Diễn đàn Tu viện Phật giáo Việt nam


Biên Niên Tự Thuật của Thiền Sư Hư Vân

Mời Quý Vị thảo luận về Lịch sử Phật Giáo Việt Nam và thế giới

Các điều hành viên: Sen Hong, Bất Nhị, TUỆ LÂM

Biên Niên Tự Thuật của Thiền Sư Hư Vân

Gửi bàigửi bởi gioidinhhue » Thứ 3 30 Tháng 11, 2010 12:45 am

Hình ảnh

Tên tục của tôi là Trai. Dòng họ xuất thân từ Lan Lăng là hậu duệ của vua Lương Võ Đế. Gia tộc cư ngụ tại tỉnh Hồ Nam, huyện Tương Lương. Cha tên Ngọc Đường, mẹ tên Nhan Thị. Năm đầu đời nhà Thanh, cha làm quan tại tỉnh Phú Kiến. Năm mậu tuất và kỷ hợi làm quan tại châu Vĩnh Xuân.

Cha mẹ đã ngoài bốn mươi mà chưa có mụn con. Mẹ ra ngoài thành nơi chùa Quán Âm mà cầu tự. Bà thấy nóc chùa bị tàn phá hư hoại, lại thấy cầu Đông Quan nơi thành không ai sửa chữa nên phát nguyện trùng hưng kiến lập lại. Đêm nọ, cả cha lẫn mẹ đều nằm mơ thấy một vị mặc áo xanh, tóc dài, trên đỉnh đầu có tượng Bồ Tát Quán Thế Ấm, cưỡi hổ mà đến, nhảy lên trên giường. Mẹ kinh sợ, giật mình thức dậy, liền thọ thai. Cuối năm đó cha đi nhậm chức tại phủ Nguyên Châu.

Đời nhà Thanh, niên hiệu Đạo Quang năm thứ 20, 1 tuổi. (1840/41)

Tháng bảy ngày hai mươi, giờ dần, tôi ra đời tại phủ Tuyền Châu. Lúc ấy thân được bao bọc bởi một bọc thịt. Mẹ thấy vậy, kinh hãi vô cùng, nghĩ từ đây về sau chắc sẽ không còn hy vọng sanh con được nữa, nên buồn uất khí mà chết. Hôm sau, có ông lão bán thuốc đến cắt bọc thịt, bồng tôi ra. Kể từ đó được bà kế mẫu, Vương Thị, chăm sóc nuôi nấng.

(Đại sự trong năm: Chiến tranh nha phiến bùng nổ. Đề Đốc Tùng Đáo Từ cấm nha phiến. Đốt cháy kho nha phiến của người Anh. Nước Anh đem quân vào Quảng Đông)

Đời nhà Thanh, niên hiệu Đạo Quang năm thứ hai 22, 3 tuổi. (1842/43)

(Đại sự trong năm: Hòa ước Giang Kinh, mở năm cửa khẩu để thông thương cùng nước ngoài. Cắt Hồng Kông cho nước Anh.)

Đời nhà Thanh, niên hiệu Đạo Quang năm thứ 30, 11 tuổi. (1850/51)

Cha trở về Tuyền Châu. Được chú nhận làm con nuôi, nên bà nội, Châu Thị, định cưới hai cô vợ cho tôi, tức Điền Thị, và Đàm Thị. Cả hai đều là người tỉnh Hồ Nam, dòng dõi quan liêu tại Phúc Kiến, đời đời đã từng làm bạn thông giao với dòng họ tôi.

Đông năm ấy bà nội tôi qua đời. Cha thọ tang.

(Đại sự trong năm: Hồng Tú Toàn khởi nghĩa tại Kim Điền)

Hàm Phong nguyên niên, 12 tuổi. (1851/52)

Tháng hai, tôi cùng cha đi Đài Loan. Lên thuyền nhỏ ra biển, từ cửa Hạ Môn xuất phát. Lúc đang lênh đênh trên biển cả, bỗng đâu hiện ra một quái vật, lớn như núi, cao hơn mặt biển cả vài chục thước. Tất cả người trên thuyền thảy đều niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Ấm. Thuyền chạy khoảng nửa giờ sau thì thấy đuôi cá khổng lồ, dài không biết cả mấy trăm thước.

(Đại sự trong năm: Hồng Tú Toàn vây hãm Vĩnh An, xưng Thái Bình Thiên Quốc Thiên Vương)

Hàm Phong năm thứ 2, 13 tuổi. (1852/53)

Tôi theo cha đưa linh cữu bà nội trở về huyện Tương Lương an táng. Thỉnh chư tăng đến nhà làm Phật sự. Được thấy pháp khí Tam Bảo, tâm sanh vui mừng. Tạng sách trong nhà có kinh Phật. Lúc đầu xem truyện Hương Sơn, sự tích thành đạo của Bồ Tát Quán Thế Ấm, liền thâm nhiễm vào tâm. Tháng tám, theo chú đi Bồ Đường, hành hương ở Nam Ngạc. Đi lễ khắp các chùa, dường như có duyên xưa nên không muốn trở về nhà. Nhưng vì chú quá nghiêm nghị, nên không dám nói.

Hàm Phong năm thứ 3, 14 tuổi. (1853/54)

Cha biết tôi có chí xuất trần nên muốn dùng lợi lạc thế gian mà lưu giữ ở lại, bằng cách mời một vị tiên thiên đại đạo, Vương tiên sinh, đến dạy cách tu hành tại nhà. Vị này dạy đọc các sách đạo lão cùng luyện nội ngoại khí công. Tuy tâm tôi không muốn học, nhưng lại không dám nói. Mùa đông, cha giải tang bà nội xong, giao tôi cho chú dạy dỗ, coi sóc, rồi một mình đi Phúc Kiến để nhận chức tại Hạ Môn.

(Đại sự trong năm: Hồng Tú Toàn đóng đô tại Nam Kinh. Tăng Quốc Phiên làm tướng quân.)

Hàm Phong năm thứ 6, 17 tuổi. (1856/57)

Tôi học sách đạo giáo tại nhà trong ba năm, chịu nhẫn hết sức, như ngồi trên bàn đinh. Lại giả vờ làm cho chú vui, nên giúp việc nấu nướng trong nhà, nhưng rất biếng nhác. Ngày nọ, thừa lúc chú đi ra ngoài, tôi nghĩ thời điểm rời nhà đã đến nên xách bị trốn đi Nam Ngạc. Có rất nhiều đường lớn nhỏ, khó đi. Giữa đường, bị người nhà bắt đưa trở về Tuyền Châu. Cùng đi có người em họ tên là Phú Quốc. Chẳng bao lâu, cha cho tiếp rước hai cô họ Điền và Đàm để cử hành hôn lễ. Thế là tôi bị cấm cố tại nhà. Tuy cùng hai cô vợ ở chung nhà nhưng không nhiễm tình dục. Tôi giảng Phật Pháp cho hai cô vợ nghe. Họ cũng hiểu rõ. Thấy người em họ Phú Quốc cũng có chí xuất tục nên đồng học Phật pháp. Nơi phòng riêng hay nhà khách, chúng tôi đều là bạn đạo thanh tịnh.

Hàm Phong năm thứ 8, 19 tuổi. (1858/59)

Tôi quyết chí ly tục. Phú Quốc cũng đồng chung chí hướng. Chúng tôi bí mật xem lộ trình đến Cổ Sơn ở Phước Châu. Tôi làm Bài Ca Túi Da để lưu biệt hai cô họ Điền và họ Đàm. Sau đó cùng Phú Quốc trốn đi đến chùa Dõng Tuyền, Cổ Sơn, Phước Châu. Lễ lão hòa thượng Thường Khai làm thầy xuống tóc.

(Đại sự trong năm: Liên quân Anh Pháp vây hãm Đại Cô. Ký kết hòa ước Thiên Tân.)

Hàm Phong năm thứ 9, 20 tuổi. (1859/60)

Tôi theo hòa thượng Diệu Liên ở Cổ Sơn thọ giới cụ túc, pháp danh là Cổ Nham, cùng Diễn Triệt tự Đức Thanh. Lúc ấy, cha tại Tuyền Châu sai người đi khắp nơi để tìm tôi. Sau khi thọ giới cụ túc xong, Phú Quốc hành cước tham phương tầm thầy học đạo. Từ đó, không còn biết tông tích chi nữa. Tôi ẩn tại một hang động sau núi, lễ sám vạn Phật, không dám lộ diện. Lúc ấy thường gặp hổ sói, nhưng tâm không sợ sệt.

Đồng Trị nguyên niên, 23 tuổi. (1862/63)

Tại hang núi tôi lễ sám, đã mãn ba năm. Ngày nọ, vị chức sư ở Cổ Sơn lên cho hay rằng cha tôi nơi Tuyền Châu đã từ quan về hưu. Tôi không cần phải trốn lánh nữa. Lão hòa thượng Diệu Liên rất khen tôi hằng tâm tu khổ hạnh. Nhưng tu huệ cũng cần phải tu phước, phải nên trở về núi nhậm chức, làm việc. Sau đó, tôi liền trở về núi, nhận công việc.

(Đại sự trong năm: Quân Thường Thắng đánh bại quân Thái Bình. Việt Nam cắt miền Nam cho Pháp.)

Đồng Trị năm thứ 3, 25 tuổi. (1864/65)

Nhậm chức tại Cổ Sơn. Mùa đông, tháng mười hai, nghe tin cha vì bịnh nên đã qua đời tại huyện Tương Lương. Từ đó, không còn hỏi thăm tin tức gia đình, thư từ cũng không liên lạc.

(Đại sự trong năm: Hồng Tú Toàn uống thuốc độc tự tử. Thái Bình Thiên Quốc tan rã.)

Xem hết tại đây :

http://www.dharmasite.net/tieusuhthv.htm
Hết thẩy là khảo nghiệm,

Coi thử mình ra sao,

Ðối cảnh lầm không biết,

Phải luyện lại từ đầu.

Hòa Thượng Tuyên Hóa

http://www.dharmasite.net/
gioidinhhue
Cảm ơn, Thành viên Moderator (Xin thông báo BQT)
 
Bài viết: 953
Ngày tham gia: Thứ 5 03 Tháng 9, 2009 3:27 pm

Re: Biên Niên Tự Thuật của Thiền Sư Hư Vân

Gửi bàigửi bởi gioidinhhue » Thứ 3 30 Tháng 11, 2010 1:02 am

Đồng Trị năm thứ 5, 27 tuổi. (1866/67)

Có người đồng hương đến cho hay rằng sau khi cha tôi mất, kế mẫu Vương Thị dẫn hai cô con dâu đi xuất gia làm ni sư.Vương Thị với pháp danh là Diệu Tịnh. Cô Điền Thị pháp danh là Chân Khiết.Đàm Thị pháp danh là Thanh Tiết.

Tôi nhậm chức tại Cổ Sơn đã mãn bốn năm. Công việc của tôi lúc ấy là nấu cơm, làm vườn, hành đường, điển tọa. Tất cả việc đều cực nhọc, nhưng không phiền lòng. Trong chùa, những khi phân phát đồ cúng dường cho chư Tăng, tôi đều không nhận lấy. Mỗi ngày chỉ ăn một bát cơm mà sức khoẻ vẫn tráng kiện. Lúc đó, trên núi có thiền sư Cổ Nguyệt, là vị tu khổ hạnh bậc nhất trong chúng. Tôi thường đàm đạo với Ngài. Nghĩ lại, đã nhậm chức mấy năm mà việc tu trì không có chút phần tiến bộ. Lại nhớ xưa kia, pháp sư Huyền Trang, mười năm trước khi qua Ần Độ thỉnh kinh, tự học ngôn ngữ Ần Độ, tập mỗi ngày đi trăm dặm, và nhịn ăn. Mới đầu một ngày rồi lần lần lên đến mười ngày, để chuẩn bị cho sau này phải đi qua những bãi sa mạc hoang vu, tuyệt không cỏ nước. Việc khổ hạnh của các bậc cổ đức là như thế. Tôi là người gì, sao lại không hành theo gương người xưa? Thế nên, tôi xin từ chức các công việc trong chùa, chia hết các vật dụng tư nhân, chỉ mang theo một y, một bát, một đôi vớ, một tấm bồ đoàn, một cái nón lá, rồi trở lại hang động trong núi mà tu hành.

Đồng Trị năm thứ 8, 30 tuổi. (1869/70)

Ba năm ở hang núi. Khi ấy, tôi sống rất đơn giản. Đói ăn đọt tùng lá dại, khát uống nước suối. Giày vớ ngày càng rách nát, chỉ còn lại một chiếc áo tràng che thân. Đầu quấn theo quyền Kim Cang, tóc dài cả mấy thước, đôi mắt sáng rực. Người ở xa nhìn thấy tưởng là yêu quái, đều bỏ chạy cả. Tôi cũng chẳng cùng người nói chuyện.

