Diễn đàn Tu viện Phật giáo Việt nam


Phật đản qua kinh sách

Mời Quý Vị thảo luận về Lịch sử Phật Giáo Việt Nam và thế giới

Các điều hành viên: Sen Hong, Bất Nhị, TUỆ LÂM

Phật đản qua kinh sách

Gửi bàigửi bởi gioidinhhue » Thứ 7 14 Tháng 11, 2009 7:24 pm

Trần Kiêm Đạt on 20/03/2008 03:45

Đản sinh hay giáng sinh

Khi trình bày về những dữ kiện về đức Thế Tôn ra đời, các
nhà nghiên cứu thường dùng những từ “đản sinh” hay “giáng
sinh” hay “thị hiện”. HT. Thích Thiện Hoa phân biệt như sau:
Thường trong danh từ nhà Phật, khi nói đến sự hiện diện của
đức Phật Thích Ca trong cõi đời này, người ta thường dùng
chữ đản sinh (nghĩa là một sự ra đời vui vẻ, làm hân hoan,
xán lạn cho cõi đời); hay thị hiện (nghĩa là hiện ra bằng
xương bằng thịt, cho con mắt trần của chúng ta thấy được);
hay giáng sinh (nghĩa là từ một chỗ cao mà xuống một chỗ thấp
để sinh ra).

Ba chữ ấy đều có 3 ý nghĩa khác nhau: Chữ đản sinh dùng để
ca tụng một bậc tôn quí ra đời; chữ thị hiện hàm cái ý
Phật bao giời cũng có cả, nhưng vì mắt người không thấy
được, phải hiện rõ ràng ra mới thấy; chữ giáng sinh hàm cái
ý đức Phật ở một cảnh giới cao hơn, tốt đẹp hơn mà hạ
xuống cảnh giới phàm trần này.
Ba chữ ấy mặc dù khác nhau, nhưng đều có thể dùng để chỉ
sự ra đời của đức Phật. Trái lại, khi một nguời phàm ra
đời thì gọi là "đầu thai". Đầu thai có nghĩa là bị nghiệp
báo hoặc thiện hay ác bắt buộc phải luân hồi để chịu quả
báo lành hay dữ. Còn giáng sinh hay thị hiện thì không hàm cái

