Diễn đàn Tu viện Phật giáo Việt nam


30 bài tụng Duy thức (HT.Thích Khánh Anh)

Thảo luận về Luận giáo lý Phật Giáo và Duy Thức Tông.

Các điều hành viên: Sen Hong, Bất Nhị

30 bài tụng Duy thức (HT.Thích Khánh Anh)

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 5 01 Tháng 5, 2014 11:27 am

Dịch Nghĩa
30 bài tụng duy thức
HT Thích Khánh Anh
-o0o-

Phật pháp không phải là một, không phải là hai, từ lâu truyền lại, ngoài tâm có pháp tức ngoại đạo. Người học đạo Phật ai ai cũng biết như thế. Thời nay Phật pháp bất hạnh, kẻ tà kiến càng đông. Họ lại bảo rằng Phật pháp có hai tông Tánh và Tướng.

Và những kẻ giải nghĩa Duy thức lại bảo rằng: không những có thức mà thôi, sắc không lìa thức tức là Duy thức.

Lại có người nói tám thức đều có thể dụng riêng, không chịu cho rằng tám thức đó sự tác dụng thì sai khác mà thể tánh thì đồng có một.

Lại có người nói rằng lìa Tâm vương còn có riêng Tâm sở, chẳng chịu cho rằng ngoài Tâm vương không thể có Tâm sở.

Nói như thế chẳng những ngoài tâm có Pháp, ngoài Pháp lại còn có Pháp, tức ngoài tâm lại còn có tâm. Có nhiều lời nói lạ lùng, vì lầm hiểu nghĩa lý thâm diệu của Duy thức. Những người nói trên đây đều chưa được hiểu nghĩa chính đáng. Ta dịch nghĩa luận này để đem lại con đường chân chánh.

由假說我法
有種種相轉
彼依識所變
此能變爲三
謂異熟思量
及了別境識
Do giả thuyết ngã pháp
Hữu chủng chủng tướng chuyển
Bỉ y thức sở biến
Thử năng biến vi tam
Vị Dị thục, Tư lương
Cập Liễu biệt cảnh thức


Giả thuyết nghĩa là không có gốc, tùy theo tướng huyễn biến mà có. Tuy nói là có mà không sự thật nên gọi là giả. Cũng như rùa vốn không lông, thỏ vốn không sừng, mà nay lại gọi là lông rùa sừng thỏ. Đấy chỉ có danh mà không có sự thật, nên gọi là giả thuyết và cũng gọi là giả danh. Tánh chân như vốn không có Ngã, Pháp mà kẻ phàm phu lại vọng chấp là có. Tuy có cái danh của Ngã, Pháp nhưng không có Ngã, Pháp chân thật.

Nguyên tánh chân như là lặng lẽ và sáng suốt không có gì gọi là chúng sanh (ngã), vũ trụ (pháp). Người thế gian chấp Ngã là có. Vậy có danh mà không có thật nên gọi là giả.

Trong lý giả thuyết này gồm có hai nghĩa: một là Phân biệt giả, hai là Nhân duyên giả.

1. Phân biệt giả: là từ nơi chấp Ngã và chấp Pháp của Thất thức. Ngã pháp đây tuy là không thật nhưng không giống ngã pháp do nhân duyên (6 thức) hòa hợp mà sanh.

Nguyên Thất thức là từ trên chân tánh do sự phân biệt mà có. Ví như thân người sanh ra cũng chỉ có một. Nếu đem phân biệt thì có 6 căn. 6 căn ấy đối với người là do duyên phân biệt, nếu không sự phân biệt thì không có 6 căn.

Thể tánh chân như chỉ có một, do vọng niệm nơi chân tánh mà sanh ra, có sự phân biệt nên có lục đại chủng (Địa, Thủy, Hỏa, Phong, Không và Căn).

Kinh lăng Nghiêm bảo rằng: có 6 đại chủng, thì chỉ có đại chủng căn là Ngã, còn 5 chủng kia đều là giả Pháp cả.


2. Nhân duyên giả, nghĩa là từ chỗ duyên ngã pháp của 6 thức, gốc đã không và cũng không phải do duyên phân biệt mà sanh 6 thức. Nguyên gốc sanh ra 6 thức là do từ lục đại chủng hòa hợp mà có.

Pháp do duyên sanh nhiều không xiết kể, nay nói tóm thì có 6 thức duyên với 6 trần. 6 thức là cái Ngã năng duyên (cái biết duyên), còn 6 trần là cái Pháp sở duyên (cái bị duyên).

Ngã gọi là tâm của năng duyên, Pháp gọi là cảnh của sở duyên (cái bị duyên).


II Chữ Ngã Pháp đây không được nhận rằng Ngã Pháp là hai, vì sự biết chấp thì chỉ Ngã mới biết, còn Pháp là một giống vô hình (không hiểu biết) làm chỗ chấp cho Ngã.

Người đời thường lầm hiểu chữ Ngã Pháp ở đây, lại gọi là Nhân Pháp hai chấp; nhưng Ngã là năng duyên, Pháp là sở duyên. Ngã Pháp đối đãi mà còn, cũng đối đãi mà mất.


III. http://www.tangthuphathoc.net/duythuchoc/dichnghia30baitungduythuc.htm Còn như hai chấp của Nhân Pháp, Nhân tức là Nhân ngã chấp (phàm phu), Pháp tức là Pháp ngã chấp (Nhị thừa chấp). Hai cái ngã ấy trước sau nối tiếp nhau không tiêu tan cùng một lúc nên không giống nhau. Nay người thế gian lầm tưởng rằng Ngã Pháp là do Nhân Pháp chia ra làm hai mà có. Và cái ngã pháp có hai chấp đều không đúng cách...
(Còn tiếp...)
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: 30 bài tụng Duy thức (HT.Thích Khánh Anh)

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 7 03 Tháng 5, 2014 5:41 pm

[quote="Bất Nhị"]Dịch Nghĩa
30 bài tụng duy thức
HT Thích Khánh Anh
-o0o-

由假說我法
有種種相轉
彼依識所變
此能變爲三
謂異熟思量
及了別境識
Do giả thuyết ngã pháp
Hữu chủng chủng tướng chuyển
Bỉ y thức sở biến
Thử năng biến vi tam
Vị Dị thục, Tư lương
Cập Liễu biệt cảnh thức

(Nối tiếp...)
Trong kinh có bảo rằng: Bậc Nhị thừa thì Ngã chấp đã mất, chỉ còn Pháp chấp là chưa tiêu tan. Nếu Ngã Pháp nói theo người thường thì phải tiêu tan cùng một lúc, nay một mất một còn thì đã chứng tỏ Pháp của Pháp chấp không giống Pháp của người thường đã gọi. Và cũng chứng tỏ rằng Ngã của Nhị thừa đã không giống Ngã của phàm phu thì Pháp của Pháp Chấp tức cũng không giống Pháp của thế gian.