Ba năm đầu, lắm khi thấy cảnh giới tốt, mà không tự cho là kỳ lạ. Một lòng quán chiếu cùng niệm Phật. Trong hang sâu núi thẳm, hổ sói rắn trùng không hại. Không nhận sự thương hại, không ăn thức ăn nấu chín của người thế gian. Ngữa mặt nhìn trời, muôn sự đều nằm trong thân. Tâm rất an lạc, như vị trời ở cõi tứ thiền. Nghiệm biết, tai hoạn của thế nhân đều do thân miệng ý gây ra.

Cổ nhân nói rằng âm thanh của một bình bát vang xa hơn cả muôn ngàn tiếng chuông. Nay, tôi một bình bát cũng chẳng có, nên tự tại không ngại. Sức khỏe ngày càng tráng kiện. Tai mắt ngày càng tinh thông linh lợi. Đi nhanh như bay. Tự hỏi mình không biết sao được như thế! Tùy ý thích, có núi thì ở, có lá dại thì ăn. Đi từ nơi này sang nơi khác, như thế một năm trôi qua mà chẳng biết.

Đồng Trị năm thứ 9, 31 tuổi. (1870/71)

Ngày nọ, khi dừng chân nơi một ngọn núi ở Ôn Châu, thì bỗng đâu từ xa một thiền sư đi đến, đảnh lễ và hỏi: "Lâu nghe hạnh cao của Thầy, nên nay đến cầu xin chỉ dạy."

Nghe thế, tôi cảm thấy vô cùng xấu hổ, liền đáp: "Tri thức ngu muội, thiếu sự tham học; ngưỡng vọng Thượng Tọa từ bi chỉ dạy."

Hỏi: "Thầy hành hạnh này, đã bao nhiêu năm rồi?"

Tôi liền thuật lại những việc đã xảy ra trong những năm sống trong rừng núi.

Vị ấy bảo: "Tôi cũng chỉ tham học đôi chút, không thể chỉ dẫn gì được. Thầy nên đến núi Thiên Thai, Hoa Đảnh, am Long Tuyền, thỉnh vấn lão pháp sư Dung Cảnh. Vị ấy là người có đạo đức nhất ở núi Thiên Thai. Tất nhiên, sẽ chỉ những điều ích lợi cho Thầy."

Nghe thế, tôi đi thẳng đến Hoa Đảnh ở núi Thiên Thai. Vừa đến một am tranh liền gặp một vị tăng, nên tiện dịp hỏi thăm chỗ của lão pháp sư Dung Cảnh.

Đáp: "Vị tăng mặc áo vá đằng kia là Ngài đó."

Tôi liền đi thẳng đến và đảnh lễ. Lão pháp sư chẳng màng quay đầu lại. Tôi liền bạch: "Con nay đến đây hầu mong thân cận lão Pháp Sư. Vọng cầu vì lòng từ bi mà chiếu cố đến con."

Pháp Sư xoay mình lại, nhìn tôi hồi lâu rồi hỏi: "Ông là Tăng, là đạo sĩ, hay là người thế tục?"

Đáp: "Con là Tăng."

Hỏi: "Thọ giới cụ túc chưa?"

Đáp: "Bạch Pháp Sư! Con đã thọ giới rồi."

Hỏi: "Ông tu hành với hình dạng như thế này lâu mau rồi?"

Tôi liền lược thuật lại sự tu hành của mình trong những năm vừa qua.

Hỏi: "Ai dạy ông tu như thế?"

Đáp: "Bạch Pháp Sư! Nhân thấy người xưa, ai nấy đều tu hành khổ hạnh mới đắc đạo, nên con cố học theo."

Đáp: "Ông chỉ biết người xưa tu thân. Vậy ông có biết người xưa tu tâm như thế nào không? Thấy hình thể tu hành của ông như vầy, thật gần với ngoại đạo, chẳng phải là chánh đạo, uổng phí công phu tu hành cả mười năm.rừng sâu núi thẳm, ăn đọt tùng uống nước suối, thọ mạng được trăm ngàn năm, bất quá chỉ là một trong mười loại tiên nhân như trong kinh Lăng Nghiêm thôi, cách đạo rất xa. Tiến lên một bước nữa là chỉ chứng được sơ quả, tự giải thoát. Nếu có tâm Bồ Tát, trên cầu Phật đạo, dưới hóa độ chúng sanh, tự độ cùng độ người, tu đạo xuất thế gian nhưng không rời pháp thế gian. Ông miễn cưỡng không ăn cơm, mặc quần không đáy, chưa nói là làm bộ khác thường kỳ dị; công phu quái dị như vầy mà năng thành phiến sao?"

Tôi bị lão Pháp Sư đánh một dùi như thế, đau nhức xương, nên đảnh lễ Ngài cầu chỉ dạy.

Pháp Sư nói: "Tôi dạy ông, nếu nghe thì ở lại, còn không nghe thì nên đi nơi khác."

Đáp: "Bạch Pháp Sư! Con đến đây mong được thân cận gần gũi Ngài. Sao lại dám không nghe lời chỉ dạy!"

Lão Pháp Sư liền cho áo quần, rồi bảo đi cạo đầu, tắm gội sạch sẽ, phân công làm việc trong chùa. Lại dạy khán câu thoại đầu: 'Ai là người đang mang thây chết này?'

Từ đó, tôi ăn cơm cháo lại, cũng học giáo quán của tông Thiên Thai. Siêng năng tu học làm việc nên được Pháp Sư khen ngợi.

Đồng Trị năm thứ 10, 32 tuổi. (1871/72)

Tại am Long Tuyền, hầu cận lão pháp sư Dung Cảnh, tâm được khai mở nhiều. Pháp Sư tuổi ngoài tám mươi, giới luật tinh nghiêm, tông giáo đều thông. Nhiều lần, Pháp Sư bảo tôi lên tòa giảng kinh cho những vị khách tăng đến am tham học.

Đồng Trị năm thứ 11, 33 tuổi. (1872/73)

Nghe theo lời dạy của Pháp Sư, tôi đến chùa Quốc Thanh tham học quy chế thiền môn và cũng đến chùa Phương Quảng học kinh Pháp Hoa.

Đồng Trị năm thứ 13, 35 tuổi. (1874/75)

Trên hai năm, học kinh giáo tại chùa Quốc Thanh, đôi khi cũng trở về am tranh, tham vấn hầu cận lão pháp sư Dung Cảnh.

Quang Tự nguyên niên, 36 tuổi. (1875/76)

Đến chùa Cao Minh nghe pháp sư Mẫn Hi giảng kinh Pháp Hoa. Xong, liền từ biệt lão pháp sư Dung Cảnh, không thể không lưu luyến. Đàm thoại cùng Ngài suốt cả mấy đêm. Sau đó trân trọng cáo biệt.

Xuống núi, đi ngang qua Tuyết Đậu, đến chùa Nhạc Lâm nghe giảng kinh A Di Đà. Xong, liền vượt biển đi tham bái núi Phổ Đà. Nương ở sau chùa qua năm mới. Lúc ở tại núi Phổ Đà, thường đi tham bái các chùa am tự viện.

Tháng mười, sóng triều đẩy dạt xác một con cá voi đến bãi cát Thiên Bộ. Thân cá dài cả trăm thước; mắt lớn như chậu kiểng. Ngư dân xẻ bụng ra thì thấy bên trong có một chiếc thuyền nhỏ, lại có tóc người cùng vòng xuyến v.v... Lại nữa, lúc sóng triều lên, tại động Triều Dương, hiện ra một con rồng, thân vàng sáng chói. Đuôi rồng cũng dài như đuôi cá voi. Rồng hiện ra như thế hồi sau thì biến mất.

Quang Tự năm thứ 2, 37 tuổi. (1876/77)

Từ núi Phổ Đà, tôi trở lại huyện Ninh Ba, đến chùa A Dục Vương, trả một tháng ba đồng tiền lệ phí ăn uống ngủ nghỉ. Tôi lạy xá lợi Phật hai năm để báo ân sanh thành dưỡng dục của cha mẹ. Sau đó, tôi đến chùa Thiên Đồng nghe giảng tông thông kinh Thủ Lăng Nghiêm. Từ Ninh Ba, tôi đi Hàng Châu, triều bái Tam Thiên Trúc cùng các thánh cảnh khác. Nơi Bán Sơn, tôi đến lễ hòa thượng Thiên Lãng cùng vị tăng tri khách Trương Tùng. Tôi ở tại chùa Tây Thiên Mục qua mùa đông. Trên đường từ Ninh Ba đến Hàng Châu thời tiết rất nóng nực. Vì thuyền nhỏ mà người đông, nên thanh niên cùng phụ nữ đều nằm la liệt. Nửa đêm, khi mọi người đang say giấc, tôi cảm giác như có ai đụng đậy thân mình, nên liền tỉnh dậy, thấy bên cạnh mình, một cô gái trần truồng. Tôi không dám nói, vội ngồi dậy, kiết già, trì chú. Cô ấy cũng chẳng dám động đậy. Nếu lúc ấy ngu muội, thì chắc hư bại rồi. Vì việc này, tôi có lời khuyên các vị tu hành rằng không thể không cẩn trọng trong những trường hợp như trên.

http://www.dharmasite.net/tieusuhthv.htm
Hết thẩy là khảo nghiệm,

Coi thử mình ra sao,

Ðối cảnh lầm không biết,

Phải luyện lại từ đầu.

Hòa Thượng Tuyên Hóa

http://www.dharmasite.net/
gioidinhhue
Cảm ơn, Thành viên Moderator (Xin thông báo BQT)
 
Bài viết: 953
Ngày tham gia: Thứ 5 03 Tháng 9, 2009 3:27 pm

Re: Biên Niên Tự Thuật của Thiền Sư Hư Vân

Gửi bàigửi bởi gioidinhhue » Thứ 3 30 Tháng 11, 2010 1:17 am

Trích " Biên Niên Tự Thuật Của Thiền Sư Hư Vân "

Quang Tự năm thứ 4, 39 tuổi. (1878/79)

Tôi đến chùa Thiên Ba, lễ hòa thượng Thanh Quang, rồi ở lại chùa qua đông.

Quang Tự năm thứ 5, 40 tuổi. (1878/79)

Tôi đến Tiêu Sơn lễ hòa Thượng Đại Thủy. Lúc ấy có đề đốc Cung Bảo, Bành Ngọc Đường trú ngụ tại chùa. Ông ta vì mến thích nên thường mời tôi đàm luận Phật Pháp cùng những cách tu hành vài ngày. Càng đàm luận, ông càng sanh thâm tâm cung kính.

Quang Tự năm thứ 6, 41 tuổi. (1880/81)

Tôi đến chùa Kim Sơn để thân cận hòa thượng Quán Tâm, Tân Lâm, Đại Định, v.v... Tọa thiền nơi chùa qua đông.

Quang Tự năm thứ 7, 42 tuổi. (1881/82)

Tôi đến chùa Cao Mân tại Dương Châu, lễ hòa thượng Lãng Huy. Tôi ở lại chùa qua đông. Thiền công rất tiến bộ.

Quang Tự năm thứ 8, 43 tuổi. (1882/83)

Hơn hai mươi năm cắt ái từ thân, xuất gia tu đạo, nhưng đạo nghiệp vẫn chưa thành, mãi phiêu du theo gió nghiệp. Tâm rất xấu hổ. Nay muốn báo ân sanh thành dưỡng dục của cha mẹ, nên định trở lại biển Nam Hải, núi Phổ Đà nơi hướng đông, rồi từ đó đi về hướng bắc núi Ngũ Đài mà lễ bái. Thế nên, tôi đến núi Phổ Đà, ở nơi đấy vài tháng, tu thiền tĩnh tọa; đôi khi thấy vài cảnh giới. Sau đó, tôi phát tâm hành hương triều bái đến núi Ngũ Đài, miền bắc.

Ngày đầu tháng bảy, từ am Pháp Hoa nơi núi Phổ Đà, tôi khởi hương, hành đi ba bước lạy một lạy. Triều bái trực chỉ thẳng đến núi Ngũ Đài. Lúc đó, phụ hương có bốn thiền sư: Biến Chân, Thu Nghi, Sơn Hà, và Giác Thừa. Sau khi qua biển, mỗi ngày hành bộ không nhiều. Giữa đường chúng tôi ngừng tại Hồ Châu. Sau khi đến Tô Châu, Thường Châu, bốn vị tăng đều từ từ thối lui, còn tôi vẫn lễ bái, hành ba bước một lạy. Khi đến Nam Kinh, tôi lễ tháp tổ Pháp Dung Ngưu Đầu. Sau đó, vượt sông, nghỉ tại chùa Sư Tử ỏ Phổ Khẩu qua năm mới.

