã thọ Bồ tát giới trước mình
4/ Không trả lời người hỏi
5/ Không nhận sự thỉnh mời
6/ Không nhận quà biếu
7/ Không bố thí pháp cho người mong cầu

b/ Các vi phạm chướng ngại Trì giới ba la mật:

8/ Bỏ rơi kẻ đứt giới
9/ Không làm các pháp khiến kẻ khác phát tín tâm
10/ Hành lợi tha quá ít
11/ Không tin hạnh từ bi của chư Bồ tát là thanh tịnh
12/ Tà nghiệp để chiếm hữu tài sản và danh vọng
13/ Dễ duôi trong các việc vô ích
14/ Nói rằng Bồ tát chẳng cần rời (bỏ) luân hồi
15/ Không tránh tai tiếng
16/ Không giúp tha nhân tránh ác nghiệp

c/ Các vi phạm chướng ngại Nhẫn nhục ba la mật:

17/ Trả thù, làm hại hay phỉ báng
18/ Không sám hối khi có cơ hội
19/ Không chấp nhận sự sám hối của kẻ khác
20/ Không cố khắc phục sân hận

d/ Vi phạm làm chướng ngại Tinh tiến ba la mật:

21/ Vì tham cầu lợi dưỡng hay kính trọng mà nhận vòng hoa
22/ Không cố vượt qua sự giải đãi
23/ Dễ duôi thích thú trong sự trò chuyện nhãm nhí

e/ Vi phạm làm chướng ngại Thiền định ba la mật:

24/ Không để tâm (xao lãng) tu tập thiền định
25/ Không khắc phục những chướng ngại lúc tu định
26/ Bị định kiến trước về những trạng thái thiền định

2 f/ Vi phạm làm chướng ngại Trí huệ ba la mật:

27/ Bỏ pháp Tiểu thừa
28/ Nghiên cứu Tiểu thừa làm tổn hại đến việc tu Đại thừa
29/ Học các pháp không phải là Phật pháp mà không có lý do chính đáng (tốt)
30/ Tự mình mê say trong các pháp không phải là Phật pháp lấy đó làm chủ yếu
31/ Chỉ trích các hệ Đại thừa khác
32/ Khen mình chê người
33/ Không cố học pháp
34/ Thích nương tựa và kinh luận sách vỡ hơn là nương tựa vào vị đạo sư của mình

Phần trên là các vi phạm làm chướng ngại giới đức tự lợi và lợi tha.

g/ Các vi phạm làm chướng ngại giới đức lợi tha:

35/ Không giúp đỡ những người cần giúp đỡ
36/ Thờ ơ chăm sóc bệnh nhân
37/ Không hành hạnh diệt khổ
38/ Không giúp tha nhân khắc phục những thói đức xấu
39/ Không giúp lại những kẻ làm lợi ta
40/ Không làm dịu (an ủi) sự đau buồn của tha nhân
41/ Không cho người cần bố thí
42/ Không cẩn trọng giữ giới
43/ Không làm theo khuynh hướng tha nhân (tùy thuận chúng sanh)
44/ Không tán thán đức hạnh kẻ khác
45/ Không tác hạnh phẫn nộ khi thích ứng
46/ Không sử dụng thần thông, hạnh đoe dọa, v.v...

III/ TÁM GIỚI ĐỂ TRỤ BỒ ĐỀ TÂM:

1/ Phải nhớ (niệm) lợi ích của Bồ đề tâm mỗi ngày sáu thời
2/ Phải phát Bồ đề tâm mỗi ngày sáu thời
3 3/ Không được bỏ chúng sanh
4/ Phải tu tập phước trí
5/ Đừng lừa dối vị giáo thọ hay đạo sư
6/ Đừng làm kẻ khác hối tiếc về thiện nghiệp của họ
7/ Đừng chỉ trích kẻ đã vào Đại thừa
8/ Đừng giả vờ đạo đức hay giấu lỗi nếu không vì ý tốt đặc biệt
NGOÀI CÂU PHẬT HIỆU RA TRONG TÂM KHÔNG CÒN NIỆM NÀO KHÁC
huenhan
Cảm ơn, Thành viên Moderator (Xin thông báo BQT)
 