Ngã Pháp Pháp phải chia thành hai tầng lớp mà nói là để ứng với nghĩa thứ đệ tam năng biến. Nếu Ngã Pháp không chia làm hai tầng, thì chỉ thâu được một lần năng biến, lại có lỗi thâu pháp mà thâu không hết. Đã nói rằng ba lần năng biến mà sao lại nói có hai lần Ngã Pháp? Vì lần năng biến ban sơ là cảnh chân thật nên không nói đến, chỉ nói hai tầng lớp sau.


Ngã là gọi nghĩa chủ tể (mình làm chủ lấy mình), Pháp là nghĩa quỹ trì (Quỹ là khuôn phép, Trì là giữ danh và cái thật chất của nó mới gọi là Pháp).

Hai cái Ngã Pháp ấy khác nhau, cho nên nói là chủng chủng, nghĩa là nhiều không thể kể xiết.
Chủng chủng tướng của Ngã là chỉ về chúng sanh (hạng người Dự lưu, Nhứt lai và Tứ quả).
Chủng chủng tướng của Pháp là Ngũ uẩn, Thập nhị xứ và Thập bát giới.


Luận Pháp Tướng có nói Kiến phần là sở bát thức ấy và Ngã là năng duyên (cái biết), Tướng phần là Pháp sở duyên (chỗ để biết). Nay gọi Pháp, Uẩn, Xứ, Giới là nói tóm về pháp sở duyên (bị duyên). Thế thì đem tâm với cảnh chung gọi là sở duyên có lẽ lầm chăng? Nhưng không lầm vì chữ chuyển nghĩa là trước sau quanh quẩn, tức hột giống sanh hiện hành (những sự sự vật vật ở thế gian) un đúc vào hột giống (hột giống không thấy mà hiện hành thì có hình tướng, sẽ nói ở sau).


Ngã Pháp đều gọi là giả thuyết, thì nương vào đâu mà có Ngã pháp? Tất nhiên phải nương vào thức, vì tánh của thức là bản tánh của tất cả.

Có người giải nghĩa rằng: Thức là gọi thức Liễu biệt, tức là 6 thức trước; vì đều có cảnh liễu biệt riêng của mỗi thức, nơi liễu biệt (lục căn trần và lục thức) là pháp của thức sở biến, không phải là tánh của năng biến.


Bản tánh của thức là tuyệt đối ly tất cả danh và tướng, nhưng tất cả danh tướng lại bám vào đó để làm chỗ nương, do đó mới khởi sanh lần xuống các thức.

Biến gọi là biến hóa, nghĩa là khởi sanh (bắt đầu). Gốc do nơi tự chứng phần biến khởi ra Kiến. Tướng hai phần, ấy là Bát thức. Lần năng biến đầu tiên tức sơ năng biến.
Từ nơi Kiến phần bất thức lại khởi sanh ra tầm “chấp ngã”, bảo rằng thấy được Tướng phần tức là Ngã (ta) ấy là Thất thức, là lần năng biến thứ hai (Nhị năng biến).


Từ chỗ sanh khởi Kiến phần, Tướng phần của Ngã (Thất thức) lại có sanh khởi tâm do đó tính toán (phân biệt kế đạt) duyên với các pháp thế gian tức là 6 thức, ấy là 3 lần năng biến (tam năng biến). Biến chuyển ấy tuy có 3 lần, chứ thật ra không có tâm và cũng không có pháp (cảnh), chỉ có tánh biết mà thôi. Vì việc biến chuyển nên mới có trong và ngoài.


Vì không hiểu Ngã Pháp là giả nên duyên Ngã Pháp sanh tâm so tính (kết đạt). Sự so tính này ở 3 hạng người: ngoại đạo, phàm phu và Tiểu thừa.


- Ngoại đạo chấp Ngã, gọi Ngã là thể tánh thường còn đầy khắp cả hư không, tùy theo chỗ tạo nghiệp mà chịu khổ vui (nói “ta” này là có thật).
Có người chấp Ngã gọi thể tuy thường còn, mà luợng không nhất định, tùy theo thân lớn nhỏ mà có sự co duỗi (sự hiểu biết nhiều hay ít).
Có kẻ chấp Ngã gọi thể tánh là hết sức nhỏ nhiệm như loại cực vi, tiềm chuyển trong thân mà tạo các nghiệp (cũng cho cái ngã là thường còn).
Lại có người chấp, gọi rằng ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) là ngã.
Lại có người chấp, gọi ngã với ngũ uẩn chẳng dính nhau, chẳng rời nhau.
Những người chấp ngã như thế đều là vọng tưởng, chưa hiểu thấu được chân ngã (đây nói về ngoại đạo).


Tiểu thừa chấp ngã, trong luận Pháp tướng có chép hai món ngã chấp ấy.

Phân biệt Ngã chấp (lục thức) là Câu sanh ngã chấp (thất thức).

1. Phân biệt Ngã chấp lại chia làm hai: Tâm vương và Tâm sở.
- Tâm vương của 6 thức không cần phân biệt tự nhiên biết là ta, gọi là Câu sanh Ngã chấp là đồng với Sắc thân mà có một lần.
- Tâm sở 6 thức đối với thân mình có sự so đo tính toán của người của ta, tốt hay xấu. ấy là phân biệt Ngã chấp của lục thức. Hai Ngã chấp của 6 thức Câu sanh ngã chấp và Phân biệt ngã chấp chung gọi là Phân biệt ngã chấp. Vì Câu sanh của Lục thức là tạm thời mà có, chỉ kể tự thân này là ta, ngoài thân không phải là ta. Vì có sự phân biệt ấy nên chung gọi là phân biệt Ngã chấp.

2. Câu sanh cũng chia làm hai Ngã chấp là tâm vương và tâm sở. Tâm vương thất thức chỉ kể tự tâm không cần phân biệt mà tự nhiên biết có ta là do từ một niệm chẳng biết (vô minh) ấy, khởi lên thẳng luôn đến thành Phật mới dứt đặng. Tiếp nối chẳng đứt đoạn ấy là Câu sanh ngã chấp. Hễ có chúng sanh thì có Ngã chấp này.
Tâm sở thất thức do nơi cái “ta” mà sanh ra có Ngã kiến, Ngã ái, Ngã mạn và Ngã si, ấy là phân biệt Ngã chấp của Thất thức.