(Đại sự trong năm: Pháp chiếm kinh thành Huế, Việt Nam.)

Quang Tự năm thứ 9, 44 tuổi. (1883/84)

Tôi lại bắt đầu khởi hương đi ba bộ một lạy nơi núi Sư Tử. Từ Tô Bắc tôi vào tỉnh Hà Nam, đi qua Phương Dương, Hào Châu, Hạo Lăng, Tung Sơn, chùa Thiếu Lâm, đến chùa Bạch Mã tại Lạc Dương. Ngày đi đêm nghỉ, gió mưa sáng tối, cứ như thế mà đi, cứ như thế mà lạy; khổ vui đói khát, không quên chánh niệm, nhất tâm xưng thánh hiệu Bồ Tát.

Tháng chạp, tôi lạy đến bến Thiết Tá nơi sông Hoàng Hà, đi qua lăng Quang Võ. Ngày đầu, ngủ tại lữ xá. Ngày thứ hai liền băng qua sông. Lúc ấy trời vừa sập tối nên không dám đi. Nơi ấy, bốn bề không người, không khói bếp. Trên đường lộ, có một lều tranh nhỏ, không người ở. Tôi tạm dừng chân nơi đây, kiết già thiền tọa. Tối đến, trời lạnh thấu xương, tuyết rơi dầy đặc. Hôm sau, mở mắt ra, thấy bốn bề đều trắng xóa như thế giới lưu ly, tuyết dầy cả thước, không còn thấy đuờng đi, không người qua lại, nên không biết đi đâu, chỉ ngồi trơ ra mà niệm Phật. Bụng đói da lạnh, chòi tranh không vách che, thu mình ngồi trong góc nhỏ. Tuyết rơi thêm nhiều, gió lạnh càng thâm, bụng càng thêm đói, chỉ còn hơi thở, nhưng chánh niệm không mất. Một ngày, hai ngày, ba ngày, tuyết vẫn rơi như thế, giá lạnh cũng như thế, bụng đói vẫn như thế; từ từ nhập vào trạng thái hôn mê. Trưa ngày thứ sáu, tuyết ngừng rơi, thấy bóng mặt trời mờ mờ, nhưng vì đã lâm bệnh nên không đứng dậy được. Sáng ngày thứ bảy, có một người ăn xin đến, thấy nằm trên tuyết, hỏi han vài câu, nhưng tôi không thể trả lời được. Biết nhuốm bệnh nặng, nên ông gạt tuyết ra, lấy rơm nhóm lửa, nấu cháo bằng gạo vàng cho tôi ăn. Ắn xong, mình toát mồ hôi, khí lực bình phục lại.

Ông hỏi: "Ngài từ đâu đến đây?"

Đáp: "Thưa, tôi từ núi Phổ Đà, Nam Hải đến."

Hỏi: "Vậy Ngài đi đâu?"

Đáp: "Thưa, tôi triều bái đến núi Ngũ Đài."

Tôi hỏi lại danh tánh của ông. Ông đáp: "Tôi họ Văn, tên Cát."

Tôi lại hỏi: "Vậy Ngài đi đâu?"

Đáp: "Tôi từ núi Ngũ Đài, nay trở về Trường An."

Hỏi: "Từ núi Ngũ Đài đến, vậy ông có biết hết chư tăng ở đó không?"

Đáp: "Trên đó, ai ai cũng biết tôi cả!"

Hỏi: "Từ đây đến núi Ngũ Đài, tôi phải đi qua những vùng nào?"

Đáp: "Ngài phải đi qua Bồng Huyện, Hoài Khánh, Hoàng Sơn Lĩnh, Tân Châu, Thái Tục, tỉnh Thái Nguyên, Đại Châu, Nga Khẩu, tức đến núi Ngũ Đài. Khi tới Bí Ma Nham, nơi đó, sẽ gặp một vị tăng từ miền Nam lên, tên Thanh Nhất, là bậc tu hành rất thâm cao."

Tôi hỏi tiếp: "Từ đây đến núi lộ trình bao xa?"

Đáp: "Hơn hai ngàn dặm."

Hôm sau, khi mặt trời vừa lên, ông nấu cháo gạo vàng với tuyết. Thấy tuyết đang tan thành nước trong nồi, ông chỉ tay vào và hỏi: "Ở Nam Hải có vật này không?"

Đáp: "Thưa, không."

Hỏi: "Vậy Ngài uống bằng gì?"

Đáp: "Thưa, tôi uống bằng nước."

Khi tuyết trong nồi đã tan, ông lại chỉ tay vào nước, hỏi: "Vậy chứ đây là gì?"

Tôi không trả lời đuợc.

Ông hỏi tiếp: "Ngài đi lễ lạy danh sơn để mong cầu điều chi?"

Tôi đáp: "Khi vừa sanh ra thì không còn thấy mẹ. Thế nên, nay muốn lễ lạy để báo ân sanh thành của mẹ hiền."

Hỏi: "Vai mang hành lý, đuờng xa trời lạnh, bao giờ Ngài mới đến được núi Ngũ Đài? Khuyên Ngài chớ bái lạy làm chi."

Đáp: "Thệ nguyện đây đã định trước rồi, thì không cần hỏi chi năm tháng ngắn hay dài."

Bảo: "Thệ nguyện như Ngài khó mà lập được. Hiện nay thời tiết tốt, nhưng tuyết vẫn chưa tan, không thể tìm đường nào được. Thế nên, Ngài hãy theo dấu chân tôi mà đi. Khoảng hai mươi dặm sẽ gặp núi Tiểu Kim. Thêm hai mươi dặm nữa sẽ đến Bồng Huyện; nơi đó sẽ có chùa mà nghỉ ngơi."

Sau đó chúng tôi chia tay, tạm biệt. Nhân vì tuyết dầy không thể lạy, nên chỉ quay lưng lại, lễ bước chân của mình. Đến núi Tiểu Kim tôi nghỉ qua đêm. Hôm sau, khởi hương đi qua Bồn Huyện. Từ Bồn Huyện đi đến Hoài Khánh. Trên đường đến chùa Hồng Phước, có một lão hòa thượng tên là Đức Lâm, thấy tôi lễ lạy trên đường, liền đến cầm phụ cây hương và nói: "Thỉnh Thượng Tọa vào chùa nghỉ ngơi."

Sau đó, lại bảo đệ tử mang hành lý của tôi vào chùa, ân cần tiếp đãi. Ắn cơm uống trà xong, Hòa Thượng hỏi: "Thượng Tọa bắt đầu từ nơi nào khởi hương lễ bái?"

Tôi liền kể sơ lại rằng vì muốn báo đáp thâm ân của cha mẹ nên từ núi Phổ Đà khởi hương lễ lạy đến nơi đây, đã hơn hai năm trường.

Đang khi đàm đạo, biết tôi xuất gia tại Cổ Sơn, lão Hòa Thượng bất giác rơi lệ mà nói: "Tôi có hai huynh đệ đồng tu từ Hành Dương và Phước Châu đến. Cả ba chúng tôi đều hành hương lên núi Ngũ Đài, đồng ở lại đây ba mươi năm trường. Sau đó, họ chia tay với tôi để trở về quê quán. Từ đó bặt tăm tin tức. Nay nghe giọng nói Hồ Nam của Thượng Tọa, lại cũng là Phật tử Cổ Sơn, chợt như gặp được huynh đệ đồng tu thuở xưa, bất giác động niệm. Tôi nay đã ngoài tám mươi lăm. Chùa đây vốn đầy đủ gạo lúa, nhưng năm rồi giảm thiểu đôi chút. Tuyết rơi nhiều như vầy, chắc năm tới sẽ thu hoạch khá hơn. Thượng Tọa có thể ở lại."

Vì lòng chí thành khẩn thiết của lão Hòa Thượng, nên tôi miễn cưỡng lưu trú lại chùa qua năm.

http://www.dharmasite.net/tieusuhthv.htm
Hết thẩy là khảo nghiệm,

Coi thử mình ra sao,

Ðối cảnh lầm không biết,

Phải luyện lại từ đầu.

Hòa Thượng Tuyên Hóa

http://www.dharmasite.net/
gioidinhhue
Cảm ơn, Thành viên Moderator (Xin thông báo BQT)
 
Bài viết: 953
Ngày tham gia: Thứ 5 03 Tháng 9, 2009 3:27 pm

Re: Biên Niên Tự Thuật của Thiền Sư Hư Vân

Gửi bàigửi bởi gioidinhhue » Thứ 3 30 Tháng 11, 2010 1:39 am

Quang Tự năm thứ 10, 45 tuổi. (1884/85)

Mồng hai tháng giêng, từ chùa Hồng Phước tôi khởi hương lễ bái. Đến phủ Hoài Khánh rồi trở lại chùa nghỉ qua đêm. Mồng ba, tôi trân trọng từ biệt lão hòa thượng Đức Lâm. Hôm đó, đến phủ, thành nội tên là Tiểu Nam Hải. Vì không biết nghỉ qua đêm nơi nào, nên tôi ra ngoài thành ngủ bên lề đường. Tối đó, bụng đau kịch liệt. Sáng ngày mồng bốn cũng cố lễ bái. Chiều đến, thân bị cảm lạnh. Mồng năm, bắt đầu bị kiết lỵ, nhưng những ngày kế cũng rán lễ lạy. Ngày mười ba đến Hoàng Sa Lĩnh. Trên đỉnh núi có một ngôi miếu hoang tàn, không mái nóc. Khi đến đó, tôi kiệt sức, không thể đi xin thức ăn được. Ngày đêm đi cầu cả chục lần, không sức khởi động. am miếu ở tại đảnh núi, không người qua lại, chỉ nhắm mắt chờ chết mà thôi, nhưng thâm tâm không hề hối hận. Khuya ngày mười lăm, chợt thấy bên dưới phía tây miếu có ai đang đốt lửa, nghi là ăn trộm, nhìn kỹ lại thì nhận ra người ấy chính là Văn Cát lúc trước, thâm tâm mừng rỡ, liền gọi: "Tiên sinh Văn Cát."

Ông liền cầm đuốc tới và hỏi: "Đại Sư Phụ! Sao Ngài vẫn còn ở đây?"

Tôi kể lại cho ông nghe những việc đã xảy ra. Ông liền ngồi xuống bên cạnh, an ủi và đưa một chung nước cho tôi uống. Đêm đó, gặp được Văn Cát, thân tâm rất thanh tịnh. Ngày mười sáu, Văn Cát đem y phục dơ bẩn của tôi ra giặt giũ, lại cũng cho một chén thuốc để uống. Ngày mười bảy, bịnh thuyên giảm rất nhiều. Sau khi ăn hai chén cháo gạo vàng thì ra mồ hôi nhuể nhại. Ngày mười tám thì khỏi bịnh. Tôi cảm tạ Văn Cát, nói: "Hai lần nguy hiểm, đều nhờ Tiên sinh cứu tế, cảm ơn bất tận."

Văn Cát đáp: "Chỉ là việc nhỏ thôi."

Tôi lại hỏi: "Bây giờ Tiên sinh đi đâu?"

Đáp: "Trở lại núi Ngũ Đài."

Tôi nói: "Tôi vẫn còn bịnh, lại phải lễ bái, không thể theo kịp Tiên sinh được."

Đáp: "Xem Ngài từ tháng chạp đến giờ, lễ lạy trên đường không được nhiều cho lắm. Vậy đến năm nào mới tới! Sức của Ngài cũng không được khỏe, chắc khó mà lễ lạy. Do đó, không nhất định phải lễ lạy, triều bái lên Ngũ Đài."

Đáp: "Tiên sinh có ý tốt, tôi rất cảm ơn, nhưng vì lúc chào đời không nhìn được mẹ mình. Mẹ vì sanh ra tôi nên mới qua đời. Còn cha chỉ được một mụn con, mà tôi lại bỏ trốn đi tu. Do đó, cha từ quan, buồn rầu nên giảm tuổi thọ mà mất. Trời cao lồng lộng, ân cha nghĩa mẹ bao la. Bao năm trằn trọc không an, nên nay mới phát nguyện triều bái, cầu Bồ Tát gia hộ, nguyện cho cha mẹ được thoát khổ, sớm sanh về cõi tịnh độ, thì chẳng quản chi trăm ngàn gian lao trước mắt. Nếu không đến được thánh cảnh, thì chết cũng không dám thối nguyện."

Văn Cát nói: "Tâm thành hiếu thảo kiên cố của Ngài thật rất khó lập. Nay tôi trở về núi, cũng không gấp chi. Tôi muốn phụ mang hành lý trên đường để Ngài dễ dàng lễ lạy, bớt đi sầu khổ, tâm không sanh hai niệm."