nghĩa bị nghiệp nhân câu thúc, mà do nơi lòng từ bi, muốn lợi
ích cho chúng sinh, nên tự nguyện ứng thân xuất hiện ra đời
trong một thời gian để cứu độ chúng sinh; xong xuôi thì thâu
thần tịch diệt, tự tại vô ngại ra ngoài sống chết.
Phật đản sinh theo Nam tạng và Bắc Tạng
Nam tạng và Bắc tạng nhìn khác nhau về đức Phật, Thượng
tọa bộ và Đại chúng bộ cũng nhìn khác nhau về Ngài. Bắc
tạng cho rằng đức Phật đã thành Phật từ lâu, kiếp này chỉ
là thị hiện.
Nam tạng thì cho rằng kiếp này của Thế Tôn là kiếp cuối cùng
thành Phật; kiếp trước đây, Ngài là Bồ Tát ở cung trời
Đâu-suất (Tusita) -- cõi trời thứ tư trong sáu cõi trời Dục
giới (Tứ thiên vương, Tam thập tam, Dạ-ma, Đâu suất. Hóa lạc
và Tha hóa tự tại). Cõi này có bốn ngàn tuổi thọ, tương
đương với năm trăm bảy mươi sáu triệu năm của con người
trên trái đất (theo kinh Đại Bản, Trường Bộ kinh III; kinh Hi
Hữu Vị Tăng Hữu Pháp, Trung Bộ III; Vị Tăng Hữu Pháp, Trung
A-hàm, số 32 đại I, 469c; và Kinh Tập, Tiểu Bộ kinh).
Quan niệm của Bắc tạng thì tương tự với quan niệm tôn giáo
của phần lớn các tôn giáo khác, thường có khuynh hướng siêu
thực, Thánh hóa vị Giáo chủ. Thượng tọa bộ thì nhìn đức
Phật một cách hiện thực hơn, đi sát với các sự kiện lịch
sử. Nhưng cả hai Nam và Bắc tạng, đều xác nhận: trước khi
thành Phật, Thế Tôn được gọi là một Bồ Tát ở Đâu-suất.
Cách nay chín mươi mốt kiếp (1 kiếp "kappa, kalpa": bằng đời
sống của một thế giới, bằng một ngày đêm của cõi trời
Phạm thiên, bằng bốn ngàn ba trăm hai mươi triệu năm ở trái
đất: theo Tự điển Sanskrit của Amarasimhakosa), Thế Tôn Ti`-bà-thi
(Vipassi) ra đời.
Cách nay ba mươi mốt kiếp, Thế Tôn Thi-khí (Sikhi), Tỳ-xá-phù
(Vessasbhù), Câu-lưu-tôn (Kakusandha), Câu-na-hàm (Konàgamana) và Thế
tôn Ca-diếp (Kassapa) đã ra đời. (Theo kinh Đại Bồn và Vị Tằc
Hữu Pháp, như vừa trích dẫn ở trên).
Ở Đâu-suất, Thế Tôn luôn luôn an trú trong chính niệm tỉnh
giác. Một lần, một số chư Thiên ở Đâu-suất và chư Thiên ở
các cõi Sắc giới, "các vị Trời trước đây đã được Thế
Tôn Tỳ-bà-thi giáo hóa - thuật lại cho Bồ Tát nghe về các sự
kiện chư Thế Tôn trước đây đã ra đời và thỉnh cầu Bồ Tát
xuống trần để hóa độ chúng sinh". Nay là thời điểm của
đức Thế Tôn.
Đức Phật đản sinh viết theo Bản Sinh Truyện (Jataka)
Kinh Hi Hữu Vị Tằng Hữu Pháp; Vị Tằng Hữu Pháp có đoạn
chép: Khi hết tuổi thọ ở Đâu-suất, Bồ tát chính niệm tỉnh
giác đi vào thai mẹ, Hoàng hậu Ma-da (Màyadevi) ở kinh thành
Ca-tỳ-la-vệ (Kapilavatthu, Skt. Kapilavastu).
Bấy giờ một hào quang kỳ diệu, thắng xa hào quang chư Thiên,
thắng xa ánh sáng mặt trời, soi sáng khắp các cõi, khắp đến
những nơi tối tăm mà ánh sáng mặt trời không thể soi thấu,
mười nghìn thế giới rung động, chấn động mạnh.
Bồ tát ở trong thai mẹ như ở trong chiếc hộp kim cương trong
sáng, có bốn Thiên tử canh gác bốn góc trời, không để cho loài

Người hay khác loài Người xúc phạm đến thai nhi và Hoàng hậu.
Trong lúc mang thai, người mẹ hưởng đầy đủ năm dục công
đức (sắc, thanh, hương, vị, xúc) và thấy rõ thai nhi như thấy
rõ viên ngọc ở trong lòng bàn tay, với đầy đủ các bộ phận
của cơ thể, rất hoàn mỹ. Thời gian mang thai là mười tháng.
Trong thời gian này, tâm người mẹ thường hoan hỷ, không khởi
lên dục ý với bất cứ người khác phái nào.


Đản sinh và huyền thoại

Theo truyền thuyết Phật giáo, mẹ của Bồ tát đứng mà sinh.
Hoàng hậu Ma-Gia sinh Hoàng tử nơi cội hoa Vô-Ưu, khi đang thưởng
hoa ở vườn Ngự Lâm-tỳ-ni (Lumbini).

Khi ra khỏi lòng mẹ, Thái tử oai nghiêm như một Pháp sư đang
bước xuống Pháp tòa, sáng chói như một viên hồng ngọc, thanh
tịnh, không dính một chất dơ nào từ lòng người mẹ, chân Thái
tử không chạm đất, có bốn Thiên tử đỡ (rồi chuyển qua tay
con người), đặt Thái tử trước Hoàng hậu và thưa: "Hoàng hậu
hãy hoan hỷ. Hoàng hậu vừa sinh một vĩ nhân".