Câu sanh Ngã chấp là phân biệt Ngã chấp của Thất thức, chung gọi là câu sanh Ngã chấp. Vì trong sự phân biệt này thì có hay không cũng vẫn thế. Vì thân Thất thức là thân Tịnh sắc căn không giống như sắc căn lục thức, là thân chết sống có khác, còn mất rõ ràng, nên chi còn hơn sự câu sanh của Lục thức. ở trong sự phân biệt ấy, tùy theo niệm mà có sự so đó tính toán. Tức không có sự phân biệt. Tiểu thừa lấy tâm chứng chơn ấy gọi là chơn, chứ thật ra chưa phải là chân thật. Vì còn kể Pháp thân là Ngã, tức Câu sanh Ngã chấp là thân Tịnh sắc căn vậy (Thất thức).


Phàm phu lấy tâm vọng tưởng là kể thân tứ đại giả hợp, sắc thân cho là ta, ấy tức trong vòng phân biệt Ngã chấp (Lục thức).


Nay đặt câu hỏi rằng, nếu thật không có Ngã (ta) thì sao có những việc ghi nhớ tụng tập ân oán, ai tạo nghiệp, ai chịu quả báo, ai sống chết luân hồi các nẻo, ai bỏ khổ cầu vui đến cảnh Niết -bàn… Phật gọi là không Ngã, là nói cái ngã của chúng sanh thường gọi ấy là giả, nên Phật mới gọi rằng không thật, chứ không phải là không thật có Ngã.

Nếu trừ được Ngã chấp Thất thức thì chân ngã hiện bày.


Những kẻ chấp ngã ấy dều gọi tâm là ngã, không khi nào dám nhận ngoài tâm có ngã. Sự thật không phải Ngã ở nội trong tâm, mà luôn cả trong và ngoài, mới gọi là chân ngã.


Nếu đem hỏi thế gian cái gì là Ngã, tất nhiên họ trả lời rằng cái biết là ta, không ai dám gọi cái bị biết cũng là ta. Những cái biết mà họ nhìn nhận ấy là không phải thật biết. Nếu nhận được cái thật biết tức là hiểu được Chân ngã. Có Chân ngã mới có giả ngã, vì có giả ngã nên mới có những việc ghi nhớ tụng tập, tạo nghiệp, chịu khổ, sống chết, luân hồi. Nếu trừ được cái giả ngã thì chân ngã hiện bày, tức không có mấy việc khổ ấy. Chân ngã là cái chân thường chẳng biến đổi. Xem những vật trong trời đất đều bị dời đổi không ngừng và vị tiêu diệt, không có một vật nào là chẳng tiêu diệt, cho đến trời đất cũng còn bị tiêu diệt thay. Những người nhận pháp cho là thật có đều sai lầm cả.


Hạng phàm phu tiểu thừa gọi là Pháp, tức trong luận tướng nói có hai pháp chấp: Câu sanh pháp chấp và Phân biệt pháp chấp (Lục thức).

1. Phân biệt pháp chấp, lại chia làm hai: Tâm vương và Tâm sở. Tâm vương 6 thức ban đầu duyên tướng của 6 trần, là khi chưa khởi sanh tâm phân biệt, thì đồng với thân cảnh đều có một lần, ấy là câu sanh pháp chấp trong sự phân biệt.
Tâm sở lục thức lại đối với tướng lục trần, có sự phân biệt dài ngắn, vuông tròn, lớn nhỏ, cao thấp, ấy là phân biệt pháp chấp trong sự phân biệt.


2. Câu sanh pháp nhẫn, lại chia làm hai Tâm vương và Tâm sở. Tâm vương thất thức khi ban sơ duyên tánh của 5 đại chủng đồng có với lúc sanh một lần trong sự câu sanh. Nếu gọi rằng câu sanh pháp chấp trong sự câu sanh. Tâm sở thất thức đối với tánh của 5 đại chủng có sự phân biệt bền, ấm, ướt và động là trong sự câu sanh, nên mới gọi là phân biệt pháp chấp trong sự câu sanh. Pháp chấp này đứt nối cũng giống như ngã chấp của thất thức đã nói trên. Vì Pháp với Ngã cùng nhau đối đãi như pháp đã kể trên đều có sanh có diệt không phải là pháp của chân thường nên gọi là giả.

Họ nói rằng sau khi phân rẽ 11 sắc pháp, lại phân rẽ 24 pháp Bất tương ưng và 6 pháp Vô vi.


http://www.tangthuphathoc.net/duythuchoc/dichnghia30baitungduythuc.htm (Còn tiếp...)
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: 30 bài tụng Duy thức (HT.Thích Khánh Anh)

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 6 09 Tháng 5, 2014 10:36 am

Dịch Nghĩa
30 bài tụng duy thức
HT Thích Khánh Anh
-o0o-

由假說我法
有種種相轉
彼依識所變
此能變爲三
謂異熟思量
及了別境識
Do giả thuyết ngã pháp
Hữu chủng chủng tướng chuyển
Bỉ y thức sở biến
Thử năng biến vi tam
Vị Dị thục, Tư lương
Cập Liễu biệt cảnh thức

(Nối tiếp...)
Họ nói rằng sau khi phân rẽ 11 sắc pháp, lại phân rẽ 24 pháp Bất tương ưng và 6 pháp Vô vi.

Và họ lại nói rằng chân như cũng là cái tên bày đặt, vì bác các pháp kia là không nên phải nói chân như là có, ngăn người nói có pháp, nên nói chân như là không.

Không được gọi chân như là giả dối, nên nói chân như là thật. Lý không phải là hy vọng trái ngược, cho nên gọi là chân như. Chẳng giống mấy tông kia vì ly tất cả sắc tâm mà có pháp chân thật thường trụ gọi là chân như, cho nên pháp Vô vi không phải nhất định là có (những ý nghĩa này của Hộ Pháp trích trong Thành Duy Thức Luận).


Chân như là nơi chứng của chư Phật mười phương. Nếu gọi chân như là tên giả không thật, thì chư Phật cũng chứng giả danh vậy sao? Nếu thật không chứng gì cả mà gọi là chứng chân, nói như thế chẳng khác nào Phật phỉnh dối chúng sanh?

Vậy thì sự tác dụng của chân như ở chỗ nào? Đức Phật ta từ vô số kiếp bỏ nước nhà vợ con, đầu óc xương tủy cũng vì muốn cho chúng sanh đồng chứng lý chân như. Công trình khó biết bao nhiêu, cũng ví như đi ngược lên trời.