Tôi đáp: "Nếu thế, công đức của Tiên sinh thật lớn vô cùng. Lễ bái đến Ngũ Đài, nguyện đem công đức này, phân nửa hồi hướng về cho cha mẹ sớm chứng đạo Bồ Đề, phân nửa xin hồi hướng đến Tiên sinh để báo đền ơn cứu mạng. Vậy thưa có được không?"

Đáp: "Ngài thật là người con hiếu thảo, còn tôi chỉ thuận tiện mà giúp. Không dám nhận lời cảm tạ."

Sau đó Văn Cát lo cho tôi cả bốn ngày liền. Bịnh tình thuyên giảm rất nhiều.

Ngày mười chín, tuy còn yếu nhưng tôi vẫn khởi hương lễ bái. Việc mang hành lý và ăn uống có Văn Cát lo giùm. Bao vọng tưởng trong đầu đều chợt ngừng. Ngoài không việc phiền lụy. Trong không vọng niệm; bịnh ngày càng thuyên giảm, sức khỏe ngày càng tăng. Từ sáng đến tối, đi lễ lạy được khoảng bốn mươi dặm, nhưng không cảm giác mệt nhọc. Tháng hai, đến chùa Ly Tướng huyện Thái Tục, vị tăng tri khách thấy, liền chào. Sau đó quay đầu lại nhìn Văn Cát và hỏi tôi: "Vị này là ai?"

Tôi thuật lại đầu đuôi sự việc xảy ra trên đường. Nghe xong, tăng tri khách liền nổi giận, bảo: "Ra ngoài hành cước, không biết thời cuộc. Năm nay đất bắc nghèo khó, vậy triều bái núi gì? Thầy chắc là một đại lão quan, mới có người theo hầu cận. Nếu muốn hưởng phước, cần gì phải ra ngoài đi như vầy. Thầy xem có chùa nào mà có người thế tục xách bị theo hầu không?"

Nghe lời khiển trách như thế, tôi không dám đáp lời lại. Tôi nhận lỗi mình và cáo từ. Tăng tri khách bảo: "Vô lý! Tự tiện đến, vậy ai bảo Thầy đi?"

Nghe lời trước ngược lời sau, tôi đáp: "Thỉnh tiên sinh Văn Cát đến trọ tại lữ quán, còn tôi xin làm phiền Ngài nghỉ lại đây một đêm. Vậy, thưa có được không?"

Tăng tri khách đáp: "Vậy cũng được."

Văn Cát bảo: "Từ đây đến Ngũ Đài cũng không còn xa lắm. Tôi sẽ trở về trước, còn Ngài cứ từ từ mà đi. Hành lý của Ngài, không lâu sẽ có người mang lên núi dùm."

Tôi cố giữ Văn Cát lại nhưng không được. Lại đưa tiền cho, Văn Cát cũng không nhận. Vội từ biệt mà đi. Sau đó, tăng tri khách đổi sắc mặt vui vẻ, mang đồ của tôi vào chùa, đi ra nhà bếp nhúm lửa nấu trà luộc bún. Ngạc nhiên trước thái độ ấy, tôi nhìn bên phải trái, chẳng thấy một ai, liền hỏi: "Thưa Thầy, trong chùa đây tăng chúng nhiều ít?"

Đáp: "Mấy năm trước, tôi ở bên ngoài sông Giang, rồi trở lại đây nhận chức trụ trì. Nơi nầy liên tiếp bị thất mùa, nên mọi người đi hết, chỉ còn lại mình tôi. Lương thực chỉ có bún miến như vầy thôi. Vừa rồi, ngoài cửa, tôi chỉ nói đùa thôi. Xin Thầy đừng để trong lòng."

Tôi nghe lời này, buồn bực cả chục phần, chẳng nói gì được, miễn cưỡng nuốt nửa tô bún, rồi liền cáo từ. Thầy tri khách đây cố giữ lại, nhưng tôi không có lòng gì để đáp ứng. Tôi liền đi đến lữ quán tìm kiếm Văn Cát, nhưng không gặp. Lúc ấy, là mười tám tháng tư, tuy trời tối nhưng trăng tỏ. Vì muốn đuổi kịp Văn Cát, nên tôi lễ lạy trong đêm hôm luôn, hướng về phủ Thái Nguyên mà khởi hương. nóng lòng gấp gáp, nên ngày hôm sau máu từ mũi chảy ra không dừng. Hai mươi ngày kế, đến chùa Bạch Vân tại Hoàng Độ Câu. Vị tăng tri khách thấy mũi miệng tôi ra máu nên không cho tạm trú, chỉ miễn cưỡng cho nghỉ qua đêm. Sáng ngày hai mươi mốt, đi vào thành Thái Nguyên, đến chùa Cực Lạc, nuốt phải những lời chửi mắng, không được cho nghỉ qua đêm. Sáng ngày hai mươi hai, ra ngoài thành lễ bái. Nơi cửa bắc, gặp một thầy trẻ tên là Văn Hiền. Thấy tôi, liền đến gần, cầm giúp hương và mang phụ hành lý, rồi mời vào chùa nghỉ ngơi. Quí mến kính trọng như người thân. Dẫn tôi vào phòng phương trượng, tiếp đãi cơm nước; đàm đạo một hồi rồi tôi liền hỏi: "Tuổi thầy chắc chỉ ngoài hai mươi, lại hình như là người ngoài tỉnh, làm thế nào mà được trụ trì nơi đây?"

Đáp: "Bạch Thượng Tọa! Cha của con làm quan nơi đây đã nhiều năm, nhậm chức tại phủ Bình Dương, bị gian thần hãm hại. Mẹ vì vậy uất khí mà mất. Con nuốt lệ xuất gia. Quan thân sĩ thứ nơi đây, biết gia cảnh, nên thỉnh con về trụ trì chùa này. Con chỉ cố gượng ở lại, vì lúc nào cũng muốn rời chỗ này. Nay được chiêm ngưỡng đạo phong oai đức của Thượng Tọa, tâm rất kính phục. Thỉnh Ngài ở lại nơi đây lâu dài để con được dịp hầu cận."

Tôi thuật lại nguyên do phát nguyện lễ bái. Thầy trụ trì này tâm càng thêm cung kính tin phục, cố lưu giữ tôi lại cả mười ngày. Sau đó tôi tiếp tục lên đường lễ bái. Thầy cúng dường y phục cùng tiền lệ phí, nhưng tôi đều không nhận. Thầy cầm phụ hương, tiển tôi đi cả hơn mười dặm, rơi lệ từ biệt. Lúc ấy là mồng một tháng năm. Tôi hướng thẳng đến Hân Châu.

Sáng nọ, đang lúc lễ lạy trên đường, đằng sau tiến đến một cỗ xe ngựa, đi hoãn lại mà không vượt qua mặt. Tôi biết nên lánh qua một bên. Từ trên xe ngựa bước xuống một vị quan, đến gần liền hỏi: "Tại sao Đại Sư lạy trên đường như vầy?"

Tôi thuật sơ qua lời phát nguyện của mình. Vị quan đây cũng là người Hồ Nam. Tôi cùng Ngài đàm luận rất hợp ý.

Vị Quan nói: "Như vầy, tôi hiện đang trú tại chùa Bạch Vân, nơi Nga Khẩu. Ngài triều bái đến Ngũ Đài thì phải đi ngang qua đó. Hành lý của Ngài đây, tôi sẽ mang lên đó trước."

Tôi cảm tạ xong, vị quan trở lên xe rồi đi khuất.

Mỗi ngày vẫn lễ bái như thường, không còn bị trở ngại chi nữa. Giữa tháng năm, tôi lạy đến chùa Bạch Vân, gặp viên quan cai quản doanh trại, người mang hành lý dùm tôi hôm trước. Ngài thấy tôi đến liền ra nghinh tiếp, mời vào doanh trại nghỉ ngơi, ân cần ưu đãi. Tôi nghỉ ở nơi đây ba ngày, sau đó cáo từ. Vị quan ấy cúng dường tiền lộ phí cùng lễ vật nhưng tôi không nhận. Thế nên, vị quan ấy phái quân lính mang hành lý của tôi cùng tài vật cúng dường đến chùa Hiển Thông.

Tôi khởi hương lễ bái đến núi Khuê Phong, Bí Ma Nham, Sư Tử Oa, Long Động, cùng các nơi khác. Kỳ tích nước non, tả không thể hết. Vì bận lễ bái, nên không thể nhìn xem rõ ràng. Cuối tháng năm đến chùa Hiển Thông, lấy hành lý do quân lính mang lên mấy ngày trước. Khi tới chùa Hiển Thông, việc trước nhất là đến các chùa am tự viện kế cận dâng hương lễ bái. Đi khắp nơi hỏi thăm tung tích Văn Cát, không ai biết cả. Sau đó, thuật lại sự tình nguyên do cho một lão tăng nghe. Lão tăng ấy liền chắp tay nói: "Đó là hóa thân của Bồ Tát Văn Thù vậy."

Tôi liền đảnh lễ cảm tạ Bồ Tát.

Ngày hai mươi hai, khởi hương. Hai ngày sau, lạy qua Đông Đài. Đêm tối, trăng thanh sao sáng, tôi lạy đến một ngôi thất bằng đá rồi dâng hương cùng lễ bái, tụng kinh, ngồi thiền một tuần trong thất. Sau đó xuống núi, lạy qua hang Na La Diên. Lương thực hết. Mồng một tháng sáu, trở về chùa Hiển Thông. Ngày hôm sau, khởi hương, lên đỉnh Hoa Nghiêm ở qua đêm. Ngày thứ ba, lạy qua Bắc Đài, rồi nghỉ qua đêm tại Trung Đài. Ngày thứ tư, lạy qua Tây Đài nghỉ qua đêm. Ngày thứ năm, trở về chùa Hiển Thông. Ngày thứ bảy, lạy qua Nam Đài và đả thiền thất nơi đây. Ngày mười lăm, trở về chùa Hiển Thông, tham gia đại hội Phật giáo vào tháng sáu. Đến đây lời nguyện bái hương ba bước một lạy trong ba năm để cầu cho cha mẹ được siêu thoát đã hoàn mãn.

Trong ba năm, trừ những lúc bị bịnh hoạn, gió mưa sương tuyết cản trở, không thể lễ lạy bên ngoài, còn trong mọi thời, tôi luôn nhất tâm chánh niệm. Lễ lạy trên đường, gặp bao gian nan, nhưng tâm luôn vui vẻ. Mỗi lần xét lại tâm mình, hể càng gặp khổ bao nhiêu thì tâm càng an lạc bấy nhiêu. Vì thế mới hiểu được lời của cổ nhân nói rằng nếu tiêu bớt một phần tập khí thì được một phần sáng suốt. Nhẫn được mười phần phiền não thì chứng được ít phần bồ đề.

Lại nữa, trên đường có rất nhiều danh lam thắng cảnh. Từ núi Phổ Đà đến Giang Triết, Trung Châu, Hoàng Hà, Thái Hành, thắng địa danh sơn nhiều kể không thể hết. Hồi ký du lịch xưa nay, miêu tả rất tường tận, nhưng nếu thân không đến những nơi đó thì không thể cảm nhận rõ ràng. Như thánh cảnh Thanh Lương tại Ngũ Đài, nơi Bồ Tát Văn Thù thường phóng quang. Lại có những dãy núi thẳng sừng sửng cao ngàn thước, tuyết phủ ngàn năm; những cây cầu đá, lầu các treo lơ lững trên không, khó tìm thấy được những nơi khác.

Trong lúc tôi đang bái hương, ba bước một lạy, không thể nhìn xem thưởng thức được những thắng cảnh nầy. Khi nguyện lễ lạy đã xong thì cũng là lúc đến tại những chỗ đó. Tôi không muốn để cho thần núi cười tánh hiếu kỳ của mình.

Đại hội Phật giáo kết thúc, tôi lên đảnh Đại Loa, lễ lạy những ánh đèn Trí Huệ. Đêm thứ nhất, không thấy chi cả. Đêm thứ hai, thấy bên đỉnh Bắc Đài có một chùm lửa, bay qua Trung Đài rồi rơi xuống, từ một chùm lửa to mà phân ra cả chục chùm lửa bé, lớn nhỏ không đồng. Đêm thứ ba, lại thấy bên Trung Đài, trên không trung xuất hiện ba chùm lửa sáng rực, bay lên bay xuống. Nơi Bắc Đài cũng hiện ra bốn chùm lửa, lớn nhỏ không đồng. Mồng mười tháng bảy, tôi bái tạ Bồ Tát Văn Thù xong, liền trở xuống núi. Từ đình Hoa Nghiêm đi về hướng bắc, đến Đại Doanh, phía nam của Hồn Nguyên, qua Bắc Ngạc ở Hằng Sơn; lên thẳng khẩu Hổ Phong có một tảng đá ghi khắc rằng đây là ngọn núi đầu tiên ở phương bắc. Đi vào miếu trên đó thì thấy những tầng cấp cao vời vợi như lên tận trời xanh, cùng cả rừng đá thạch. Lễ xong, tôi liền xuống núi, đến phủ Bình Dương, thăm hang động tiên nhân Nam Bắc; hướng về phía nam của thành có miếu vua Nghiêu rất hùng tráng và mỹ lệ. Trở về hướng nam, đến Bồ Châu, Lô Thôn, lễ miếu Hán Thọ Hưởng Hầu; qua sông Hoàng Hà, vượt Đổng Quan, vào đất Xiểm Tây, đến Hoa Ầm; lên núi Thái Hoa, lễ miếu Hoa Sơn Tây Ngạc. Vòng qua Thiên Xích Tràng, eo đất Bá Xích, tới Lão Quân Lê Câu, đến tham quan các danh lam thắng cảnh khác. Tôi nghỉ tại những nơi đó tám ngày. Tôi rất ngưỡng mộ hai vị Thánh Tề Gi.