Từ hư không có một dòng nước ấm và một dòng nước mát tắm
gội cho Thái Tử và Hoàng hậu. Thái tử đứng vững chân, mặt
hướng về phương Bắc, buớc đi bảy bước (đây là bảy bước
đi truyền thống của chư Phật), có lọng trắng che, nhìn khắp
mọi phương, rồi cất tiếng nói với giọng êm ả như tiếng chim
Ca-lăng-tần-già (sống ở Hi-mã), vừa trầm hùng như tiếng Ngưu
vương, rằng: "Ta là bậc Tối thượng ở đời. Ta là bậc Tôn
kính ở đời. Nay là đời sống cuối cùng, không còn sinh lại
nữa".

Truyền thống kinh Bắc tạng và A-hàm (Kinh Đại Bản Duyên) cho
rằng Thái tử sinh ra từ hông bên hữu của Hoàng hậu, bước đi
hay bước, tay chỉ trời, tay chỉ đất mà nói rằng: "Trên trời
và dưói đất chỉ có Ta là hơn cả". Bấy giờ, một hào quang
kỳ diệu... chiếu khắp mưòi nghìn thế giới, các thế giới
đều chấn động, rung động.

Ba mươi hai tướng tốt

Sau khi Thái tử Tất-Đạt-Đa đản sinh, vua cha Tịnh-Phạn triệu
tập các vị tinh thông tướng số đến tiên đoán vận mệnh cho
Thái tử. Các vị xem tướng xong, đồng tâu lên rằng: “Thái tử
có đủ 32 tướng tốt của một Bậc Đại nhân, thật hiếm có
trên đời. Đây là những dấu hiệu báo trước Ngài sẽ là Bậc
vĩ nhân đệ nhất trong thiên hạ. Nếu Ngài làm vua, sẽ là vị
Chuyển luân Thánh vương; nếu xuất gia tu hành, Ngài sẽ là Bậc
Đại Giác Ngộ”.

Nhà vua truyền lệnh cho các thợ điêu khắc tài giỏi trong
nước tạc tượng Đức Phật theo mẫu vẽ ấy. Nhưng không
người thợ nào dám nhận nhiệm vụ, vì “Sắc tướng Đức Thế
Tôn vạn lần cao quý, siêu tuyệt trần gian; nếu không chuyển
tải được những đức tướng ấy trên tượng thì e đắc tội
với Ngài”.

Có một vị Thiên nhân chuyên về kiến trúc tên Tỳ-Thủ Yết-Ma
hóa thân làm thợ mộc, yết kiến nhà vua xin nhận việc. Chỉ sau
một ngày, vị Trời ấy đã tạc xong pho tượng Đức Phật bằng
gỗ trầm hương, cao 7 thước mộc, mặt và tay chân đều màu vàng
tía. Nhà vua vừa trông thấy bức tượng, phát sinh đức tin thanh

tịnh, chứng Nhu thuận nhẫn, bao nhiêu nghiệp chướng phiền não
đều được tiêu trừ (kinh Đại thừa công đức tạc tượng
Phật - Đại chính Tân tu Đại tạng kinh). Các tài liệu Phật
học mô tả 32 tướng tốt của Đức Phật có đôi chỗ khác nhau,
nhưng tựu trung có thể kể ra như sau:

1- Đỉnh đầu có nhục kế.
2- Tóc màu xanh đậm, xoăn thành vòng theo chiều bên phải.
3- Trán rộng và bằng phẳng.
4- Khoảng giữa hai chân mày có một sợi lông trắng mịn.
5-Mắt xanh biếc, mi dài như mi ngưu vương.
6- Có đủ 40 răng.
7- Răng nhỏ và đều khít.
8- Răng trơn láng, trắng trong như ngọc.
9- Chân răng rất sâu, không khuyết hở.
10- Lưỡi rộng và dài, có thể chạm đến chân tóc trên trán.
11- Nước trong cổ họng có vị ngọt thơm.
12- Quai hàm như hàm sư tử
13- Giọng nói trong ấm và vang xa như tiếng Phạm vương.
14- Thân hình thon cao.
15- Da mịn màng, màu như vàng ròng, bụi không thể bám vào.
16- Lông trên mình màu xanh và mềm mại, đều xoay tròn theo chiều
bên phải.
17- Mỗi lỗ chân lông chỉ có một sợi lông mọc.
18- Bảy chỗ bằng phẳng và đều đặn.
19- Nửa thân trên như thân sư tử.
20- Không có khuyết lõm giữa hai vai.
21- Hai tay buông thỏng dài đến đầu gối.
22- Đầu cánh tay trắng tròn.
23- Ngón tay thon dài.
24- Tay chân mềm mại.
25- Lòng bàn chân có đủ 1.000 xoáy trôn ốc.
26- Kẻ ngón chân có màng da lưới.
27- Âm tàng như mã vương.
28- Đùi như lộc vương.
29- Gót chân thon, tròn đẹp.
30- Mắt cá chân tròn, không lộ ra.
31- Mu bàn chân cao và đều đặn.
32- Lòng bàn chân bằng phẳng, có hình bánh xe.
Hình ảnh đức Thế tôn đản sinh qua lối nhìn của A Tư Đ�
Ngày Thái Tử Tất Đạt Đa (Shirdarta) đản sinh là ngày hội vui
lớn của toàn vương quốc. Dân chúng xa gần kéo về kinh đô
Kapilavastu ăn mừng. Một vị Đạo sư già tên là Asita (A Tư Đà)
cũng từ nơi ông tu hành trên núi Himalaya (Hy mã lạp sơn) đến
cung vua để chào mừng và xem tướng Thái tử.
Gặp Thái tử, đạo sĩ Asita bỗng nhiên chắp tay vái chào với
thái độ hết sức cung kính. Đạo sĩ tuy cuời mà vẻ mặt thoáng
buồn. Được hỏi vì cớ sao, Đạo sĩ Asita trả lời là ông
mừng vì Thái tử tương lai sẽ thành Phật, bậc giác ngộ và
thượng, nhưng ông buồn vì ông tuổi đã quá cao, ắt phải qua
đời mà không được vị Phật tương lai trực tiếp giáo huấn,
giác ngộ. Trong kinh Sutta-Nipata (Kinh Tập, 101), có kể truyện
đạo sĩ Asita đang tu trên núi Tuyết sơn, được chư Thiên mách
bảo, bèn xuống núi, đến thành Kapilavastu xem tướng cho Thái tử.
"Thấy Thái tử chói sáng - Rực rỡ như vàng chói, - Trong lò
đúc nấu vàng, Được thợ khéo luyện thành Bừng sáng và rực
rỡ, Với dung sắc tuyệt mỹ... Sau khi thấy Thái tử, Chói
sáng như lửa ngọn, Thanh tịnh như sao Ngưu, Vận hành giữa hư
không, Chói sáng như mặt trời, Giữa trời thu mây tạnh. Ấn
sĩ tâm hân hoan Được hỷ lạc rộng lớn".
Và đạo sĩ Asita nói là Thái tử tương lai sẽ tu chứng Phật
quả, vì lòng từ thương xót chúng sinh mà truyền bá chính pháp
trên thế gian này."Thái tử này sẽ chứng, Tối thượng quả Bồ
đề, Sẽ chuyển bánh xe Pháp, Thấy thanh tịnh tối thẳng, Vì
lòng từ thương xót, Vì hạnh phúc nhiều người, Và đời sống
phạm hạnh, Được truyền bá rộng rãi".
Nhưng vì nghĩ mình đã già, không còn sống được bao lâu nữa,
để có thể trực tiếp nghe Đức Phật thuyết pháp, cho nên đạo
sĩ buồn và nói: "Thọ mạng ta ở đời, Còn lại không bao nhiêu,
Đến giữa đời sống Ngài, Ta sẽ bị mệnh chung. Ta sẽ không