Người giải nghĩa kia vì sự xảo ngôn nói bậy, nên gọi chân như là tên bày đặt! Một câu nói quấy ấy ấy làm cho chúng sanh từ nay về sau hết mơ tưởng cầu chứng lý chân như.


Than ôi! Nghĩ đáng thương thay! Cho một lời nói quấy ấy, làm cho sai đường lạc lối. Phật quý trọng lý chân như dường như vàng ngọc. Nay họ giải nghĩa lại đi khinh thường lý chân như xem nhẹ bằng mảy lông, sao lại trái hẳn với Phật như vậy?

Chân như đã là tên giả, nên nói là không, sao lại ngăn bát những người nói là không? Và đã nói chân như rằng không thật thì nên gọi là hư huyễn sao lại nói rằng chớ gọi là hư huyễn. Nên gọi là thật ư?


Chân như đã nói là không thật mà lập cái tên là thật, thì nên gọi là vọng đảo, sao lại nói rằng lý không vọng đảo, cho nên mới đặt tên là chân như. Giải nghĩa mà nói như thế là điên đảo ngông cuồng, thật là khiến cho người đời thêm mờ tối, làm cho khó hiểu đến chỗ mầu diệu. Và ta cũng không hiểu về tông phái nào, ly tất cả sắc tâm mà có pháp chân thật gọi là chân như.

Ta thường thấy trong các kinh Phật, nói chân như tùy theo duyên mà sanh các pháp sắc tâm. Còn như các pháp sắc tâm trở về nguồn cội tức gọi là chân như. Các Phật chứng lý chân như tức là trở gốc về cội vậy.
Chúng sanh mê mất tánh chân như nên luân chuyển trong Lục đạo luân hồi. Cũng như đứa con hoang phóng đãng đến làng khác mà quên trở về nơi làng cũ của mình.

Nếu chân như là tên giả, theo lý thì ở ngoài các tâm và sắc. Tại sao có chỗ riêng biệt không giống các tông phái kia?

Có người giải nghĩa rằng tất cả các pháp thế gian và pháp xuất thế gian đều là tên giả, chỉ có pháp Tâm vương và pháp Tâm sở không hề riêng biệt. ý họ nói pháp Tâm vương và pháp Tâm sở không hề riêng biệt. ý nói pháp Tâm vương và pháp Tâm sở là thật có.


Trong kinh có nói món món pháp sanh thì món món tâm sanh, món món tâm sanh thì món món pháp sanh. Nói phản lại rằng món món pháp diệt thì món món tâm diệt, món món tâm diệt thì món món pháp diệt, ấy là lý tự nhiên. Tâm với pháp cũng như một bó cây lao cùng nương dựa mà đứng. Luận Pháp Tướng có nói, do Tự chứng phần khởi ra Kiến tướng hai phần. Nghĩa là Tâm và Pháp không rời nhau. nay nói Pháp thì giả Tâm thì chân.

Tức Pháp có thời kỳ dứt mất, tâm không thời kỳ dứt mất vậy.


Trong kinh có nói: Tâm chư Phật thì chân, tâm chúng sanh thì vọng. Không phải một mực đều chân hết cả. Pháp chúng sanh thì giả, pháp chư Phật thì chân. Không phải đều vọng hết cả.

Người xưa giải nghĩa nói pháp là giả, tâm là chân. Lấy tâm chân mà chứng pháp giả thì lại bị chống chỏi và không ăn nhập với nhau sao? Vì chư Phật thấy pháp của Phật là chân, pháp chúng sanh là vọng, nên mới khiến chúng sanh bỏ vọng về chân.

Nếu tâm của Phật chân, tâm chúng sanh cũng chân, pháp Phật là giả, pháp chúng sanh cũng là giả. Vậy thì chúng sanh hà tất phải cầu thành Phật? Chư Phật hà tất phải độ chúng sanh? Ta biết ý họ nói. Cũng như ngoại đạo vì không hiểu ngã pháp, nên mới có nhiều việc sai lầm. Hiện nay có hai hạng người sai lầm là: Duy tâm luận là Duy vật luận.


1. Duy tâm luận: Giống như các nhà chấp ngã thời xưa. Cái nói Duy tâm, mới nghe thì giống như tâm của Phật pháp. Nhưng chữ Tâm mà họ gọi đây tức là vọng tâm, chứ không phải chân tâm, nếu họ chịu tiến thêm lên một tầng nữa thì sẽ giống như Phật pháp.

2. Duy vật luận: Giống như các nhà chấp pháp thời xưa, nếu họ chịu tiến thêm lên một tầng nữa thì họ cũng sẽ giống như Phật pháp.
http://www.tangthuphathoc.net/duythuchoc/dichnghia30baitungduythuc.htm (Còn tiếp...)
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: 30 bài tụng Duy thức (HT.Thích Khánh Anh)

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 6 09 Tháng 5, 2014 10:46 am

Dịch Nghĩa
30 bài tụng duy thức
HT Thích Khánh Anh
-o0o-

由假說我法
有種種相轉
彼依識所變
此能變爲三
謂異熟思量
及了別境識
Do giả thuyết ngã pháp
Hữu chủng chủng tướng chuyển
Bỉ y thức sở biến
Thử năng biến vi tam
Vị Dị thục, Tư lương
Cập Liễu biệt cảnh thức

(Nối tiếp...)

Duy vật luận cho rằng trong vũ trụ chỉ có vật chất, là độc lập hằng còn, còn về tinh thần thì chỉ là một thứ biểu hiện của vật chất, ngoài vật chất ra thì không có tinh thần.

Các nhà khoa học thời nay đều nhận cho thuyết ấy là đúng. Họ đâu biết được hiện tượng của tinh thần và vật chất, hai thứ ấy đều do tự tánh của nó phát sanh.

Tinh thần và vật chất tuy không rời nhau, nhưng kết cuộc phải lấy tinh thần làm mạnh hơn. Những vật có vận động đều phải nương nơi tinh thần và vật có sanh diệt cũng đều do nơi tinh thần sai khiến.


Nên bảo rằng không có tinh thần thì không bao giờ có vật chất, chứ không thể bảo rằng không vật chất thì không tinh thần. Ví như người ngủ mê, vật chất tạm rời tinh thần, mình nằm như xác chết chẳng làm việc gì được, mà trái lại về tinh thần vẫn có thể vui chơi nơi phương xa lạ. Lấy một việc này mà suy nghiệm thì biết rằng ngoài vật chất còn có phần tinh thần.