Lại qua núi Thủ Dương, tới chùa Quán Ấm ở Hương Sơn thuộc phía tây nam tỉnh Xiểm Tây, xem phần mộ của Trang Vương; vào tỉnh Cam Túc, đến chùa Bình Lương, núi Không Động. Gần cuối năm, tôi trở về Hương Sơn ở qua năm mới.

http://www.dharmasite.net/tieusuhthv.htm
Hết thẩy là khảo nghiệm,

Coi thử mình ra sao,

Ðối cảnh lầm không biết,

Phải luyện lại từ đầu.

Hòa Thượng Tuyên Hóa

http://www.dharmasite.net/
gioidinhhue
Cảm ơn, Thành viên Moderator (Xin thông báo BQT)
 
Bài viết: 953
Ngày tham gia: Thứ 5 03 Tháng 9, 2009 3:27 pm

Re: Biên Niên Tự Thuật của Thiền Sư Hư Vân

Gửi bàigửi bởi gioidinhhue » Thứ 3 30 Tháng 11, 2010 2:01 am

Quang Tự năm thứ 11, 46 tuổi. (1885/86)

Mùa xuân, tôi rời chùa Hương Sơn, đi về hướng tây, đến ải quan Đại Khánh, vào đất Xiểm Tây, qua Diệu Châu, Tam Nguyên, tới Hàm Dương xem cây cổ thụ Cam Đường của Triệu Bá; thăm đất Trường An nơi tường thành hùng vĩ, vẫn còn nhiều di tích lịch sử. Phía đông bắc ngoài thành có chùa Từ Ấn, trong chùa có tháp Đại Nhạn được cất cao bảy từng, cùng bia đá đời nhà Đường và bia Cảnh Giáo Đại Tần. Trước cung Phủ Học là một rừng bia đá, có hơn bảy trăm loại khác biệt. Phía đông của thành có cầu Ba Kiều, rộng khoảng bảy mươi hai thước, cũng có lâu trạm, nơi khách qua đường thường gặp mặt, hẹn hò. Sau khi dừng lại cửa ải Dương Quan, tôi đến chùa Hoa Ngiêm, lễ tháp hòa thượng Đỗ Thuận, tháp quốc sư Thanh Lương. Qua chùa Ngưu Đầu, Hưng Quốc lễ tháp pháp sư Huyền Trang. Tiếp tục, đến núi Chung Nam phía đông Ngũ Đài, có chùa Bảo Tạng; Bạch Thủy Lương nơi sườn núi Hương Cổ, tại đây có hai vị thánh tăng ẩn tu. Tới động Ngân Đồng ở Gia Ngũ Đài, là chỗ ẩn tu của tổ thứ năm của tông Hoa Nghiêm. Sau đó, đến phía nam Ngũ Đài, gặp chư đại hòa thượng Giác Lãng, Trị Khai, Pháp Nhẫn, Thể An, Pháp Tánh, đang kết am tranh tọa thiền nơi đây. Chư vị giữ tôi ở lại. Pháp Nhẫn trụ tại Lão Hổ Oa, Trị Khai ở Xả Long Xuân. Pháp Tánh trú tại động Tương Tử. Tôi cùng Giác Lãng đồng ở tại am tranh lớn. Sáng sớm mồng một tháng ba, nơi sau chánh điện, tôi chợt thấy chòm sao Thiên Chửu bay loạn xạ trên không trung, hồi lâu mới mất. Không biết đó là điềm gì.

(Đại sự trong năm: Chiến tranh Trung-Pháp bùng nổ. Việt Nam ký hòa ước cắt nước cho Pháp.)

Quang Tự năm thứ 13, 48 tuổi. (1887/89)

Trên hai năm, kết am tranh tại phía nam Ngũ Đài, cùng chư tăng tham cứu tu hành, được lợi ích rất nhiều. Tháng hai, xuống núi, đến lễ chùa Hoàng Dụ tại núi Thúy Vi; lại qua chùa Tịnh Nghiệp tại núi Hậu An lễ tháp Tuyên Tổ thuộc phái Luật Tông, và đến chùa Thảo Đường lễ đạo tràng của pháp sư Cưu Ma La Thập. Kế, đến núi Thái Bá, cao cả một trăm lẻ tám dặm, tuyết vẫn chưa tan trong mùa hè. Lại qua chùa Nhị Bản, Đại Bản; lên đỉnh Hoa Trì nơi có mạch nước phân thành bốn dòng; đến trấn Tử Ngưu, qua phủ Hán Trung nơi Hán Cao Tổ lạy tướng mình. Tới miếu Chư Cát tại Bao Thành, thăm đèn vạn năm của Trương Phi, cùng các danh lam thắng cảnh khác. Đi xa, vượt Long Động Bối, ải quan Thiên Hùng, tiểu Nga Mi, ải quan Kiếm Môn, chùa Bát Bồng, ải quan Bạch Mã, thăm mộ phần vua Bàng Thống, miếu Văn Xương tại huyện Tử Đồng tỉnh Tây Xuyên. Trên đường, đi qua núi Thất Khúc, suối Cửu Khúc, ải Kiếm Môn nơi mà chót núi bị cắt làm đôi, hai vách đá thẳng như lưỡi kiếm. Sử ghi rằng có một vị tướng quân giữ ải, đánh tan đạo quân cả mười ngàn người. Ở trên có thành Khương Duy, tức nơi đóng binh của Bá Ước thuở xưa. Cầu treo khó đi, như lên trời xanh. Thật lời của người xưa không hư dối. Đến Quảng Hán phía nam huyện Tân Bộ, tại chùa Bảo Quang nghỉ qua năm mới. Năm ấy, khi vào đất Tây Xuyên, đơn độc hành bộ, ba y một bát, chẳng chi phiền lụy, thanh thản an nhàn với cảnh non nước, khiến thân tâm lắng đọng.

Quang Tự năm thứ 14, 49 tuổi. (1888/89)

Tháng giêng, từ chùa Bảo Quang, khởi hành vào tỉnh Thành Đô, lễ chùa Chiêu Giác, viện Văn Thù, chùa Thảo Đường, cung Thanh Dương; qua Hoa Dương, Song Lưu, hướng về phía nam đến huyện Mi Sơn, huyện Hồng Nhã. Tới chân núi Nga Mi, từ chùa Phục Hổ, động Cửu Lão qua Sơn đảnh của núi Nga Mi lễ hương. Đêm đến, thấy Phật quang; muôn ngàn đóm lửa sáng rực như một giải ngân hà trên trời. Thắng cảnh như thế, tả không thể hết. Nơi chùa Bảo Quang, tham kiến lão hòa thượng Ứng Chân, rồi trú tại chùa mười ngày. Sau đó, qua chùa Vạn Niên, lễ điện Phật Tỳ Lô Xá Na. Xuống núi, đến Nhã Châu, qua huyện Huỳnh Kinh, vào Lô Định. Tới đây là biên giới của tỉnh Tây Xuyên. Tháng năm, băng qua sông Lô. Trong huyện Nhã An có sông Đại Độ rộng cả ba dặm; bắc ngang sông là cầu dây Lô Định. Người đi trên cầu này phải rất cẩn thận vì cầu thường đong đưa lắc lư. Đi về hướng tây, qua Đả Tiến Lô, Lý Đường, Ba Đường. Lên phía bắc, đến Sát Mộc Đa tức Xương Đô. Qua hướng tây tới Thạc Đốc; đi ngang A Lan Đa và Lạp Lý. Nơi đây đất rộng người thưa, đủ chủng tộc như người Hoa, Tây Tạng, Mông Cổ, v.v... Ngôn ngữ khác biệt, Người biết tiếng Hoa chỉ vài ba trăm. Tại Lý Đường có ngọn núi thần Công Cát là vùng đất thánh của Phật tử người Tây Tạng. Ba Đường là vùng núi cao hiểm trở. Sát Mộc Đa có nhiều sông ngòi. Các chủng tộc phần lớn theo Lạt Ma Giáo. Từ Lạp Lý đi về hướng nam đến Giang Đạt; vượt qua vùng này tức đến biên giới Tây Tạng.

Tôi vào đất Tây Tạng, đến Điểu Tô Giang, băng ngang sông Lạp Tát, tức đến thủ đô Lạp Tát; đây là trung tâm hành chánh và tôn giáo của toàn nước Tây Tạng. Phía tây bắc là núi Đạt Bố Lạp, có cung Đạt Bố Lạp, cao ba mươi tầng; chánh điện và mái ngói rất trang nghiêm. Đá thạch chạm vàng trông chóa mắt, là nơi mà đức Phật sống Đạt Lai Lạt Ma thường ngồi thuyết pháp. Vây quanh là hai mươi ngàn vị Lạt Ma. Vùng phụ cận có ba ngôi chùa lớn như Cát Nhĩ Bàn, Biệt Bạng, Sắc Lạp, cũng có hơn ngàn vị Lạt Ma. Vì ngôn ngũ không thông, khi đến các chùa, tôi chỉ dâng hương cùng lễ đức Phật sống thôi. Lại đi về hướng tây, qua Cung Cát, Giang Tử, đến Nhật Khách Đáo; phía tây có chùa Gia Thập Luân Bố, kiến trúc đồ sộ hùng vĩ mỹ lệ, rộng cả mấy dặm, là trung tâm hành chánh và tôn giáo thứ nhì của Tây Tạng, do vị Ban Thiền Hoạt Phật lãnh đạo, cũng có bốn năm ngàn vị Lạt Ma thường vây quanh. Từ Tây Xuyên vào đất Tây Tạng, đi cả một năm; mặt trời lên thì đi, mặt trời lặn thì dừng; leo núi băng sông, lắm khi cả mấy ngày mà chẳng gặp một bóng người; chim thú khác lạ, phong tục danh xưng rất dị kỳ; tăng sĩ không giữ giới luật, ăn thịt bò thịt dê, y áo đạo phục tông mũ đỏ mũ vàng khác biệt; chợt nhớ lại pháp hội tại Kỳ Viên Tịnh Xá lúc Phật còn tại thế mà rưng rưng nước mắt.

Cuối năm ấy ở lại Tây Tạng qua năm mới.

Quang Tự năm thứ 15, 50 tuổi. (1889/90)

Tôi không muốn ở lại Tây Tạng. Xuân đến, đi về hướng nam, qua Lạp Cát, Á Đông, là quan ải lớn nhất giữa Tây Tạng và Ần Độ. Tới nước Bất Ban, vượt bao núi cao vách đứng, không biết tên chi, hoặc gọi là Thông Lĩnh hay Tuyết Sơn. Đến thành Dương Bộ, lễ bái thánh tích Phật đà, rồi tới hải cảng Mãnh Gia Lạp. Vượt biển đi Tích Lan, lễ bái các thánh tích xong liền dùng thuyền đến Miến Điện, triều bái tháp Đại Kim; qua Ma La Điện Cát Xá Lợi; nơi đây có một tảng đá lớn kỳ dị, gọi là chỗ ngồi của tôn giả Đại Mục Kiền Liên, có rất nhiều người đến lễ bái.