nghe Pháp, Bậc tinh cần vô tỷ, Do vậy ta sầu não, Bất hạnh và
khổ đau..." (Kinh Tập, 103)
Kho tư liệu về đức Phật đản sinh
Thời gian gần đây, nhiều học giả đã nỗ lực xây dựng lại
cuộc đời Đức Phật lịch sử – bậc Thánh Triết của dòng
họ Thích-ca (‘Saakyamuni). Tác phẩm "Cuộc Đời Đức Phật qua
Truyền Thuyết và Lịch Sử" (The Life of the Buddha as Legend and
History) của ông E. J. Thomas (1927) là quyển cổ điển nhất.
Một tác phẩm uyên bác quý báu thứ hai là của Tỳ-kheo
~Nyaa.namoli. "Cuộc Đời Đức Phật" (The Life of the Buddha) (1972).
Tác phẩm này bao gồm những bản dịch chọn lọc từ kinh điển
Pali và các bản sớ giải đã được sắp xếp và xác định tác
giả, chẳng hạn như được những vị đệ tử trực tiếp của
Đức Phật như Ngài A-nan-đa (Ananda), Ưu-ba-ly (Upaali) trùng tuyên,
hoặc các bản giải thích của những nhà sớ giải truyền thống.
Khi làm việc với các tham khảo liên hệ đến các sự kiện
lịch sử quý hiếm này, một cách khác của việc xây dựng lại
cuộc đời Đức Phật là phải chú ý nghiêm túc đến những tư
tưởng triết học mà Ngài đã trình bày, và làm thế nào để
phản ánh những triết lý ấy qua đời sống và hạnh nguyện của
Ngài. Một nỗ lực như vậy đã được thể hiện qua tác phẩm
Con Đường Sĩ-Đạt-Ta (Siddhatha): Cuộc Đời Đức Phật (The Way of
Siddhartha: A Life of the Buddha) xuất bản năm 1982.
Xã hội Ấn Độ khi Phật đản sinh
Trước khi Đức Phật ra đời vài trăm năm, nền văn minh Ấn
Độ nằm ở các khu vực thượng lưu sông Hằng như Kuruksetna,
Pancàla, Matsya và Suracena … Ở thời kỳ này, trong tầng lớp
Bà-la-môn đã hình thành quan điểm "trung quốc" mà họ gọi là
Medhyadesa, tức chỉ cho trung tâm văn hóa, chính trị quốc dân (về
sau thuật ngữ trung quốc được kinh sách Phật giáo dùng để
chỉ cho nơi có Phật pháp lưu hành).
Trong khi các quốc gia ở phía Nam và phía Đông thì bị xem như
chưa tiếp xúc được với nền văn minh trung quốc, như các nước
Kosala (Câu-tát-la), Kase (Ca-thi), Videba (Vi-đề-ba). Riêng nước
Magadha thì từ thời kỳ A-thát-bà Phệ-đà đến Kiền-đà-la
đều xem là không có văn hóa, hạ đẳng.
Đến thời đại Đức Phật ra đời thì cuộc vận động văn
hóa đã làm cho vũ đài chính trị, kinh tế gần như đảo lộn.
Các quốc gia mạnh trước kia đã dần suy yếu. Các thủ phủ như
Savathi (Xá-vệ) thuộc Câu-tát-la, Rajagaha (Vương-xá) thuộc
Ma-ha-đà, Kosambi (Kiều-thưởng-di) thuộc Vamsa hay Vasali
(Phệ-xá-ly) thuộc Bạt-kỳ … đều trở thành những đô thị
lớn nổi tiếng.
Các quốc gia này tuy ảnh hưởng văn hóa Bà-la-môn, tuy có giống
người Aryan nhưng không phải từ Trung quốc di cư đến, huyết
thống của họ đã có pha trộn nhiều chứ không thuần chủng,
nên việc hình thành một nền văn minh mới là điều hiển nhiên.
Đặc biệt là ở Ma-ha-đà vào thời Đức Phật, ngoài Câu-tát-la
ra thì không có một vương quốc nào cường thịnh bằng.
Tương truyền thời vua Tần-bà-sa-la, ở Ma-ha-đà đã đặt ra
niên lịch riêng (cứ 5 năm lại có 1 năm nhuần) và tất cả
ngoại đạo Bà-la-môn đều áp dụng theo. Nền văn minh này dần
dần chiếm ảnh hưởng lớn, chỉ còn lại sự tranh hùng giữa
Câu-tát-la và Ma-ha-đà, đến cuối thời đại Đức Phật,