Bài viết: 279
Ngày tham gia: Thứ 2 30 Tháng 11, 2009 3:23 am

Re: Tam muội da giới

Gửi bàigửi bởi huenhan » Chủ nhật 18 Tháng 3, 2012 6:57 am

19- Tỷ-kheo phá Giới, phải trải qua trăm ngàn vạn kiếp cắt da thịt để trả nợ cho thí chủ; sau đó, phải đọa làm thân trâu ngựa để kéo nặng chở nhiều.

20- Phá Giới mà còn ở trong chúng Tăng, dù ăn một miếng cơm cũng không thể tiêu được, và mảnh đất Già -lam không dung chứa một bước chân của kẻ ấy.

21- Phá Giới là hủy hoại tất cả các thiện pháp của mình, như cơn mưa đá phá hoại tất cả mọi vật.

22- Người phá Giới, không được mười phương chư Phật hộ niệm. Tỷ-kheo phá Giới thì không nằm trong hàng ngũ của Tăng, mà là Đệ tử của Ma.

23- Là Tỷ-kheo mà còn chú ý lắng nghe tiếng vòng xuyến của người nữ là phá Giới, làm ô-uế phạm hạnh.

24- Là Tỷ-kheo thì không được đến năm trú xứ: Thứ nhất, nhà mại dâm; thứ hai, nhà có gái chưa chồng; thứ ba, nhà có quả phụ không đứng đắn; thứ tư, nhà có bán rượu bia; thứ năm, nhà kẻ trộm cướp. Nếu đến là phạm trọng tội.

25- Ăn thịt cá là đánh mất Tín căn, đánh mất tâm Từ bi, đoạn tuyệt hạt giống Hiền Thánh, cắt đứt Pháp luân của đức Phật. Tất cả mọi việc bất thiện đều phát xuất từ việc ăn mặn. Là Đệ tử của đức Phật thì không nên khởi lên một tư tưởng ăn thịt cá, huống gì là trực tiếp ăn nhậu.

26- Bồ-Tát Hoa Tụ dạy rằng, Tôi có thể cứu giúp những kẻ tạo tội Ngũ nghịch, Tứ trọng; nhưng, những kẻ trộm cắp tài sản của Tăng thì Tôi đành chịu.

27- Tất cả tai họa đều phát xuất từ Miệng, hãy bảo vệ cái Miệng cẩn thận còn hơn là bảo vệ ngọn Lửa dữ.

28- Tỷ-kheo hủy báng Kinh Pháp, hủy báng Kinh Giới là đọa Địa Ngục.

29- Phá Mười Giới mà không tàm quý sám hối là đồng tội với Ba-la-di. Vì hủy hoại tất cả quả vị Tam Hiền, Thập Thánh, Đẳng Giác, Diệu Giác. Bởi lẽ, Mười Giới là Giới hạnh căn bản của hết thảy chư Phật, chư vị Bồ-Tát.

30- Giai đoạn Phật pháp sắp diệt thì Ma giả dạng Tỷ-kheo để hủy hoại Đạo pháp, hủy báng Hiền Thánh, chẳng giữ Giới Cấm, chẳng tụng Kinh, chẳng làm việc thiện; trái lại, siêng làm những việc ác độc, tà đạo. Những Tỷ-kheo Ma này, khi chết bị đọa vào Địa Ngục Vô gián, trải qua vô số kiếp, đến thời điểm được làm người thì sanh vào vùng biên địa chẳng có Tam Bảo.

31- Phạm tội tà dâm, khi chết đọa vào Địa Ngục để nằm giường sắt nóng, ôm trụ đồng cháy đỏ, ra khỏi Địa Ngục lại đọa làm Súc Sanh.