Tháng bảy, khởi hành trở về nước. Từ Lạp Thức qua ải Hán Long, tức vào Vân Nam. Vượt qua Miễn Ninh, Long Lăng, Cảnh Đông, Mộng Hóa, Triều Châu, Hạ Quan, đến Đại Lý, xem hồ bạc Nhĩ Hải, tiếng sóng vang xa cả vài dặm, thật là nơi rất lạ kỳ. Nguyện đầu tiên khi trở về nước là đi tham bái núi Kê Túc, nơi tôn giả Ma Ha Ca Diếp đang nhập định đợi Phật Di Lặc ra đời. Băng qua hồ Nhĩ Hải, hướng phía đông bắc mà đi, đến Hoán Sắc, Bá Đam, Bình Sa, Sơn Giác, miếu của An Bang Đại Vương; tới Linh Sơn nhất hội phường tức núi Kê Túc. Giữa núi là đất Ô Ca. Tương truyền lúc tôn giả Ca Diếp vào núi, có bảy vị vua đi theo hộ tống, không đành lòng trở về, ở tại đây tu hành, thành thần hộ pháp, tức miếu Đại Vương. Tôi đi thẳng lên chánh điện của núi; trong ngôi chánh điện có thờ tôn tượng tôn giả Ca Diếp. Tương truyền, khi tôn giả A Nan đến lễ bái thì cửa đá tự nhiên mở. Thánh cảnh trang nghiêm huyền diệu. Thạch đá tự biến thành cửa đá gọi là cửa Hoa Thủ. Ngài Ma Ha Ca Diếp đang nhập định bên trong. Cửa đá lớn tựa như cửa thành, cao cả vài trăm thước, rộng hơn trăm thước. Hai cánh cửa đều đóng nhưng đường lằn giữa hai cửa hiện rõ ràng. Hôm ấy, du khách cùng người địa phương dẫn đường đến rất nhiều. Lúc tôi dâng hương lễ bái, tự nhiên nghe âm thanh của ba tiếng đại hồng chung; người địa phương đều vui mừng lễ bái theo và nói: "Hể mỗi lần có bậc dị nhân đến thì đều nghe tiếng chuông trống, mõ khánh vang lên. Chúng tôi đã từng nghe tiếng khánh mõ, mà chưa từng nghe tiếng đại hồng chung. Nay Sư Phụ đến đây lễ bái lại nghe tiếng đại hồng chung, chắc đạo hạnh của Ngài cao lắm."

Tôi cảm tạ không dám nhận lời tán tụng ấy. Khi ấy là ngày ba mươi tháng bảy. Lại lên đỉnh núi Thiên Trụ. Đây là nơi cao nhất của toàn núi. Từ đỉnh xuống chân núi, dài khoảng ba mươi dặm. Trên đỉnh có ngôi điện bằng đồng cùng một tòa tháp Lăng Nghiêm. Theo gia phả của núi thì toàn núi có ba trăm sáu mươi am, bảy mươi hai ngôi chùa lớn. Nay, toàn núi chỉ còn lại dưới mười ngôi. Kẻ tu hành cùng người thế tục sống lẫn lộn không phân biệt. Con cháu nối tiếp thừa hưởng sản nghiệp. Đâu đâu cũng thế, không cho khách tăng ở lại trên núi, dầu chỉ trong một thời gian ngắn. Nhớ xưa kia các pháp hội đều hưng thịnh; nay thì thế nhân suy đồi, thật rất đau lòng; tâm muốn trùng hưng lại đạo tràng này, nhưng không biết có đủ cơ duyên chăng!

Từ núi Lương Vương, Cửu Phong, đến huyện Vân Nam, qua núi Thủy Mục, Linh Thứu núi Tử Khê, tới phủ Sở Hùng, trú tại chùa Cao Đỉnh. Lúc vừa mới đến chùa, nghe mùi hương hoa lan bay khắp cả; vị tăng tri sự chúc mừng: "Thượng Tọa đến, vị thần hoa lan phóng ra hương thơm, thật là kỳ diệu. Trong gia phả của phủ viết rằng có vị thần hoa lan, vô hình dạng, nếu có cao tăng chân nhân đến thì phóng tỏa hương thơm. Nay mùi hương hoa lan bay đầy khắp núi, chắc là do âm đức của Thượng Tọa cảm nên vậy."

Sau đó, tôi được tăng tri sự ân cần chiêu đãi, cố giữ ở lại lâu. Vì tôi muốn trở về Hồ Nam gấp nên khước từ lời mời, chỉ ở lại qua một đêm rồi đi ngay. Đến phủ Côn Minh, phủ Khúc Tỉnh, phủ Quí Châu, Bình Tệ. Thuận đường đi về hướng đông, qua Quí Dương, Trấn Viễn, vào Ma Dương, Chỉ Giang hướng tây của Hồ Nam, đến phủ Bảo Khánh, băng Hành Dương, thăm hòa thượng Hằng Chí tại núi Kì Sơn. Ở lại đây mười ngày rồi tiếp tục đi về phương bắc. Đến Võ Xương, Hồ Bắc, lễ hòa thượng Chí Ma tại chùa Bảo Thông; học đại bi sám pháp tại chùa xong, liền đi Cửu Giang, vào Lô Sơn, lễ hòa thượng Chí Thiện tại chùa Hải Hội; tham gia pháp hội niệm Phật. Sau đó, ghé tỉnh An Huy, thăm núi Hoàng Sơn, tới núi Cửu Hoa lễ tháp Địa Tạng Bồ Tát. Đến cung Bá Niên, lễ Bảo Ngộ hòa thượng. Ngài là một vị đại lão hòa thượng, giới hạnh tinh nghiêm, định lực bậc nhất. Băng qua sông, đến núi Bảo Hoa, lễ hòa thượng Thánh Tánh; lưu trú lại đây qua năm mới.

Trong hai năm, thân hành vạn lý, mọi thời đều đi bộ, chỉ trừ những lúc dùng thuyền vượt biển. Trèo núi băng sông, tuyết sương mưa gió, núi cao đồng vắng, chim thú lạ lùng, phong cảnh thay đổi ngày ngày. Tâm tịnh như trăng tròn lơ lững; thể lực tăng cường, bước đi lẹ làng, không thấy mệt nhọc, chỉ nhớ lại những tội phóng dật của mình lúc trước.

Người xưa bảo rằng đọc xong mười ngàn quuyển sách, phải nên đi mười ngàn dặm. Thật rất đúng!
Hết thẩy là khảo nghiệm,

Coi thử mình ra sao,

Ðối cảnh lầm không biết,

Phải luyện lại từ đầu.

Hòa Thượng Tuyên Hóa

http://www.dharmasite.net/
gioidinhhue
Cảm ơn, Thành viên Moderator (Xin thông báo BQT)
 
Bài viết: 953
Ngày tham gia: Thứ 5 03 Tháng 9, 2009 3:27 pm

Re: Biên Niên Tự Thuật của Thiền Sư Hư Vân

Gửi bàigửi bởi gioidinhhue » Thứ 3 30 Tháng 11, 2010 2:14 am

Quang Tự năm thứ 16, 51 tuổi. (1890/91)

Đến Nghi Hưng, lễ hòa thượng Nhân Trí, đang tu tại chùa Hiển Thân, là nơi xuất gia của Mật Tổ. Tôi ở đây qua mùa hè. Sau đó đến Cú Dong lễ hòa thượng Pháp Nhẫn. Tại đây tôi giúp ngài sửa chữa chùa Xích Sơn và ở qua mùa đông.

Quang Tự năm thứ 17, 52 tuổi. (1891/92)

Tại Kim Lăng giúp thượng nhân Tùng Nghiêm sửa chùa Tịnh Thành. Lúc bấy giờ, thường qua lại với cư sĩ Dương Nhân Sơn tham cứu luận Nhân Minh, luận Bát Nhã Đăng. Ở qua mùa đông tại chùa Tịnh Thành.

Quang Tự năm thứ 18, 53 tuổi. (1892/93)

Cùng các thầy Phổ Chiếu, Nguyệt Hà, Ần Liên lên núi Cửu Hoa sửa am tranh Thúy Phong để ở. Thầy Phổ Chiếu chủ giảng năm phần giáo nghĩa của kinh Hoa Nghiêm. Tông Hiền Thủ đã bị quên lãng rất lâu, nay nghe có giảng giáo nghĩa, chư tăng các xứ đến dự rất đông. Giáo nghĩa tông Hiền Thủ nay khởi dậy nơi miền xuôi sông Giang Hạ.

Quang Tự năm thứ 19, 54 tuổi. (1893/94)

Tôi vẫn ở tại am Thúy Phong nghiên cứu kinh điển. Mùa hè có pháp sư Đế Nhàn đến cùng an cư kiết hạ. Sau đó qua chùa Kim Sơn ở qua mùa đông.

Quang Tự năm thứ 20, 56 tuổi. (1895/96)

Hòa thượng trụ trì chùa Cao Mân tại Dương Châu đến núi Cửu Hoa, bảo: "Năm nay tại chùa Cao Mân có thí chủ họ Chu thỉnh các thầy làm pháp sự. Ông ta sẽ cúng dường và hộ trì chư tăng nhập thiền thất trong mười hai tuần tính luôn bốn tuần hiện tại. Lão hòa thượng Xích Sơn đã trở về chùa. Ngài ngưỡng mong chư vị trở về hộ trì thường trụ."

Khi kỳ thiền thất sắp đến, chúng tăng thúc dục tôi xuống núi trước. Khi vừa tới cảng Địch Câu, thuộc Đại Thông, tôi đi dọc theo bờ sông, gặp lúc nước lớn, muốn qua sông; người lái đò đòi trả sáu đồng, nhưng vì tôi không có đồng xu nào, nên ông chèo ghe bỏ đi. Vì vậy, tôi vẫn tiếp tục men theo bờ sông mà đi. Lại vì không cẩn thận nên hụt chân té xuống sông, bị trôi chìm cả một ngày đêm, đưa dạt đến vùng phụ cận của bến đá Thải Thạch. Ngư dân kéo lưới dính tôi, nên gọi một vị thầy chùa Bảo Tích đến nhận. Thầy ấy xưa kia có cùng tôi ở tại chùa Xích Sơn. Thầy hoảng hốt, bảo: "Đây là thầy Đức Thanh."

Sau đó tôi được khiêng về chùa và cứu sống lại. Khi ấy là ngày hai mươi tám tháng sáu. Máu từ miệng mũi, đại tiểu tiện chảy ra. Tôi ở lại đó vài ngày rồi vội đi đến chùa Cao Mân. Vị tăng tri sự thấy tôi gầy ốm nên hỏi: "Ngài có bịnh hoạn gì không?"

Đáp: "Không."

Lại yết kiến hòa thượng Nguyệt Lãng; hỏi han chuyện trên núi xong, liền mời tôi tạm thay mặt Ngài làm thiện tri thức cho chúng tăng trong những kỳ thiền thất sắp tới. Tôi lễ phép từ chối, lại không dám nói chuyện bị té xuống sông, chỉ cầu mong được đả thiền thất trong thiền đường. Gia phong chùa Cao Mân nghiêm ngặt; nếu được mời làm tăng chức sự mà cự tuyệt không nhận thì bị tội khinh tăng chúng của chùa. Như vậy, tôi bị phạm luật nên phải chịu ăn đòn. Tôi thuận chịu mà không nói chi. Bị đánh xong thì bịnh lại gia tăng thêm, máu chảy không ngừng, chỉ chờ chết. Trong thiền đường, ngày đêm tinh tấn, nhất niệm lắng trong, không biết thân là vật gì cả! Qua hơn hai mươi ngày, bịnh hoạn đều hết. Thầy Đức Ngạn trụ trì chùa Bảo Tích gần bến đá Thải Thạch đem y vật đến cúng dường, thấy mặt tôi sáng sủa, rất vui mừng. Lại kể việc tôi bị té sông cho đại chúng nghe; ai ai cũng khâm phục tán thán. Vị tăng nội thức trong thiền đường không còn bảo tôi luân trực nữa, nên tu hành dễ dàng. Từ đó muôn niệm đều dừng, công phu ngày đêm như một, hành động lẹ làng như gió. Tối nọ, khi cây hương thiền thất vừa đốt lên, tôi mở mắt ra, nhìn thấy mọi vật hiện như lúc ban ngày, trong ngoài đều rõ ràng. Cách tường đá thấy thầy hương đăng đang tiểu tiện, lại thấy thầy tri khách đang trong nhà cầu; xa nữa thấy một chiếc ghe đang chạy trên sông. Màu sắc hình dạng của hàng cây hai bên bờ sông đều thấy rõ. Lúc ấy là khuya canh ba. Hôm sau, hỏi thầy hương đăng cùng thầy tri khách thì quả thật đúng như việc tôi đã thấy đêm qua. Tôi biết đây là cảnh giới của thiền nên không cho là kỳ dị. Đến ngày thứ ba của tuần thiền thất thứ tám, lúc đốt cây nhang khai tỉnh thứ sáu, theo lệ thường, thầy hộ thất rót trà cho chư tăng trong thiền thất dùng. Khi đưa tách trà cho tôi, vì sơ ý, ly nước bị rớt xuống đất. Vừa nghe tiếng ly nước bể, căn nghi liền bặt dứt, tâm chợt ngộ đạo như vừa tỉnh giấc mơ. Nhớ lại vài mươi năm trước, nơi sông Hoàng Hà bị một gã tục hán hỏi mà không biết nước là gì. Nếu lúc đó, đạp nồi đất, thử xem Văn Cát còn nói gì nữa không!