Ma-ha-đà đã chiếm ưu thế rõ rệt.
Vì vậy nếu căn cứ theo quan điểm lịch sử để luận thì ta
có thể xem Phật giáo là sản phẩm của văn minh Ma-ha-đà. Về
thứ tự giai cấp, từ xưa Ấn Độ vẫn xem Bà-la-môn là trên
hết, kế đến là Sát-đế-lợi, Phệ-xá rồi Thủ-đà-la. Đến
thời kỳ này thì do Đức Phật xuất hiện từ dòng
Sát-đế-lợi, thứ tự giai cấp này cũng có phần thay đổi.
Bằng chứng là trong tư tưởng thời kỳ trước nặng về hình
thức, tĩnh tại và nhuốm nặng chất thi ca, hình nhi thượng;
đến thời kỳ Đức Phật thì tư tưởng thực tế, năng động
và thiên về hình nhi hạ, gần gũi với con người hơn. Nói như
một học giả người Nhật - Kimura Taiken, nếu cho văn minh thời
trước là văn minh Bà-la-môn thì có thể nói văn minh thời Đức
Phật là văn minh Sát-đế-lợi.
Niên đại về Phật lịch
Các vấn đề về "Phật lịch" và niên đại của Đức Phật đã
được các học giả đề cập trên nhiều quan điểm khác nhau.
Thậm chí trong các giới tu sĩ Phật Giáo cũng đã có những quan
điểm bất đồng. Điển hình như các nước Phật Giáo Nam tông
cùng thống nhất tổ chức lễ tưởng niệm "Ngày Nhập Niết-bàn
của Đức Phật lần thứ 2500" vào năm 1956 sau Tây lịch.
Ở Tích Lan, Miến Điện, Ấn Độ, Thái Lan và một số nước
Phật Giáo Nam tông khác, hầu hết những buổi lễ tưởng niệm
ấy đều được sự ủng hộ và giúp đỡ của chính phủ và
những thành viên trong Giáo Hội.
Tuy nhiên, trong các nước Phật Giáo Bắc tông, đã có những quan
điểm bất đồng nảy sinh. Phần lớn các học giả phương Tây
đã bác bỏ truyền thuyết của Tích Lan, một trong những truyền
thống cho rằng niên đại mà Đức Phật Nhập Niết-bàn là năm
544 trước Tây lịch, được thể hiện qua cách lựa chọn năm 1965
làm năm tưởng niệm Đức Phật Nhập Niết-bàn lần thứ 2500.
Truyền thống này không thể truy nguyên (tức không thể có mặt)
trước tiền thế kỷ thứ 11. Nó cũng không phù hợp với bảng
niên đại của các vị Vua nước Ma-kiệt-đà. Sự tuyên bố của
các nước Nam tông về tính chính thống trong niên đại của Phật
chủ yếu là dựa trên truyền thuyết rằng các Thầy Tỳ-kheo đã
đưa ra một nguyên tắc là phải "điểm vào một chấm" trong Luật
tạng mỗi khi kết thúc một mùa An Cư Kiết Hạ hàng năm.
Tin tưởng rằng truyền thống "chấm vào một điểm" không hề
bị gián đoạn từ trước đến giờ, họ cho rằng bảng niên
đại dựa trên số lượng của các dấu chấm trong các Luật
tạng thì không thể nào sai được.
Tuy nhiên, cũng có sự nghi ngờ, vì cũng đã có một truyền
thuyết tương tự do Sanghabhara, người đã đặt chân đến đất
nước Trung Hoa vào năm 489 sau Tây lịch, đề xướng. Ngài cũng
tuyên bố rằng các Thầy Tỳ-kheo tại Ấn Độ trước đó cũng
đã điểm một chấm vào trong Luật tạng của họ vào mỗi lần
An Cư Kiết Hạ, nhưng có điều là Ngài đã đếm được tất cả
975 chấm.
Số lượng dấu chấm này cho ta kết luận rằng Đức Phật nhập
Niết-bàn vào năm 486 trước Tây lịch và năm Đản sinh của Đức
Phật là năm 566 trước Tây lịch. Theo giáo sư Pachow, "sự ghi
nhận dấu chấm" nhằm để chứng tỏ rằng niên đại mà Đức
Phật Nhập Niết-bàn vào khoảng năm 483 sau Tây lịch. Điều đó
phù hợp với cách tính của W. Geiger, dựa trên nền tảng của
những bảng ký sự niên đại bằng tiếng Pali.