Phật dạy Lục đạo luân hồi. Khoa học thời nay gọi là mê tín. Và các việc khảo cứu về Lục đạo luân hồi họ bảo rằng đều là ngẫu nhiên hoặc nói là con mắt lòa. Còn như việc ngủ thấy chiêm bao, tinh thần tạm rời khỏi thân thể, ai ai cũng tự nghiệm thấy rõ. Như thế gọi là mê tín sao? Hay là cho con mắt lòa?

Nhà Duy vật đến đây còn lấy chi mà trả lời cho xuôi. Vậy thì nên hiểu rằng ngoài vật chất còn có tinh thần hằng còn là khác. Thế thì thuyết Lục đạo luân hồi có sự thật.

Còn có một số người nhận lầm ngã pháp, nhưng người này không phải ngoại đạo, tức tông Pháp tướng của nhà Phật. Tông Pháp tướng ấy nói rằng: Sắc chẳng lìa thức gọi là Duy thức. Nói chữ Duy nghĩa là ngăn cái cảnh, chữ Thức nghĩa là chọn cái tâm là không.


Ngăn cảnh có là: chỉ ngăn cảnh ở ngoài tâm. Nếu cảnh do tâm biến ra thì không cần phải ngăn đón. Tuy nói rằng ngăn cảnh nhưng cũng như là không ngăn vì ngoài tâm không có cảnh sao họ không nói ngay rằng Tâm Cảnh đều là có cả. Có Tâm tức là Ngã chấp, có Cảnh tức là Pháp chấp.


Duy thức nghĩa là:
Duy là ngăn cảnh do tâm biến ra, chứ không ngăn cảnh ở ngoài tâm. Vì cảnh do tâm biến ra, mới lấy tâm mà ngăn. Còn cảnh ở ngoài tâm mà lấy tâm ngăn sao được? Ví như cái bình phong hay cái ghế ngồi, ấy là chất cây biến khởi ra. Nếu luận đến bản thể của chất cây biến ra thì ngăn được cái tên giả của bình phong và ghế ngồi. Nếu vật kia bằng vàng hay đá, thì tuyệt nhiên không thể lấy chất cây mà ngăn đón được. Lại một lẽ nữa, như cảnh do tâm người kia biến ra thì không thể tùy theo tâm ta có hay không, thì ngăn cảnh đó mà làm gì?


Hết thảy chúng sanh đều vì cảnh mà có sống chết phiền não. Cảnh là nguyên nhân sanh ra sự khổ. Muốn cho chúng sanh lìa khổ nên Phật dạy phải ngăn cảnh. Nếu không ngăn cảnh mà muốn lìa khổ cũng như đứng dưới ánh mặt trời mà muốn không có ánh sáng.

Tông Pháp tướng gọi tất cả pháp đều có, mà cầu khỏi sự sống chết đặng chứng cảnh Niết -bàn, cũng chỉ vì chưa hiểu nguyên nhân sanh ra sự sống chết.


Nếu gọi tất cả cảnh là không, thì có khác gì với kẻ không vong ngoại đạo.
Duy thức gọi ngăn cảnh là đem cảnh do tâm biến ra mà trở về nơi tâm, cho nên nói rằng Duy tâm. Không giống như kẻ không vong ngoại đạo, buông bỏ những cảnh mà không nói đến.


Pháp ngăn cảnh tức là trong sự thường dùng hàng ngày, không nhận cho cảnh giới ở ngoài tâm, mà trực triệt lấy cảnh làm tự tâm, không một vật gì đáng bỏ và đáng lấy. Đấy là quán tưởng Duy thức.

Quán tưởng ấy đã thành công, tức là hết vọng niệm, nguyên nhân sanh tử phiền não không sanh, thì quả sanh tử phiền não sẽ dứt. Quán tưởng ấy thành công lâu ngày, thì đồng với chư Phật. Khi đó tâm lượng sẽ bao trùm hư không pháp giới.


Những cảnh trước mắt tuy nhận cho là tự tâm biến ra mà bảo rằng vĩnh viễn chẳng rời khỏi tâm thì trong tâm thường có cảnh ấy là vọng tưởng của phàm phu. Chính là tâm động thì cảnh đời, niệm niệm uôn đúc thành hột giống sanh tử như thế đến khi nào mới thành Phật?

“Sắc bất ly thức” (của ngài Huyền Trang Tam Tạng pháp sư trong Thành Duy Thức Luận) mà lập thành 3 chi để làm tỷ lượng.

Mà nói rằng vì tại chân nên có cực thành sắc (vì sắc là chân thật nên gọi là cực thành nghĩa là sắc nhất định không thể lìa khỏi con mắt). Câu nói ấy đem yết thị tại kinh đô ấn Độ 18 ngày không ai đánh đổ đặng vì thế mà thành lập tông ấy. Theo ta tưởng lúc ấy ở ấn Độ lúc ấy Phật giáo đã suy vi lắm rồi.
Nếu có người hiểu được một ít trong Phật pháp, thì tông của thầy Tam Tạng Huyền Trang quyết không thành lập đặng.


Vì sắc không lìa khỏi cái biết con mắt, người đời ai cũng hiểu như thế, nếu theo đó mà lập tông thì có lỗi là phù hợp với đời. Ngoại đạo ấn Độ tuy nhiều, nhưng chưa nghe ai nói lìa cái biết con mắt mà thấy được sắc.
Lập tông là cốt để cho người phá, đã không ai phá thì lập tông làm gì? Theo ta gọi lập tông như thế vì không có người phá chứ không phải là phá không được, vì không cần phải phá đấy thôi.


Căn cứ theo giáo lý nhà Phật, thì tông ấy cũng không thể thành lập được. Như Tôn giả A -na-luật con mắt đã hư. Thức con mắt không sanh thì sắc cũng theo thức mà tiêu diệt. Như thế tại sao Tôn giả xem đại thiên thế giới rõ như xem những vật trong lòng bàn tay. Tôn giả không có con mắt mà thấy được, chứng được, thế thì sắc nhất định rời khỏi thức con mắt và tông của Pháp Sư Tam Tạng không thành lập được. Còn Thánh nhân thì 6 căn đều thấy được sắc (lục căn hỗ dụng).


Có người không tin do tâm biến ra cảnh nên gạn hỏi rằng: Nếu tâm biến được cảnh thì hiện nay ai ai cũng có tâm sao không nghe ai biến được cảnh?