Hôm nay, nếu không bị té sông bịnh nặng, không nhẫn cảnh nghịch cảnh thuận, không nghe sự giáo hóa của tri thức, chắc luổng phí một đời. Vì thế, viết kệ:

"Bối tử phát lạc địa,

Hưởng thanh minh lịch lịch.

Hư không phấn toái dã.

Cuồng tâm đương hạ hưu.

Năng khán thủ, đả phấn toái,

Gia phá nhân vọng ngữ nan khai.

Xuân chí hoa hương xú xứ tú.

Sơn hà đại địa thị Như Lai."

Dịch:

"Cốc nước rơi xuống đất,

Tiếng vang thật rõ ràng,

Hư không tan thành bụi,

Tâm cuồng liền thôi dứt
,

Tay thả lỏng, cốc nước rơi,

Nhà tan người mất thật khó nói,

Xuân đến hoa hương nơi nơi đều nở rộ,

Núi sông đất rộng là Như Lai
."

(Đại sự trong năm: Thành lập hòa ước Mã Quan, cắt Đài Loan cùng Liễu Đông Bán Đảo cho Nhật Bổn. Nga Anh Pháp khuyên Nhật Bổn trở lại Liêu Đông Bán Đảo)

http://www.dharmasite.net/tieusuhthv.htm
Hết thẩy là khảo nghiệm,

Coi thử mình ra sao,

Ðối cảnh lầm không biết,

Phải luyện lại từ đầu.

Hòa Thượng Tuyên Hóa

http://www.dharmasite.net/
gioidinhhue
Cảm ơn, Thành viên Moderator (Xin thông báo BQT)
 
Bài viết: 953
Ngày tham gia: Thứ 5 03 Tháng 9, 2009 3:27 pm

Re: Biên Niên Tự Thuật của Thiền Sư Hư Vân

Gửi bàigửi bởi gioidinhhue » Thứ 3 30 Tháng 11, 2010 2:40 am

Quang Tự năm thứ 22, 57 tuổi. (1896/97)

Mùa hạ, tôi đến chùa Kim Sơn tại Trấn Giang an cư kiết hạ. Lão hòa thượng Đại Định giữ tôi lại qua đông.

Quang Tự năm thứ 23, 58 tuổi. (1897/98)

Từ chùa Kim Sơn, tôi qua núi Lang Sơn lễ bái đạo tràng Bồ Tát Đại Thế Chí. Xong, liền trở lại chùa, gặp hòa thượng Đạo Minh mời tôi đến Dương Châu làm trợ lý cho chùa Trọng Ninh. Tháng tư, pháp sư Thông Trí giảng kinh Lăng Nghiêm tại Tiêu Sơn, thính chúng ngàn người. Ngài bảo tôi phụ giảng. Giảng kinh xong, từ biệt đại chúng xuống núi.

Tôi được sanh ra mà không gặp mẹ, chưa từng thấy dung mạo bà. Lúc còn ở nhà có thấy hình thờ. Mỗi lần nhớ đến thì tâm cang liền đau nhức. Xưa kia có nguyện rằng sẽ đến chùa A Dục Vương lễ xá lợi của Phật, rồi đốt ngón tay cúng Phật, cầu siêu độ mẹ hiền. Thế nên tôi đi Ninh Ba. Bấy giờ có pháp sư Huyễn Nhân cùng hòa thượng Kỳ Thiền (tức thiền sư có tám ngón tay, hành hạnh đầu đà) đang trông coi chùa Thiên Đồng, hòa thượng Hải Ngạn đang tu chỉnh lại gia phả Dục Vương Sơn Chí, đều mời tôi phụ giúp. Nhưng vì nguyện mới đến đấy, nên tôi lễ phép từ chối.

Tôi lễ xá lợi từ sáng sớm canh ba đến chiều tối; trừ khi ở ngoài điện đường, không dùng bồ đoàn, tọa cụ. Mỗi ngày lễ ba ngàn lạy. Tối nọ, đang lúc ngồi thiền nhập định, như mộng mà không phải mộng, thấy trên không có một con rồng vàng, bay vào điện xá lợi trước hồ Thiên Trì, thân dài cả mấy mươi thước, sắc vàng chiếu sáng. Tôi leo lên lưng, rồng liền bay đến một nơi núi sông hùng vĩ, cây cỏ hoa trái xanh xanh u mịt, lâu các cung điện, trang nghiêm kỳ diệu. Thấy mẹ mình đang đứng trên lầu các xem cảnh, liền gọi: "Mẹ ơi! Thỉnh mẹ lên lưng rồng. Rồng sẽ đưa mẹ qua cõi Tây Phương."

Rồng lập tức bay xuống. Ngay lúc ấy liền giật mình tỉnh giấc. Thân tâm cảm giác thanh tịnh trong sáng, cảnh giới rõ ràng. Đây là lần thứ nhất mộng thấy mẹ mình. Từ đó, mỗi ngày nếu có người đến xem xá lợi, tôi đều tham gia. Cách nhìn xá lợi của mỗi người đều khác biệt nhau. Tôi được xem nhiều lần. Ban đầu thấy hạt xá lợi lớn như hạt đậu, màu tím đen. Giữa tháng mười, sau khi lễ lạy hai đại tạng kinh Nguyên Thủy và Đại Thừa xong, lại xem lần nữa, thấy hạt cũng lớn như lần đầu, nhưng biến thành hạt châu màu đỏ. Tôi lễ lạy thêm nữa. Vì gấp rút cầu chứng nghiệm nên toàn thân đều đau nhức. Xem lần nữa, thấy hạt lớn hơn hạt đậu vàng, màu sắc nửa trắng nửa vàng. Đến lúc ấy, tin chắc rằng hạt xá lợi tùy theo căn tánh của mỗi người mà hiện. Lại gấp muốn cầu chứng nghiệm, gia tăng lễ bái. Đầu tháng mười một, chợt bị bịnh nặng, không thể lễ bái. Được đại chúng đưa đến ở tại hậu liêu Như Ý, nằm trên võng mà uống thuốc, không thể ngồi dậy. Bấy giờ, thầy thủ tọa Hiển Thân, thầy giám viện Tông Lượng, cô cư sĩ họ Lô, cùng chư vị khác tìm mọi phương thuốc để cứu trị cho tôi, nhưng chỉ phí tiền mệt sức, không thấy thuyên giảm chút nào. Đại chúng đều cho rằng duyên đời của tôi đến đây là hết. Tôi cũng nghĩ vậy, nhưng ngặt vì lời nguyện đốt ngón tay cúng Phật chưa thành, nên tâm sanh khổ não. Đến ngày mười sáu, có tám vị khách tăng vào lều thăm, nghĩ là bịnh tình của tôi không nặng cho lắm, nên định giúp tôi đốt ngón tay cúng Phật. Tôi nghe thế, biết rằng ngày may sẽ bắt đầu nên kiên trì thỉnh cầu tham gia, nhưng chư thủ tọa cùng các vị thầy khác không tán thành, sợ nguy hiểm đến tánh mạng. Tự dưng nước mắt tôi cứ tuôn trào như suối mà thưa: "Có ai tránh khỏi chết sống đâu. Vì muốn báo đáp ân mẹ hiền nên phát nguyện đốt ngón tay cúng Phật. Không thể vì bịnh mà ngưng. Nếu không, sống có ích lợi chi? Tôi sẵn sàng đón nhận cái chết!"

Giám viện Tông Lượng (lúc ấy chỉ mới hai mươi mốt tuổi) nghe thế cũng rơi lệ, nói: "Ngài chớ lo phiền. Tôi sẽ hộ trợ Ngài thành tựu nguyện lực. Ngày mai tôi sẽ lo tế trai và chuẩn bị mọi việc để giúp Ngài."

Tôi chấp tay cảm tạ.

Sáng ngày mười bảy, giám viện Tông Lượng mời sư đệ của thầy là Tông Tín hộ giúp tôi đốt ngón tay.
Nhiều người luân phiên lên chánh điện phụ giúp lễ Phật. Sau khi tụng qua các nghi lễ, đến lúc đại chúng niệm văn sám hối, tôi nhất tâm niệm Phật, siêu độ mẹ hiền. Lúc đầu cảm giác toàn thân rất đau nhức. Kế đến, tâm từ từ thanh tịnh lắng trong; cuối cùng tri giác trong sáng. Vừa niệm đến câu Pháp giới tạng thân A Di Đà Phật, thì toàn thân tám mươi ngàn sợi lông đều dựng đứng. Sau khi đốt ngón tay xong, tôi tự đứng dậy lễ Phật, không nhờ người đỡ, lúc bấy giờ không biết thân mình đang mang bịnh, tự đi đến lễ tạ đại chúng. Trở về hậu liêu, cảm thán việc hy hữu này. Hôm đó dời ra khỏi hậu liêu Như Ý. Hôm sau, ngâm ngón tay bị thương vào nước muối cả ngày, không còn bị chảy máu nữa. Vài ngày kế, da thịt liền lại, từ từ lễ bái như thường.

Tôi trú tại chùa A Dục Vương qua năm mới.

(Phụ chú: Tên chùa, xưa là Quảng Lợi, sau lại đổi ra A Dục Vương, phía nam huyện Ninh Ba làng Nam Hương. Xưa, sau khi Phật diệt độ khoảng hai trăm năm, có vua A Dục trị vì tại trung Thiên Trúc, Ần Độ, phân xá lợi của Phật ra làm tám mươi bốn ngàn viên, để thờ trong bảo tháp. Sai khiến quỷ thần đem chôn nhiều chỗ. Về phía đông Ần Độ, tức nước Trung Hoa, có mười chín chỗ, lần lần xuất hiện, như núi Ngũ Đài và chùa A Dục Vương. Trong núi Ngũ Đài, có tháp xá lợi rất lớn nhưng khó mà thấy được. Đời vua Tấn Võ Đế niên hiệu Thái Khang năm thứ ba (282-3 AD), khi thiền sư Huệ Đạt lễ bái thỉnh cầu xá lợi Phật, thì từ dưới đất, xá lợi Phật liền vọt lên. Sau đó, một ngôi chùa được kiến lập lấy tên là A Dục Vương, còn xá lợi thì được để trong tháp đá. Cửa tháp thường đóng, nếu muốn ngắm xem xá lợi thì đầu tiên phải cho vị tháp chủ biết. Vào chánh điện lễ Phật xong, ra ngoài điện quì trên thềm đá; người muốn ngắm xem thì phải y theo thứ tự mà quì. Tháp chủ thỉnh tháp xá lợi ra. Tháp cao một thước bốn tấc, rộng khoảng trên một thước. Ở giữa tháp có treo một chuông thật tâm trong đó có một cây kim. Xá lợi đặt kế cây kim đó. Người ngắm xem, thấy hạt xá lợi lớn nhỏ, nhiều ít không đồng. Bình thường thì thấy một hạt hoặc ba hạt, màu xanh vàng đỏ trắng. Nếu thấy hoa sen cùng tượng Phật đó là người có duyên thù thắng với đạo. Đời nhà Minh, niên hiệu Vạn Lịch có giám quan sử bộ là Lục Quang Tổ cùng thân hữu đến xem. Mới đầu thấy như hạt đậu nhỏ, kế đến thấy như hạt đậu lớn, kế thấy như trái chà là, quả dưa hấu, rồi lại như bánh xe lớn, quang minh chiếu sáng, khiến thân tâm thanh tịnh trong sáng. Lúc bấy giờ điện xá lợi bị hư hại, Lục Quang Tổ phát tâm sửa chữa, trang nghiêm cho đến ngày nay. Đấng Như Lai vì lòng đại bi nên lưu lại pháp thân chân thể, để chúng sanh đời vị lai sinh tâm chánh tín.)

(Đại sụ trong năm: Đức thuê vịnh Giao Châu. Vua Triều Tiên xưng Hoàng Đế Đại Hán)

Quang Tự năm thứ 24, 59 tuổi. (1898/99)

Đầu năm, vẫn trú tại chùa A Dục Vương. Nhân chùa Thất Tháp ở Ninh Ba có đúc một đại hồng chung, hòa thượng Quy Y, hòa thượng Bổn Lai thỉnh pháp sư Mặc Am giảng kinh Pháp Hoa. Chư hòa thượng đến chùa A Dục Vương thỉnh tôi phụ giảng. Thế nên, tôi tới chùa Thất Tháp. Giảng kinh xong, đến núi Đồng Quan, Nghi Hưng kết am tranh ở qua năm mới.

Quang Tự năm thứ 25, 60 tuổi. (1899/00)

Hòa thượng Kết Sâm và Bảo Lâm mời tôi qua Đan Dương trùng tu lại chùa Tiên Thai. Tôi an cư kiết hạ tại đây. Tháng bảy, đến Câu Dong, Giang Tô; hòa thượng Pháp Nhẫn tại Xích Sơn cho phép tôi ở lại am tranh với Ngài.