32- Tỷ-kheo nhận vật bố thí không đúng Pháp, sẽ gặp tai họa trong tu tập, như giải đãi, phóng túng, chẳng làm việc thiện. Về người bố thí không đúng Pháp thì sẽ bị đọa vào Ba đường ác.

33- Người xuất gia có bốn phiền não vi tế để đọa vào Địa Ngục. Đó là: Thứ nhất, thấy kẻ khác được lợi lộc khởi tâm tật đố; thứ hai, được học Kinh, Luật mà lại hủy phạm; thứ ba, sống trái với lời đức Phật dạy, che giấu tội lỗi không sám hối; thứ tư, biết mình phạm Giới mà vẫn nhận sự cúng dường.

34- Đời Mạt Pháp có những kẻ ngu lạm mặc Pháp phục giống như Tỷ-kheo, do mặc Pháp phục mà được kính trọng, cúng dường nên rất vui mừng. Nhưng khi chết phải bị đọa vào đại Địa Ngục Cực nóng, bị hành hình bởi dụng cụ cực nóng, như mặc áo sắt cực nóng, ăn viên sắt cực nóng v.v…

35- Vọng ngữ là cội gốc của hết thảy tội ác.

36- Giới Luật là thuyền bè để sang sông, phá Giới là hủy hoại thuyền bè tất phải chết đuối.

NGƯỜI đã thọ giới phải giữ giới, dầu cho mất thân mạng cũng không nên phá giới. Tại sao? Giới là nền tảng của người tu Đạo, là một lối đi vững chắc qua Trời Người lên cõi Phật, là một bí pháp hết lậu nghiệp, là con đường thẳng vào thành Niết Bàn, là chốn an lạc giải thoát đời đời.

Người giữ giới được thanh tịnh, công đức ấy vô lượng vô biên; ví như biển lớn, sâu không đáy, rộng không bờ, thâu nạp muôn loài, như A Tu La Ma Kiệt ngư, cùng tất cả các loài thủy tộc.

Giới cũng như thế, thâu nạp những người tam thừa, sinh trưởng ở đó.

Biển lớn kia có rất nhiều vàng, bạc, ngọc lưu ly, pha lê, xà cừ, mã não, san hô, hổ phách.

Nhân có giới mới sinh ra các pháp lành; bốn phi thường, ba mươi bảy phẩm trợ đạo, thiền, tam muội, giải thoát, giải thoát tri kiến v.v…

Bể lớn kia đáy bằng ngọc kim cương, chung quanh bằng núi kim cương, có bốn sông lớn chảy vào luôn luôn, mà nước bể vẫn không đầy vơi.

Biển giới cũng thế, lấy giới làm đáy, lấy luận làm núi vây quanh, bốn A hàm làm sông, muôn dòng nước chảy vào trong bằng phẳng không thêm bớt.

Tại sao các sông vẫn chảy vào biển, mà nứơc biển vẫn không đầy? Vì sức lửa ở ngục A Tỳ bốc lên, nên nước biển vẫn không đầy, các sông thường chảy ra biển, nên nước biển không bao giờ vơi.

Biển giới của Phật Pháp cũng thế, không phóng dật tham lam cảnh dục nên không tăng, đủ công đức nên không giảm. Như thế biết rằng giữ giới là một công đức lớn lao.

Sau thời Phật vào Niết Bàn, nước An Đà có một vị Tỷ Khưu, tu hạnh Đầu Đà thích ở nơi vắng vẻ, oai nghi đầy đủ, giới đức hoàn toàn.

Khi Phật còn tại thế, Ngài thường khen các vị tu hành Đầu Đà!

Những vị Tỷ Khưu tu hạnh Đầu Đà không hay ở chung với Tăng chúng; vì những vị ấy ít lòng dục, tri túc, không bỏn xẻn tham lam tích trữ, thường ngày đi xin ăn ngồi trơ trên mặt đất, không nhà không cửa, ngày chỉ một bữa ăn, với một tấm áo là đủ, lại chăm tọa thiền tụng kinh. Những người như thế rất đáng tôn trọng, mới xưng đáng ngôi Pháp Vương Tử.