Tâm là cái danh chung có chân có vọng. Tâm chúng sanh là vọng không thể biến cảnh. Chỉ có chân như chân tâm tức tánh mới biến được cảnh, vì ai cũng đều bị vọng niệm khởi sanh mà duyên nơi tự tâm. Trong kinh có nói tự tâm mà lấy tự tâm vì vậy không phải huyễn mà thành ra huyễn (tự tâm trước là thức, tự tâm sau là cảnh). Vậy thì vọng niệm là cái tâm để biết của ta, còn tâm thể là cảnh bị biết của ta. Tâm thể biết tức là tâm thất thức, cảnh bị biết tức là thế giới hư không. Cảnh ấy, tâm ấy tất cả đều nương vào chân tâm mà khởi sanh ra.


Chân tâm hòa hợp với vọng tâm đặt tên là Bát thức và bắt đầu từ đây tâm cảnh đối đãi nhau. Tâm sanh ra tâm, cảnh sanh ra cảnh, không giống với lúc ban sơ là cảnh do tâm sanh. Trong kinh có nói rằng: Thất thức nương Bát thức, như đá nam châm hút sắt, cũng như con rắn có hai đầu, đầu nào tạo riêng nghiệp đầu nấy, bởi thế tâm sở thất thức sanh, thì có cảnh 5 đại chủng cùng sanh, tâm vương lục thức sanh, lục thức sanh thì có 6 cảnh trần cùng sanh. Khi tâm sở lục thức sanh, lại ở trong cảnh 6 trần phân biệt lớn nhỏ cao thấp, món món những tướng hư huyễn sanh ra. Như thế gọi là một tâm sanh ra muôn pháp.
http://www.tangthuphathoc.net/duythuchoc/dichnghia30baitungduythuc.htm (Còn tiếp...)
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: 30 bài tụng Duy thức (HT.Thích Khánh Anh)

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 6 09 Tháng 5, 2014 10:53 am

Dịch Nghĩa
30 bài tụng duy thức
HT Thích Khánh Anh
-o0o-

由假說我法
有種種相轉
彼依識所變
此能變爲三
謂異熟思量
及了別境識
Do giả thuyết ngã pháp
Hữu chủng chủng tướng chuyển
Bỉ y thức sở biến
Thử năng biến vi tam
Vị Dị thục, Tư lương
Cập Liễu biệt cảnh thức

(Nối tiếp...)

Khi dứt Tâm sở phân biệt của 6 thức, thì không cái cảnh cao, thấp, lớn, nhỏ, dài, ngắn, vuông, tròn.

Khi dứt được Tâm vương 6 thức, thì không cái cảnh của 6 trần.

6 trần phân biệt khi dứt được Tâm sở thất thức, thì không cảnh 5 đại chủng.

Khi dứt được Tâm vương Thất thức thì không cảnh hư không thế giới.


Các cảnh đã diệt rồi tức trở về tánh Phật, gọi là muôn pháp do ở một tâm mà ra. Vì thường thấy trước mắt những cảnh sanh cảnh, tâm sanh tâm, tâm cảnh khác nhau. Cũng vì thế nên không hiểu được gốc của tâm và cảnh, nên mới sanh ra việc nghi ngờ không chánh đáng.

Chân tâm biến cảnh, vọng tâm không biến cảnh. Chân tâm không chướng ngại, vì không chướng ngại nên thế lực tâm cảnh không chướng ngại. Vì trong tâm có cảnh, trong cảnh có tâm, tâm cảnh như nhất. Sau khi tâm cảnh bắt đầu phát sanh, và cũng bắt đầu chia rẽ, thì chia rẽ từ đây nên sức chướng ngại của cảnh chẳng dung nạp được tâm. Sự hiểu biết của tâm chẳng dung nạp cảnh, nên thành ra hai ngã vậy.
Tâm cảnh tuy khác nhau, nhưng trong tâm vẫn có một phần cảnh, như các loại hữu tình tất phải có sắc thân. Trong cảnh cũng vẫn có một phần tâm, tất cả vạn vật đều có tánh sống chết.
Có một sự chứng nghiệm rằng tâm sanh ra cảnh. Như người mới sanh ra tuy do nơi cha mẹ, nếu không có tâm của mình đầu thai vào, thì tất nhiên không thành người. Vậy thì thân của người là do người tạo ra.

Cũng như giống đậu, giống bắp bề ngoài tuy không thể sanh nhành, nứt lá nhưng vẫn có cái sanh tánh của nó ở trong. Nếu không có sanh tánh ấy, thì làm thế nào sanh chồi nứt cựa cho đến khi trổ nhành phát lá. ấy chứng tỏ rằng tất cả cái gì cũng đều do từ tánh biết mà sanh ra. Tánh trong hột giống ấy đồng với tâm của ta, chỉ khác một điều là cái sức hiểu biết có phát hiện và không phát hiện. Tất cả loại hữu tình, loại vô tình đồng với nhau một thể tánh, không có sự phân biệt.


Hoặc nói trên thế giới hữu tình là do sự tưởng chung của chúng sanh mà lập thành, không phải tùy theo một cá nhân mà thay đổi nên mới có sự sống cùng sống, sống cùng không sống, không sống cùng sống, và những sự không sống cùng không sống.


Chúng sanh cùng biến chung thành một thế giới, như chúng sanh nghiệp tận thân vong (đã chết rồi) thì trên thế giới phải giảm mất hết một phần, cũng như sanh ra một đứa trẻ, thì trên thế giới lại tăng thêm một phần. Chỉ thấy sự sống chết của chúng sanh mà không thấy sự tăng giảm trên thế giới. Nếu có thể thấy được sự tăng giảm, tức tâm chúng sanh đều khác nhau cả.

Trong kinh có nói rằng do chân mà khởi sanh ra vọng, không có giả thì cũng không có chân. ấy là lý tự nhiên vậy.

Luận Pháp Tướng có nói rằng thức biến sanh ra tất cả pháp. Pháp biết biến là chân, bị biến là giả.
Nếu cái giả mà không nương vào cái chân, tức ngoài chân có giả. Nhưng ngoài chân có giả thì giả ấy không phải là giả, vì nó tự lập lấy nó được thì không thể gọi là giả.


Lấy sự thật mà suy nghiệm, để hiểu biết ngã pháp là có nguyên do, không phải tự nhiên bày đặt nói càn, chứ thật ra không có ý nghĩa gì.


Luận Pháp Tướng có nói rằng, Thất thức chấp Kiến phần Bát thức gọi là Ngã, thì cái Ngã ấy có căn cứ rõ ràng. Thất thức không chấp Tướng phần Bát thức mà lại gọi chấp Kiến phần Bát thức gọi là Ngã. Vì Tướng phần không có chủ tể (vì sự không hiểu biết), mà Kiến phần thì có chủ tể (có sự hiểu biết) là cái Ngã có thật có chủ tể nên gọi là Ngã. Vì phân biệt được cảnh nên gọi Kiến phần. Vậy thì Kiến phần với cái Ngã, đồng nương vào các giả danh của tâm mà nói.