(Đại sự trong năm: Anh thuê Cửu Long Bán Đảo. Pháp thuê vịnh Quảng Châu)

http://www.dharmasite.net/tieusuhthv.htm
Hết thẩy là khảo nghiệm,

Coi thử mình ra sao,

Ðối cảnh lầm không biết,

Phải luyện lại từ đầu.

Hòa Thượng Tuyên Hóa

http://www.dharmasite.net/
gioidinhhue
Cảm ơn, Thành viên Moderator (Xin thông báo BQT)
 
Bài viết: 953
Ngày tham gia: Thứ 5 03 Tháng 9, 2009 3:27 pm

Re: Biên Niên Tự Thuật của Thiền Sư Hư Vân

Gửi bàigửi bởi gioidinhhue » Thứ 3 30 Tháng 11, 2010 2:54 am

Quang Tự năm thứ 26, 61 tuổi. (1900/01)

Tôi ở tại hai tỉnh Giang Tô và Triết Giang đã hơn mười năm, lại muốn đi du hành. Mục đích kỳ này là định trở lại lễ bái núi Ngũ Đài, sau đó vào núi Chung Nam ẩn tu. Thế nên, tôi rời Xích Sơn. Đầu tiên đến Trấn Giang Dương Châu, lễ núi Vân Đài. Vào Sơn Đông, đến lễ núi Thái Sơn. Lại thẳng về đông đến Lao Sơn, tới hang Na La Diên, tức chùa Hải Ần của thiền sư Hám Sơn. Trở lại Khúc Phụ, lễ lăng miếu Khổng Tử. Hôm nọ, trên đường đi về hướng tây, ngủ tại một miếu hư, trống không, chỉ có một quan tài, nắp hòm xoay ngược, tưởng không có người, liền leo lên ngủ. Giữa đêm, nghe trong hòm có tiếng kêu: "Tôi muốn đi ra!"

Hỏi: "Ông là người hay là ma?"

Đáp: "Là người."

Hởi: "Ông là người gì?"

Đáp: "Là ăn xin."

Tôi cười thầm, ngồi dậy, cho gã đi ra. Hình dạng gã xấu xí như ma, hỏi tôi là ai.

Đáp: "Là hòa thượng."

Gã nổi xung, bảo rằng tôi leo lên đầu gã mà nằm, nên định đánh. Tôi bảo rằng nằm trên nóc hòm mà không động đậy gì được, hà huống muốn đánh. Gã thấy khí lực yếu, nên bỏ đi, ra ngoài tiểu tiện, rồi lại trèo vào hòm nằm tiếp. Trời vừa hừng sáng, tôi rời chỗ ấy.

Bấy giờ, quân Nghĩa Hòa Đoàn tại các huyện thuộc tỉnh Sơn Đông đang khởi loạn. Ngày nọ, trên đường, gặp một gã lính lê dương, lấy súng chỉ thẳng vào người tôi rồi hỏi: "Có sợ chết không?"

Đáp: "Nếu phải chết trên tay ông, thì cứ bắn đi!"

Gã lính thấy thần sắc của tôi không đổi nên nói: "Tốt lắm, ông đi đi."

Tôi vội đi Ngũ Đài. Hành hương xong, muốn qua núi Chung Nam. Vì đao binh ngày càng loạn lạc, tôi lại trở về Bắc Kinh, qua chùa Tây Thành, lễ kinh Thạch Tạng. Tại núi Đàm Tạng, gặp một vị du tăng kỳ dị. Sau đó, đến chùa Giới Đài lễ tháp thiền sư Phi Bát. Nơi núi Hồng Loa tham gia đạo tràng niệm Phật. Qua chùa Đại Chung xem chuông đồng được Dao Quảng Hiếu đúc. Chuông nặng 87.000 cân, cao mười lăm thước, rộng mười bốn thước, trên đỉnh cao bảy thước; bên ngoài khắc một bản kinh Hoa Nghiêm; bên trong khắc một bản kinh Pháp Hoa; kinh Kim Cang được khắc nơi vòng biên của chuông; trên đỉnh có khắc chú Lăng Nghiêm. Chuông này do vua Vĩnh Lạc đời nhà Minh đúc cúng dường để cầu nguyện cho mẹ ông siêu sanh.

Tôi trở lại phía nam của thành, trú tại chùa Long Tuyền.

Tháng năm, loạn quân Nghĩa Hòa Đoàn ngày một tăng, lấy lời hiệu triệu "Phù Thanh Diệt Dương", giết thư ký của sứ quán Nhật cùng công sứ của nước Đức, do Hoàng Thái Hậu âm mưu. Đến ngày mười bảy tháng bảy, Hoàng Đế hạ chiếu cùng liên quân các nước tuyên chiến. Đại loạn trong thành Bắc Kinh. Lúc ấy, các vương công đại quan, những vị đã từng trú ngụ tại chùa Long Tuyền, đều khuyên tôi nên cùng họ hộ giá đi về miền tây. Trong cơn binh hoang ngựa loạn, không còn sự oai nghi lẫm lẫm của một vị Thiên Tử như lúc bình thường. Ngày đêm ruỗi chạy, gian khổ muôn vàn. Tới huyện Phụ Bình, đoàn hộ giá nghe tin tướng Cam Phiên, Sầm Xuân Tuyên dẫn quân đến hộ giá vượt Vạn Lý Trường Thành. Hoàng Đế cùng Thái Hậu rất vui mừng. Đoàn hộ giá vào huyện Nhạn Môn thuộc tỉnh Sơn Tây. Nơi đây có chùa Vân Môn, do một vị lão tăng, trên một trăm hai mươi bốn tuổi, trụ trì. Hoàng Đế ban lụa vàng cho vị lão tăng và sai người sửa chữa phòng ốc trong chùa. Đoàn hộ giá lại đi về hướng tây, đến Bình Dương, vùng đất biên địa hoang vu. Nhân dân trong vùng dâng khoai rừng cho Hoàng Đế. Vì đang đói khát nên Hoàng Đế và Thái Hậu ăn rất ngon lành. Đến Tây An, Hoàng Đế trú tại dinh phủ. Nơi đó, dân chúng hiện đang đói rách khổ sở, có người dám ăn cả thây chết. Hoàng Đế liền ra lệnh cấm việc này và dựng tám lều vải nơi phía tây của thành để phân phát thức ăn cho dân nghèo. Tại các thôn xóm lân cận, cũng chẩn tế cứu giúp dân nghèo như thế. Tướng Sầm Xuân Tuyên thỉnh tôi đến chùa Ngọa Long lập đàn tràng cho pháp hội tiêu tai giải nạn. Làm Phật sự xong, lão hòa thượng Đông Hà mời tôi trú tại chùa Ngọa Long. Thấy đoàn hộ giá ngày càng có nhiều việc phiền rộn, nên tôi lặng lẽ bỏ đi.

Tháng mười, tôi lên núi Chung Nam kết am tu hành. Đằng sau ngọn Gia Ngũ Đài tôi tìm được động Sư Tử. Vùng này yên tĩnh, không bị bên ngoài làm phiền muộn. Nơi đây, tôi đổi tên lấy hiệu là Hư Vân mãi về sau.

Núi thiếu nước nên tôi nấu tuyết ra để uống, trồng vài loại rau dại để dùng. Lúc bấy giờ, trên núi có thầy Bổn Xương trú tại núi Phá Thạch, thầy Diệu Liên trú tại miếu Quan Đế, thầy Đạo Minh trú tại động Ngũ Hoa, thầy Diệu Viên trú trong một am tranh cũ, thầy Thanh Sơn trú tại sau núi. Thầy Thanh Sơn là người Hồ Nam, được tăng chúng trên núi tôn kính hơn hết. Tôi thường qua lại với thầy vì ở gần bên cạnh.

Tháng tám, ba thầy, Phục Thành, Nguyệt Hà, Liễu Trần đến am, gặp tôi liền nói: "Bao năm tháng không biết tin tức, ai ngờ được Thầy đang ngủ ở đây!"

Tôi đáp: "Hãy gác chuyện nầy lại, vậy chứ miền dưới hiện nay như thế nào?"

Sau đó chúng tôi đảnh lễ lẫn nhau, rồi cùng ăn khoai rừng. Xong, tôi dẫn các thầy đến núi Phá Thạch. Lão pháp sư Nguyệt Hà nói: "Lão nhân Pháp Nhẫn núi Xích Sơn rất ưu phiền vì hoàn cảnh xung quanh. Hiện tại, Ngài đang giảng kinh Pháp Hoa tại chùa Qui Nguyên, Hán Dương; vì muốn ra đất bắc, mới nhờ tôi đi trước, tìm chỗ."

Thầy Nguyệt Hà lại mời tôi cùng đi tìm đất. Vì đang tu tập thiền định nên tôi khước từ lời mời. Vừa nhập một thiền thất xong thì các thầy Hóa Thành, Dẫn Nguyệt, Phục Giới v.v... tìm được đất tại núi Thúy Vi trở về. Thầy Nguyệt Hà hỏi tôi xem có ý kiến chi. Tôi đáp: "Đất ấy, bắc hướng Bạch Hổ, Thái Bạch, phía sau lại không có núi để tựa. Vậy, không phải là đất lành."

Các thầy không nghe lời bàn của tôi nên sau này phải chiêu lấy hậu quả.

Đông đến, lão nhân Thanh Sơn nhờ tôi đi Trường An mua đồ. Mua xong, trên đường trở về núi gặp lúc tuyết rơi dữ dội. Vừa trèo lên núi để về am tranh thì tôi bị trợt chân xuống vũng tuyết sâu dưới chân núi. Tôi kêu cầu cứu. Thượng nhân Nhất Toàn ở bên cạnh am đến cứu. Y phục trong ngoài đều bị ướt. Trời cũng vừa chập tối. Biết hôm sau tuyết sẽ rơi đầy khắp nơi, lấp mất đường lộ, nên tôi dò dẫn lối đi trong tuyết lạnh, để trở về am tranh, rồi đến chỗ thầy Thanh Sơn. Thấy hình dáng xốc xếch, thầy cười và bảo rằng tôi chẳng làm nên tích sự gì. Tôi chỉ gật đầu rồi trở về am mình trú qua năm.

Quang Tự năm thứ 27, 62 tuổi. (1901/02)

Tôi vẫn ở tại am tu thiền trong mùa xuân và hạ. Lão nhân Pháp Nhẫn từ Xìch Sơn đến đất Thiểm Tây, kết am tại núi Thúy Vi, cùng với hơn sáu mươi vị. Phân nửa trú tại chùa Hoàng Dụ. Phân nửa trú tại am tranh mới cất và chùa Hưng Thiện. Khi đó, tướng họ Tô đang khai khẩn đất hoang ở miền bắc. Ông lấy ấp Bá Than, rộng khoảng một trăm mẫu cấp cho tăng chúng núi Thúy Vi, trồng trọt sinh sống tu hành. Người địa phương không chấp thuận. Họ bảo nơi đó là đất tổ tiên trú ngụ bao đời, không thể cắt ruộng xẻ đất cho ai. Chư tăng không khứng chịu. Thế nên, việc này phải đem ra tòa xử lý. Chư tăng thua kiện. Lão pháp sư Pháp Nhẫn rất bực tức, nên năm sau trở về Nam, và đem tất cả pháp khí, vật dụng trả lại cho thầy Thể An, Nguyệt Hà. Bốn chúng sau đó phân tán. Mỗi lần nhớ đến chuyện rắc rối này, nhận thấy là chớ cậy chút uy quyền mà kết cuộc phải mang lấy tai họa. Từ đó, chư tăng từ miền nam lên đất bắc đều bị ít nhiều tai tiếng. Vì thế, không thể coi thường hình thể núi sông mà cho là không quan hệ đến việc tu hành.

Gần cuối năm, núi non đều đóng tuyết, hang sâu khí lạnh buốt xương. Một mình tôi đơn độc tu trì trong am tranh, thân tâm thanh tịnh. Ngày nọ, sau khi bỏ khoai vào nồi, tôi ngồi xếp bằng đợi khoai chín, tự nhiên nhập định

http://www.dharmasite.net/tieusuhthv.htm
Hết thẩy là khảo nghiệm,

Coi thử mình ra sao,

Ðối cảnh lầm không biết,

Phải luyện lại từ đầu.

Hòa Thượng Tuyên Hóa

http://www.dharmasite.net/
gioidinhhue
Cảm ơn, Thành viên Moderator (Xin thông báo BQT)
 
Bài viết: 953
Ngày tham gia: Thứ 5 03 Tháng 9, 2009 3:27 pm


Quay về Lịch sử Phật Giáo

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến1 khách

cron