Trái lại những vị Tăng không có một trong đức hạnh nói trên, phần nhiều chỉ đa dục, lòng tham không biết chán, súc tích tiền của, tham lam tật đố, ghen ghét đầy lòng si ái mê muội, bởi thế cho nên mất công đức lớn, khiến cho người dân chán ghét, có khi còn làm cho người ta phỉ báng Tam Bảo là khác.

Vị Tỷ Khưu nói trên đức hạnh thuận hòa, có đủ lục thông, tam minh và tám phép giải thoát oai nghi đĩnh đạc, tiếng khen vang dội muôn phương, đáng làm một vị Sa Môn.

Bấy giờ có một người Ưu Bà Tắc tin kính ngôi Tam Bảo, giữ năm điều răn cẩn thận, lại chăm bố thí tu đức, được nhiều người khen ngợi Ưu Bà Tắc nguyện chung thân cúng dàng vị Tỷ Khưu nói trên.

Phúc cúng dàng theo nhân hưởng quả: Nếu thỉnh Tăng đến nhà cúng dàng các vị phải đi đường xa, hoặc nóng, lạnh, gió, giá, rét, bị mỏi mệt xảy ra thì làm phế bỏ sự hành đạo của chư Tăng. Người thí chủ sau có được hưởng quả báo tốt lành nhưng phải mệt nhọc, còn các vị đi ngoài đường khất thực thì không kể, mới có thể được, phúc báo ấy thì hơn, còn những vị tại chùa mình mang thức ăn lại nơi cúng dàng thì lai sinh được hưởng phúc báo tự nhiên, không khó nhọc mà vật chất tự nhiên đầy đủ tùy ý muốn.
NGOÀI CÂU PHẬT HIỆU RA TRONG TÂM KHÔNG CÒN NIỆM NÀO KHÁC
huenhan
Cảm ơn, Thành viên Moderator (Xin thông báo BQT)
 
Bài viết: 279
Ngày tham gia: Thứ 2 30 Tháng 11, 2009 3:23 am

Re: Tam muội da giới

Gửi bàigửi bởi huenhan » Chủ nhật 18 Tháng 3, 2012 7:22 am

Án Ma Ni Bát Di Hồng

( OM MANI PADME HUM)

Tam Tạng Pháp Sư Tuyên Hóa Thượng Nhân giảng vào năm 1971

 

Nếu quý vị có thể thường xuyên trì tụng Chú Lục Tự Đại Minh thì sẽ chiêu cảm được sáu đạo ánh sáng có công năng biến đổi sự tối tăm của sáu nẻo luân hồi trở nên sáng lạn.

 

Sáu chữ nầy gọi là “Chú Lục Tự Đại Minh”, mỗi chữ đều có thể phóng ra một luồng ánh sáng.

Mật tông chuyên nghiên cứu về lời và ý nghĩa của thần chú. Phật giáo phân thành năm tông phái là: Thiền tông, Giáo tông, Luật tông, Mật tông và Tịnh Độ tông. Thiền tông chuyên về tham thiền tĩnh tọa; Giáo tông chuyên về giảng kinh thuyết pháp; Luật tông thì tu trì, nghiêm tịnh giới luật, làm mô phạm trong ba cõi. Về Mật tông, thì “mật” là bí mật, là “không biết lẫn nhau” (hỗ bất tương tri). Tịnh Độ tông thì chuyên trì danh hiệu, niệm sáu chữ hồng danh “Nam Mô A Di Đà Phật”.

Trong năm tông phái nầy, có người cho rằng Thiền tông là hơn hết; có người lại cho Giáo tông hay nhất; lại có người cho Luật tông là đứng đầu; người tu theo Mật tông thì nói Mật tông của mình là cao siêu nhất; người tu theo pháp môn Tịnh Độ thì nói pháp môn Tịnh Độ là số một, không gì sánh bằng. Trên thực tế, các pháp đều bình đẳng, không có cao thấp—“thị pháp bình đẳng, vô hữu cao hạ”. Cho rằng một pháp nào đó tối thắng, chẳng qua chỉ là cái thấy của cá nhân, mình thích tông nào thì cho tông đó là nhất.