Nếu nói rằng Kiến phần Bát thức là thuộc về tâm Y tha khởi tự mà có (Thất thức), còn ngã thuộc về tâm Biến kế (Lục thức) là không. Cũng như nói ông Tất -đạt-đa thành Phật Mâu -ni là ngoại đạo. Nói như thế là đối với kẻ không hiểu biết gì thì họ cho là phải, còn đối với kẻ tri thức thì họ cho là lời nói điên khùng.
Nếu gọi cái ngã là thuộc về pháp Biến kế (Lục thức) thì Thất thức là thức chấp ngã. tức là tâm Biến kế.

Đã nói Thất thức là thức chấp Ngã. Vậy thì không nên nói Thất thức là tánh vô ký. Lại nói Sở chấp biến kế, Biến kế là chủng chủng vật thì có khác gì đem đầu lừa mà tra vào óc ngựa. Vì kẻ nói đó chưa hiểu được lý của Ngã Pháp.
Nên hiểu rằng Lục thức chấp sắc thân (thân xác thịt) gọi là Ngã, là cái thân do nhân duyên hòa hợp mà sanh, nên không có tự tánh. ấy là Ngã thuộc về tánh Biến kế.
http://www.tangthuphathoc.net/duythuchoc/dichnghia30baitungduythuc.htm (Còn tiếp...)
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: 30 bài tụng Duy thức (HT.Thích Khánh Anh)

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 6 09 Tháng 5, 2014 11:02 am

Dịch Nghĩa
30 bài tụng duy thức
HT Thích Khánh Anh
-o0o-

由假說我法
有種種相轉
彼依識所變
此能變爲三
謂異熟思量
及了別境識
Do giả thuyết ngã pháp
Hữu chủng chủng tướng chuyển
Bỉ y thức sở biến
Thử năng biến vi tam
Vị Dị thục, Tư lương
Cập Liễu biệt cảnh thức

(Nối tiếp...)

Thất thức chấp Kiến phần gọi là Ngã, Kiến phần do duyên phân biệt sanh, thì cái Ngã thuộc về tánh Y tha khởi (Thất thức). Lục thức nương theo vũ trụ là do nhân duyên sanh, là thuộc tánh Biến kế.


Thất thức nương theo 5 đại chủng là do duyên Phân biệt sanh, nên thuộc về tánh Y tha khởi. Rõ ràng Ngã Pháp chia ra tầng chẳng đặng gọi chung vào tánh Biến kế vì hết thảy cũng đều cho đó là hư vô.

Có người hỏi Lục thức, Thất thức đều có năng có sở, tại sao Lục thức chỉ nói là pháp chấp, Thất thức chỉ nói là Ngã chấp?


Lục thức tuy có cái ngã để biết, mà không thấy được cái ngã để biết, chỉ thấy các pháp bị biết, vì lẽ thấy được các pháp bị biết nên gọi là pháp chấp.


Thất thức biết được tánh là không, chẳng biết pháp là có, vì cho pháp có ấy là giả, nên không gọi là pháp chấp tại vì biết tánh là không ấy nên gọi Ngã là chân thật nên gọi là Ngã chấp (Thất thức).


Bậc thánh nhân xuất thế (Tiểu thừa) chỉ kể nơi tâm của mình, mà không kể tướng giả dối ở ngoài. Trái lại kẻ thế gian chỉ kể tướng giả dối ở ngoài mà không kể đến tâm của mình. Cả hai bên đều có chỗ sai lầm.

Có người hỏi những nhà giải nghĩa Ngã Pháp đều chỉ về tánh Biến kế không chỉ về tánh Y tha.
Khuyết điểm của họ chính ở chỗ đó. Vì họ gọi tánh Y tha là pháp, tức là bị pháp chấp, thế thì tánh Viên thành cũng là pháp. Vì sao nhà Phật chẳng nói 3 chấp mà chỉ nói 2 chấp?


Phật dạy rằng thế gian chỉ thấy pháp ở ngoài, nên gọi là pháp chấp. Bất Nhị thừa chỉ chứng được một phần Ngã chấp (mới chứng sanh không chân như, chưa chứng pháp không chân như) vì mới thấy được tâm Thất thức nên gọi là Ngã chấp.

Hai hạng người này tuy nói được cái danh của viên thành, chứ chưa thấy được thật tướng của viên thành. Vì thế nên không gọi Viên thành là pháp chấp.


Phật và Bồ -tát chứng được thật tướng của Viên thành, nhưng năng và sở của tánh Viên thành chỉ có một, nên không gọi Viên thành là Pháp chấp, cũng không gọi là Ngã chấp.


Cứ theo các học giả thì Ngã là chủ quan, Pháp là khách quan. Ngã với Pháp đồng thời đối đãi. Nói như thế thì có lỗi thâu gồm các pháp, mà thâu chẳng hết. Chỉ thâu được Ngã chấp của thế gian, mà không có Ngã chấp của Nhị thừa.

Chỉ có được pháp thế gian là do nhân duyên sanh, mà không có pháp phân biệt duyên sanh.
Ngã và Pháp cùng đối lập nhau, chỉ thành một chấp mà thôi. Không nên nói Ngã và Pháp là hai chấp.


Nếu nói ngã và pháp là 2 chấp thì phải hiểu cái pháp đó không phải là cái pháp của Ngã, mà lại là cái pháp của thân.

Thử năng biến vi tam.

Có người giải nghĩa rằng, cái bị biến rộng vô cùng, cái biết biến có 3. Nói như thế có 3 lỗi:

1. Trái với lý Duy thức, vì nghĩa Duy thức chẳng những là ngăn cảnh, mà lại ngăn cả tâm, và chỉ có một cái “biết” cho nên nói rằng Duy thức, nếu Thức có nhiều thì chữ Duy không thành nghĩa.


2. Như nói cái biết biến có 3 tức tâm con người có 3. Và nếu như một người mà có 3 tâm thì đến khi thành Phật sẽ thành ra 3 ông Phật. Đấy chính là cái sai lầm rất lớn. Nên biết rằng 3 cái biết biến ấy nên gọi là biết sanh tức là hột giống.


