Diễn đàn Tu viện Phật giáo Việt nam


Vi Diệu Pháp: tìm hiểu theo từ phổ thông.

Thảo luận về Luận giáo lý Phật Giáo và Duy Thức Tông.

Các điều hành viên: Sen Hong, Bất Nhị

Vi Diệu Pháp: tìm hiểu theo từ phổ thông.

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 7 12 Tháng 7, 2014 2:59 pm

Mục Lục

DẪN NHẬP

[01]
PHÁP
[02] PHÁP TỤC ÐẾ
[03] PHÁP CHƠN ÐẾ
[04] TÂM
[05] TÂM BẤT THIỆN
[06] TÂM VÔ NHÂN
[07] TÂM DỤC GIỚI TỊNH HẢO
[08] TÂM SẮC GIỚI
[09] TÂM VÔ SẮC GIỚI
[10] TÂM SIÊU THẾ
[11] TỔNG KẾT CÁC LOẠI TÂM
[12] SỞ HỮU TÂM
[13] SỞ HỮU TỢ THA
[14] SỞ HỮU BẤT THIỆN
[15] SỞ HỮU TỊNH HẢO
[16] TỔNG KẾT CÁC SỞ HỮU TÂM
[17] SỰ PHỐI HỢP GIỮA TÂM VÀ CÁC SỞ HỮU TÂM
[18] LỘ TRÌNH TÂM
[19] PHI LỘ
[20] SẮC PHÁP

Đây là một đường Website (links) của Vi Diệu Pháp giảng giải của ban Hoằng Pháp Pháp Quốc.

Hình ảnh


- Danh chế định (Nāmapaññatti) lại được phân ra làm sáu loại:

1. Danh chơn chế định (Sāvijjamāna paññatti): là những danh từ chỉ vật thật có, bản thể chơn tướng, những danh từ dùng để diễn đạt pháp Chơn đế. Thí dụ: Tâm, Sở hữu tâm, Sắc pháp, Thọ, Tưởng, Hành, Thức, Uẩn, Xứ, Giới, Ðế ...

2. Phi danh chơn chế định (Avijjamāna paññatti): là những danh từ giả lập, không có bản thể, chơn tướng (giả định theo mặc ước). Những danh từ dùng để diễn đạt pháp Tục đế. Thí dụ: Chư thiên, Ma vương ...

**************
3. Danh chơn, phi danh chơn chế định (Vijjāmāna avijjāmāna paññatti): là những danh từ ghép, chữ trước chỉ vật có thật (pháp Chơn đế), chữ sau chỉ vật theo qui ước (pháp Tục đế). Thí dụ: Tâm tôi, Tiếng radio, Mùi sầu riêng ... Tâm, tiếng, mùi là những danh từ chỉ vật có thật (chơn đế); tôi, radio, sầu riêng là những danh từ giả định (tục đế).

4. Phi danh chơn, danh chơn chế định (Avijjāmāna vijjāmāna paññatti): là những danh từ ghép, tiếng trước thuộc về ngôn từ giả định (pháp Tục đế), tiếng sau thuộc về những danh từ chỉ vật có thật (pháp Chơn đế). Thí dụ: Tôi sân, nó có tâm tham ... Tôi, nó là giả danh, không có thật; sân, tâm tham là những trạng thái có thật.


***********
5. Danh chơn, danh chơn chế định (Vijjāmāna vijjāmāna paññatti): là những danh từ ghép, tiếng trước và tiếng sau đều chỉ những sự vật có thật. Thí dụ: Tâm Tham, Nhãn Thức, Thọ Lạc ... Tâm, Tham, Nhãn, Thức, Thọ, Lạc đều là những sự vật có thật (những danh từ dùng để diễn đạt pháp Chơn Ðế).

6. Phi danh chơn, phi danh chơn chế định (Avijjāmāna avijjāmāna paññatti): là những danh từ ghép, trong đó tiếng trước và tiếng sau đều chỉ những sự vật giả danh như nhơn loại, thiên hạ, trời đất, cha con, ông cháu, ... những danh từ đó diễn đạt những sự vật không có thật (chỉ là giả danh) theo pháp chơn đế mặc dù đối với pháp tục đế chúng hoàn toàn có thật.