Bây giờ chúng ta đang nói về Mật tông. Theo cách hiểu thông thường của mọi người thì Mật tông là Lạt Ma giáo. Kỳ thực, Mật tông không phải là cái gì bí mật. Trong Hiển giáo thì Hiển-Mật viên thông—trong Hiển giáo cũng có Mật giáo; như Chú Đại Bi, Chú Lục Tự Đại Minh đều là “mật” cả. Chú Lăng Nghiêm lại càng “mật” hơn nữa. Nên nói “mật” chính là, không biết lẫn nhau.

Người không hiểu thì cho rằng cái gì bí mật mới tốt nhất, vì nó không được truyền bá công khai. Có một số người không hiểu Phật Pháp, lại càng làm ra vẻ thần bí, bảo: “Cái nầy không thể giảng cho ông nghe được. Mật tông của tôi ấy à, không thể giảng cho ông nghe được đâu!” Quý vị không thể giảng cho người khác nghe, thì tại sao quý vị lại đề cập đến nó chứ? Tại sao quý vị lại nói: “Tôi không thể giảng cho ông nghe”? Nếu thật sự là Mật tông thì phải không nói gì cả mới đúng, tại sao quý vị còn nói: “Tôi không thể giảng cho ông nghe”? Quý vị nói rằng mình không thể giảng, song, như thế có phải là quý vị đã giảng rồi không? Đó chính là quý vị đã giảng rồi đấy! Thế tại sao còn nói là không thể giảng được? Là vì không hiểu rõ Phật Pháp, căn bản không hiểu được cái gì gọi là “Mật Tông”!

Bây giờ tôi sẽ nói cho quý vị nghe về Mật tông. Lời chú, thật ra không có gì bí mật cả. Sở dĩ được gọi là Mật tông, vì khi quý vị trì tụng lời chú, bản thân quý vị sẽ nhận được sự linh cảm mà tôi không thể biết được; khi tôi trì tụng lời chú, thì bản thân tôi sẽ có được sự linh cảm mà quý vị không thể biết được. Vì chúng ta không thể biết được công năng và sức mạnh của lời chú đối với mỗi người, cho nên gọi là Mật tông; chứ bản thân bài chú tuyệt đối không phải là Mật tông. Chính năng lực của chú mới là “mật”. Đó là ý nghĩa của Mật tông vậy.

Nếu lời chú là bí mật, thì quý vị không nên truyền cho người khác; một khi quý vị đem truyền cho người khác thì nó không còn là bí mật nữa. Cũng thế, Lục Tổ và Huệ Minh có một đoạn đối đáp như sau:

Huệ Minh hỏi: “Ngoài mật ngữ mật ý Ngài vừa giảng, còn mật ý nào nữa chăng?”

Lục Tổ đáp: “"Ðiều tôi nói với ông đó chẳng phải là mật. Nếu ông phản chiếu, thì mật ấy ở ngay nơi ông."

Quý vị thấy không, đoạn đối đáp trên đã nói rất rõ ràng: Điều mà quý vị có thể nói ra thì chẳng còn là bí mật nữa. Những gì có thể trao truyền cho quý vị cũng giống như thế. Nếu là bí mật thì không nên truyền. Sự bí mật vốn ở ngay nơi quý vị, sát bên cạnh quý vị. Đây mới chính là cái được gọi là bí mật.