3. Bảo biết biến là biết sanh, tức có nghĩa như hột giống cũng là sai, vì luận Pháp Tướng nói 8 thức biết sanh đều nghĩ hột giống, còn những cái chuyển thức đều do 8 thức mà sanh ra. Nên nói cái biết biến không phải là 3 loại, nghĩa là nói tánh của thức có công năng 3 lần biến. Những tên Dị thục, Tư lương, Liễu biệt đều do nơi thức tánh biến ra. Nếu gọi cái biết biến có 3 loại, đồng thời sanh ra 3 cái bị biến, thì không cần phải nói đến chữ Thứ đệ tam năng biến.

Thứ đệ tam biến nghĩa là trước sau biến hóa có ba lần.

Luận Duy thức nói chữ Thứ đệ biến nghĩa là trước sau biến hóa có 3 lần.

Luận Duy thức nói chữ “Thứ đệ biến” để chứng tỏ rằng không có ba lần cái biết biến (có 3 giai đoạn).

Duy thức tuy nói 3 lần biến, song sự thật chỉ có 2 lần biến, lần biến ban sơ là sẵn có.

Luận Khởi Tín có nói, nương theo Như Lai tạng (chân vọng hòa hợp) mà có tâm sanh diệt. Tâm sanh diệt tức là Thất thức, ấy một lần biến.

Tạng tánh phụ theo tâm sanh diệt thì chẳng gọi Như Lai tạng, lại gọi là hàm tàng thức tức Bát thức, do một lần biến mà có hai danh từ khởi sanh ra từ chỗ vi tế sanh diệt (Thất thức) đến chỗ thô sanh “diệt” (lục thức). Đây là lần biến thứ nhất do duyên phân biệt sanh, tức tâm pháp của Thất thức. Lần biến thứ hai do nhân duyên sanh, là tâm pháp của Lục thức.


Còn Bát thức là tâm pháp chẳng hề sanh diệt, sẵn có tự nhiên, chẳng phải là nơi bị biến.
Trong việc biến chuyển này có hai cái biết biến, nhân biết biến và quả biết biến.
Nhân biết biến: Lại chia làm 2: Dị thục và Đẳng lưu.


1. Nhân biết biến là thói quen của các pháp uôn đúc trong bổn thức, từ khi bắt đầu uôn đúc cho đến lúc phát sanh, trong khoảng ấy gọi là Nhân, chứa ít thành nhiều, đổi sống thành chín gọi là biến.
Nhân Đẳng lưu biến là những thói quen của tánh thiện, ác và vô ký uôn đúc thành hột giống thiện, ác và vô ký, nhân quả đồng thời gọi là Đẳng lưu biến.


Nhân Dị thục biến là thói quen của Đẳng lưu đổi sống thành chín, sống với chín khác nhau, nên gọi Dị thục. Đẳng lưu và Dị thục đồng ở thời kỳ tạo nhân nên gọi nhân biết biến.
Quả biết biến: cũng chia làm hai món Đẳng lưu và Dị thục.


2. Quả biết biến là 2 nhân trước kia đã thành thục rồi nay phát sanh ra hiện hành cho đến ngày tiêu diệt, trong khoảng sanh trưởng ấy gọi là quả, do ít thành nhiều, đổi nhỏ ra lớn gọi là biến.

Quả Đẳng lưu biến là: Khi con người mới sanh; 5 chất đại chủng rất ít, lần lần thêm nhiều, cái nhiều ấy cũng không ngoài 5 chất đại chủng, quả giống nhân nên gọi Đẳng lưu quả Dị thục biến là: Khi mới sanh ra thì tướng con nít, lần lần đổi thành tướng người lớn, cho đến đổi thành tướng già chết. Quả với nhân khác nhau gọi là Dị thục. Đẳng lưu và Dị thục đều ở trong một quả, nên gọi quả biết biến; còn pháp do phân biệt duyên (Thất thức) mà sanh nối liền chặt chẽ với nhau. Tuy có trước sau nhưng không biến đổi và cũng không thêm bớt, thanh tịnh bổn nhiên, nên không nói đến nhân quả.
Có kẻ giải nghĩa rằng: Sức lực của tánh vô ký rất yếu, không thể uôn đúc mà thành hột giống, phải nhờ nhân thiện ác mà uôn đúc mới thành quả vô ký, nhân với quả khác nhau nên gọi Dị thục (Lời của ông Hộ Pháp trích ở Thành Duy Thức Luận).


Nói như thế có lỗi với lý nhân quả, Phật dạy rằng nhân lành thì quả lành, nhân ác thì quả ác, nhân vô ký quả vô ký. Nhân gì quả nấy, mảy tơ không sai là định luật nhân quả của nhà Phật. Làm nghiệp thiện ác mà chịu quả vô ký. Như vậy quả báo không giống với nhân; như thói quen thiện ác đã uôn đúc vào tánh vô ký, thì thói quen gì để uôn đúc vào tánh thiện ác? Nếu bảo thói quen thiện ác uôn đúc thiện ác, và lại uôn đúc luôn cả tánh vô ký, cũng như một bàn chân mà đứng cả hai thuyền. Đâu có những lý rộn ràng như thế. Vả lại tánh thiện ác và tánh vô ký trái hẳn nhau như nước với lửa thì làm sao hấp thụ với nhau.


Theo ta hiểu lý nhân quả cũng như bản in với chữ in, chữ in với bản in giống nhau mới gọi lý nhân quả tương ứng. Nếu bản in thiện ác mà in thành ra chữ vô ký, há chẳng là việc lạ đời ư?

Hiện hành và chủng tử uôn đúc lẫn nhau, như máy chụp hình, vuông thì chụp vuông, tròn thì chụp tròn, có thì chụp có, không thì chụp không. Vì thế nên hình và bóng không khác nhau. Còn hình và bóng không giống nhau thì không thể gọi là máy chụp hình. Cũng như nhân thiện ác mà uôn đúc thành quả vô ký, thì làm sao gọi là nhân quả.


Dị thục, Tư lương và Liễu biệt là nương theo sự tác dụng của mỗi thức mà đặt tên, cũng như công năng (sức lực) Bát thức đổi sống ra chín nên gọi Dị thục.

Công năng (sức lực) Thất thức là tâm suy nghĩ nên gọi là Tư lương. Công năng Lục thức là phân biệt cảnh, nên gọi là Liễu biệt. Nói đến nhân quả của Dị thục, thì Tư lương và Liễu biệt cũng nên bàn đến nhân quả vì 3 cái này đồng chịu sự chuyển biến của Thức tánh. Nhưng 3 thức này biến chuyển khác nhau.
http://www.tangthuphathoc.net/duythuchoc/dichnghia30baitungduythuc.htm (Còn tiếp...)
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland


Quay về Luận học và Duy thức

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến1 khách

cron