Học giả Hakuji Ui đã xác định lại niên đại của Đức Phật
là năm 466 – 386 trước Tây lịch, vốn dựa trên các truyền
thuyết của các ấn bản Kinh điển Phật Giáo bằng ngôn ngữ
Trung Hoa, Tây Tạng và Sanskrit điển hình như
Samayabheda-uparacana-cakra. Bởi vì niên đại của vua A-dục, sự
bắt đầu cho những nghiên cứu về bảng niên đại, phải được
thay đổi trong quan niệm của sự nghiên cứu gần đây.
H. Nakamura đề nghị rằng bảng niên đại của H. Ui phải được
thay đổi là 463 –383 trước Tây lịch, dựa trên những quan
điểm chính mà ông đã nghiên cứu.
Những nghiên cứu của Genmyò Ono và Hakuji Ui đã có ảnh hưởng
đến giới học giả Trung Hoa. Thượng Tọa Yin-Shun, một học giả
Trung Hoa, đã phê bình các giả thuyết về ngày của đức Phật
của các nhà học giả Đông Nam Á và phương Tây, và cho rằng
ngày Đức Phật nhập Niết-bàn là năm 390 trước Tây lịch.
Nguyên nhân phủ nhận này cũng không khác nhau cho lắm so với Ui.
Trình bày một quan điểm tương đối dung hoà nhất của học
giả châu Âu, giáo sư M. Winternitz đã nói rằng: "Khi chúng ta cân
nhắc rằng có một chứng cứ có đầy đủ khả năng để chứng
tỏ rằng Đức Phật là người đương thời với vua Tần-bà-sa-la
và vua A-xà-thế, những người rất có khả năng sống vào thế
kỷ thứ 5 và thứ 6 trước Tây lịch. Như vậy, sau đó ít nhất
chúng ta có lý khi nói rằng các giả thuyết đáng tin cậy nhất
là đặt cuộc đời đức Phật vào giai đoạn này."
Đại hội Phật giáo Thế giới họp kỳ II tại Tokyo (Nhật
Bản), 1952, ghi ngày Phật đản sinh là ngày trăng tròn tháng
Vesaskha của Ấn Độ, năm 624 trước Tây lịch. Ngày, tháng, năm
này dựa vào truyền thống của Phật giáo Tích Lan. Theo đó, Phật
lịch tính từ năm đức Phật nhập Niết bàn, năm 544 trước Tây
lịch.
Theo Edward J. Thomas trong cuốn "The life of Buddha as Legend and History",
ấn hành ở London năm 1956, thì ngày Đản sinh vào năm 563 trước
Tây Lịch. Cách tính này dựa vào bia ký của triều đại các vua
xứ Ma-kiệt-đà, vua A-dục và Chandagupta, liên hệ đến sự kiện
lịch sử của đức Phật.
Theo Lương Khải Siêu, trong tập "Phật học Nghiên cứu Thập bát
thiên", dẫn chứng từ "Thiện Kiến Luật" thì Phật nhập Niết
Bàn vào năm thứ 35 vua Kinh Vương nhà Châu, hay là nhằm đời Ai
Công năm thứ 7 nước Lỗ, tức trước Tây Lịch 485 năm; liền sau
khi Phật nhập Niết bàn, Tôn giả Ưu-ba-ly (Upàli) kiết tập Luật
tạng, lập nên bộ Thiện Kiến Luật.
Mỗi năm, vào ngày Tự tứ, bộ luật được dâng hương cúng
dường và ghi vào phía sau một điểm (chấm). Ngài
Tăng-già-bạt-đà-la (Sanghabhadra) đem bộ Luật sang Trung quốc vào
đời Tề, năm 489 Tây lịch và dịch ra Hán văn tại chùa Trúc
Lâm, Quảng Châu. Ngày Tự tứ năm ấy ghi đến điểm thứ 967
(Dựa vào đây để xác định năm Phật nhập Niết bàn).

phattuvietnam
Hết thẩy là khảo nghiệm,

Coi thử mình ra sao,

Ðối cảnh lầm không biết,

Phải luyện lại từ đầu.

Hòa Thượng Tuyên Hóa

http://www.dharmasite.net/
gioidinhhue
Cảm ơn, Thành viên Moderator (Xin thông báo BQT)
 
Bài viết: 953
Ngày tham gia: Thứ 5 03 Tháng 9, 2009 3:27 pm

Quay về Lịch sử Phật Giáo

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến1 khách

cron