Tôi tin rằng ngay cả các Pháp sư của Mật tông cũng không biết cách giải thích về “mật tông” như thế nào; họ chỉ cho rằng bài chú là bí mật. Nhưng bài chú nào cũng đều có thể trao truyền cho mọi người, lời chú nào cũng đều có thể nói ra; không có bài chú nào là không thể nói ra cả! Nếu không được nói ra thì họ sẽ không có cách nào để truyền cho quý vị, có đúng vậy không nào? Chúng ta giảng chân lý nầy là vì nó có thể được truyền đạt cho quý vị, không phải là bí mật—đây không phải là Mật tông!

“Mật,” thì không có cách gì để truyền đạt. Điều bí mật chính là năng lực của bài chú. Không ai có thể nói cho quý vị biết chú nầy có năng lực gì, hoặc quý vị trì tụng thì sẽ như thế nào, như thế nào; mà “như người uống nước, nóng lạnh tự biết”—chỉ có quý vị tự mình biết mình mà thôi, người khác không thể nào biết được, do đó gọi là “mật”. Năng lực là bí mật, sự cảm ứng là bí mật, diệu dụng là bí mật, chứ không phải bài chú là bí mật! Bây giờ quý vị đều hiểu rõ rồi chứ?

Những người không hiểu rõ Phật Pháp ắt hẳn cho rằng tôi giảng không đúng. Cho dù là không đúng, tôi cũng vẫn muốn nói như vậy. Quý vị cho là tôi đúng ư? Quý vị không thể nào nói như vậy được! Bởi vì quý vị vốn hoàn toàn không hiểu gì cả, thì làm thế nào quý vị biết được là tôi hiểu!!! Tôi thì càng không hiểu gì cả; tôi còn hồ đồ hơn nữa! Có điều, trước kia sư phụ tôi đã chỉ dạy cho tôi rất rõ ràng, cho nên mới biến đổi kẻ hồ đồ này thành một người biết giảng Chú Lục Tự Đại Minh của Mật tông!

Mật tông được chia thành năm bộ—Đông, Tây , Nam , Bắc, và Trung ương. Phương Đông là bộ Kim Cang, chuyên hộ trì chánh pháp; bộ Bảo Sanh ở phương Nam; bộ Liên Hoa ở phương Tây; bộ Yết Ma ở phương Bắc và bộ Phật ở chính giữa. Nếu có thời gian quý vị hãy nghiên cứu Chú Lăng Nghiêm, trong đó có giảng về năm bộ này một cách tường tận.

Trên thế gian, nếu có một người trì niệm Chú Lăng Nghiêm thì ma vương không dám xuất hiện; nếu không có người biết trì niệm Chú Lăng Nghiêm thì ma vương trong ba ngàn đại thiên thế giới sẽ lũ lượt kéo đến thế gian. Tại sao ư? Vì không có người quản thúc chúng, năm bộ đều không hoạt động, cho nên ma vương mới dám xâm nhập thế gian. Bởi nếu có một người biết tụng Chú Lăng Nghiêm thì ma vương sẽ không dám xuất hiện, cho nên chúng tôi mong muốn có thêm nhiều người trì tụng Chú Lăng Nghiêm. Trong khoá tu học hè đầu tiên của chúng ta, trước hết, tôi đã khảo hạch xem ai có khả năng học thuộc Chú Lăng Nghiêm. Kết quả là có hai người đạt tiêu chuẩn, sau đó lại có thêm rất nhiều người có thể tụng chú được. Bây giờ tôi sẽ giảng về Chú Lục Tự Đại Minh.

Đầu tiên là chữ “Án”. Khi quý vị tụng chữ “Án” nầy, tất cả quỷ thần đều phải chắp tay lại. Vì sao phải chắp tay lại? Đó là giữ gìn pháp tắc, tuân theo khuôn phép. Quý vị tụng một chữ nầy, thì tất cả quỷ thần đều không dám gây rối, không dám không tuân theo mệnh lệnh. Chữ nầy có nghĩa là “tiếng dẫn” (dẫn thanh), là tiếng mở đầu dẫn tới những lời chú tiếp theo, cho nên khi đọc chú, đầu tiên đều đọc chữ nầy.