************************************************** *********************************************
Diễn đàn chú thích và sao chép, ngày 12-7-2014 ************************************************** *********************************************
Chế định: ngôn từ để chỉ định vật gì định đặt.
Mặc ước: ước định, khái niệm về vật gì.
Thi thiết: đặt bày ngôn từ diễn đạt các sự vật ...
Chơn: thật có; bản thể; chơn tướng.v.v.
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4234
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Vi Diệu Pháp: tìm hiểu theo từ phổ thông.

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 2 14 Tháng 7, 2014 1:11 pm

Bài 2:

[01]PHÁP
Hình ảnh

- Danh chế định (Nāmapaññatti) lại được phân ra làm sáu loại:

1. Danh chơn chế định
2. Phi danh chơn chế định

3. Danh chơn,
4. Phi danh chơn,

5. Danh chơn, danh chơn chế định.
6. Phi danh chơn, phi danh chơn chế định

Nghĩa chế định (Atthapaññatti) gồm có bảy loại như sau:

1. Hình thức chế định (Santhānā paññatti): là những danh từ dùng để diễn đạt hình dáng của sự vật như núi cao, biển rộng, hố sâu, sông dài, bàn tròn, người lanh lẹ, ....

2. Hiệp thành chế định (Samūha paññatti): những danh từ chỉ các sự vật hiện hữu bởi sự tập hợp của nhiều vật khác nhau như nhà (sự kết hợp bởi rui, mè, kèo, cột ...), xe (sự kết hợp bởi sườn, bánh, tay lái, ...), gia đình (sự kết hợp bởi cha, mẹ, con cái ...).

3. Chúng sinh chế định (Satta paññatti): là những danh từ dùng để chỉ những sinh vật có thức tánh, mạng căn như người, trời, tiên, Phật, ...

4. Phương hướng chế định (Disā paññatti): là những danh từ dùng để diễn đạt về phương hướng như Ðông, Tây, Nam, Bắc, ...

5. Thời gian chế định (Kāla paññatti): là những danh từ dùng để chỉ một thời điễm nào đó như buổi sáng, buổi tối, Xuân, Hạ, Thu, Ðông, ...

6. Hư không chế định (Ākāsa paññatti): là những danh từ dùng để diễn tả những chỗ trống, kẻ hở, hư không như hang, hố, huyệt, ao, đầm, ..

7. Hình tướng chế định (Nimitta paññatti): cũng gọi là Tiêu Biểu chế định, là những danh từ diễn đạt một sự vật tiêu biểu, tượng trưng như lá cờ, quốc gia, bảng hiệu, ... hay các đề mục tu Chỉ Tịnh như Ðất, Nước, Lửa, Gió, xanh, vàng, ...

Không nên lầm tưởng là cứ mỗi danh từ trong danh chế định sẽ có một danh từ tương đương trong nghĩa chế định, mà phải hiểu rõ rằng các danh từ giả định trong danh chế định diễn tả một sự vật có thật dù cụ thể hay trừu tượng. Còn nghĩa chế định là những danh từ chỉ nhằm vào mặt ý nghĩa, hay nếu đi chung với danh chế định thì nhằm bổ túc thêm ý nghĩa của danh chế định đó. Thí dụ: cái nhà trên phương diện danh chế định thì nó thuộc về Phi Danh Chơn chế định, nhưng theo nghĩa chế định thì nó là Hiệp Thành chế định.

Tóm lại, mọi vật trong đời được diễn đạt bằng ngôn ngữ, để bày tỏ cho nhau được hiểu biết, bất cứ dưới hình thức nào, phương tiện nào đều là chế định. Ngay khi Ðức Phật thuyết pháp để chuyển mê, khai ngộ, Ngài cũng phải dùng pháp chế định của Tục Ðế để diễn đạt Chơn Ðế. Vì thế chúng ta cần phải biết rõ thế nào là Chơn Ðế và thế nào là Tục Ðế để khỏi lầm lẩn trong việc tu tập.

************************************************** ************Diễn đàn chú thích và sao chép, ngày 12-7-2014 ************************************************** ***********
Trong bài 1, chúng ta ôn lại một lần nữa về ''Danh chế định là gì?''

Danh chế định: danh là danh từ; chế định là tự đặt ra một cái tên. Tức là các danh từ do con người đặt thành tên. Trong Vi diệu Pháp gồm có giả danh và thật danh.
Giả danh: Phi danh chơn chế định (Ví dụ: chư thiên; hộ pháp; ma vương.v.v.)
Thật danh: danh chơn chế định.