“Ma Ni” chính là “mâu ni”. “Mâu ni” là tiếng Phạn, dịch là “trí tịch,” tức là dùng trí huệ để làm sáng tỏ tất cả các đạo lý, và do đó đạt đến trạng thái tịch diệt vô sanh. Lại có thể dịch là “ly cấu,” nghĩa là rời xa tất cả bụi bặm dơ bẩn, ví như viên ngọc “như ý,” rất toàn hảo, không có chút tỳ vết. Viên bảo châu “như ý” nầy có công năng sanh trưởng tất cả công đức, có thể đáp ứng mọi sở nguyện của con người.

“Bát Di” vốn nên đọc là “Bát Đặc Di,” dịch là “quang minh viên giác”; cũng dịch là “liên hoa khai,” tức là diệu tâm của Bồ tát Quán Thế Âm, diệu tâm ấy viên mãn đầy đủ, vô ngại. Đó là chữ “bát di.”

Chữ “Hồng” có nghĩa là “xuất sanh” —tất cả mọi thứ đều có thể được sanh ra từ chữ “Hồng” nầy. Lại có nghĩa là “ủng hộ” —niệm chữ nầy thì liền cảm ứng chư hộ pháp thiện thần đến trợ giúp, che chở cho quý vị. Lại còn có nghĩa là “tiêu tai” —quý vị có tai nạn gì, tụng chữ nầy liền được tai qua nạn khỏi. Lại cũng có nghĩa là “thành tựu” —bất luận quý vị cầu nguyện điều gì, đều có thể được thành tựu như ý.

Một khi quý vị niệm Chú Lục Tự Đại Minh, thì sẽ có vô lượng chư Phật, vô lượng Bồ tát và vô số hộ pháp Kim Cang thường xuyên đến ủng hộ quý vị. Cho nên, Bồ tát Quán Thế Âm sau khi nói xong Chú Lục Tự Đại Minh nầy, liền có bảy ức đức Phật đến vây quanh, ủng hộ. Năng lực và diệu dụng của Chú Lục Tự Đại Minh không thể nghĩ bàn, sự cảm ứng đạo giao cũng không thể nghĩ bàn. Do vậy nên gọi là Mật tông. Nếu giảng chi tiết hơn thì ý nghĩa nhiều đến vô lượng vô biên, không thể nào nói cho hết được; thế nên tối nay tôi chỉ giảng sơ lược cho đại chúng nghe mà thôi.

Tôi có thể cho quý vị biết một chút về thứ thần lực bí mật không thể nói ra được. Tại sao tôi bảo là “thần lực bí mật không thể nói ra được”? Bởi vì những điều tôi nói thì chưa được một phần vạn của sự việc. Thế là thế nào? Nếu quý vị có thể thường xuyên trì tụng Chú Lục Tự Đại Minh thì sẽ chiêu cảm được sáu đạo ánh sáng có công năng biến đổi sự tối tăm u ám của sáu nẻo luân hồi trở nên sáng lạn. Điều cần thiết là quý vị phải chuyên tâm trì tụng mới có thể đạt được thứ Tam-muội này. Bấy giờ, ánh sáng không chỉ chiếu khắp trong sáu nẻo luân hồi, mà cả mười Pháp giới cũng biến thành “quang minh tạng”. Tôi hy vọng mọi người dù bận rộn đến đâu cũng nên nhín chút thì giờ để trì tụng Chú Lục Tự Đại Minh nầy.
__________________
Vạn ác dâm vi thủ , vạn thiện hiếu vi tiên .
Lấy giới làm thầy , lấy khổ làm thầy .
NGOÀI CÂU PHẬT HIỆU RA TRONG TÂM KHÔNG CÒN NIỆM NÀO KHÁC
huenhan
Cảm ơn, Thành viên Moderator (Xin thông báo BQT)
 
Bài viết: 279
Ngày tham gia: Thứ 2 30 Tháng 11, 2009 3:23 am


Quay về Chuyên đề Mật tông

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến0 khách

cron