Danh chế định: có một số danh từ ghép, như Danh chơn, phi danh chơn chế định. Hoặc Phi danh chơn, danh chơn chế định. (Nghĩa là có thật danh + với giả danh) Hoặc (giả danh + có thật danh.)

Ngoài ra có hai loại từ ghép. ( Có thật danh + có thật danh) hoặc ( giả danh + giả danh từ).

***
**
*
Trong bài 2, nói về nghĩa chế định của Tục đế, gồm có 6 nghĩa:

1. Hình thức; hiệp thành; chúng sanh;
2. Phương hướng; thời gian; hư không.
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4234
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Vi Diệu Pháp: tìm hiểu theo từ phổ thông.

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 2 21 Tháng 7, 2014 11:58 am

Bài 3:

[03] PHÁP CHƠN ÐẾ

Không bao giờ thay đổi (Parama aviparito): không thay đổi ở đây không có nghĩa là thường hằng, bất biến, mà nó có nghĩa là trước sau giống nhau không sai khác. Quá khứ như thế nào thì hiện tại và tương lai cũng như thế ấy; do đó được gọi là chơn như (chơn: sự thật; như: không thay đổi).

Ðối tượng của trí tuệ cao siêu (Paramattha): nghĩa lý cao siêu, chân lý vi diệu, bản thể của vạn pháp; do đó cũng được dịch là siêu lý.

Ðệ nhất nghĩa đế (Paramatthasacca): sự thật tuyệt đối, vô song.

Ngoài ra, về mặt chiết tự ta có thể hiểu (chơn: sự thật, đế: sự thật) chơn đế là sự thật của sự thật, là thực thể của tục đế.


Theo Vi Diệu Pháp có tất cả là bốn thực thể của các pháp:


1. Tâm (Citta): thành phần tri giác của chúng sanh.

2. Sở hữu tâm (Cetasika): thành phần phụ thuộc của tâm.

3. Sắc pháp (Rūpa): thành phần vật chất, vô tri.

4. Niết bàn (Nibāna): bản thể tịch tịch, chấm dứt sự sinh diệt của Danh Sắc.

Tâm và Sở hữu tâm là bản thể vô hình, được gọi là Danh (Nāma); đối lại với Sắc pháp (Rūpa) gọi là Sắc. Danh và Sắc thuộc về thành phần do duyên tạo nên được gọi là pháp hữu vi (Saṅkhāra).

Trái lại Niết Bàn là sự tịch tịnh, diệt hoàn toàn, không phải là pháp bị tạo nên được gọi là pháp vô vi (Asaṅkhāra).

Hình ảnh

Người học Phật cần phải phân biệt rõ thế nào là giả định, thế nào là thật thể.
Ðâu là hữu vi, đâu là vô vi để không có sự lầm lẩn, chấp "ngón tay là mặt trăng"; nhất là đối với người hành thiền quán thì vấn đề càng quan trọng hơn, vì hành thiền minh sát là quán xét để thấu triệt bản chất thật thể của các pháp.

Một điểm cần ghi nhận là điều tinh túy của Abhidhamma là sự sâu sắc về bản thể pháp hay pháp chơn đế. Một nhà chú giải đã viết "Abhidhamma sabhāvo gambhiro = Vi Diệu Pháp sâu xa về bản thể pháp". Vì vậy, người học Vi Diệu Pháp cần nắm vửng nghĩa lý của pháp chơn đế.

************************************************************
Chú thích ngày 21-7-2014

************************************************** ***********

Chơn đế có ba nghĩa chánh, một là Pháp chơn đế không bao giờ thay đổi, hai là pháp với lý cao siêu, ba là nghĩa tuyệt đối (gọi là đệ nhất nghĩa đế.) Ngoài ra một nghĩa trừu tượng là sự thật, sự thật của tục đế (không thay đổi).


Trong hình đồ họa, Chơn đế có hai loại, một là Pháp vô vi (thuộc Niết bàn: là pháp hoàn toàn thanh tịnh), hai là Pháp hữu vi (các pháp còn bị chi phối của tam tướng.)

Trong hình đồ họa thứ hai về Pháp hữu vị, trong pháp này chia ra làm hai loại: là danh và sắc pháp.


Sắc Pháp thuộc về: căn và trần (có hình tướng 'ví dụ: mắt tai mũi lưỡi...)

Danh Pháp thuộc về tâm (không có hình tướng.)
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4234
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland


Quay về Luận học và Duy thức

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến1 khách

cron