Diễn đàn Tu viện Phật giáo Việt nam


###Sách Kiến Tánh Thành Phật

Thảo luận về kinh điển Thiền.

Các điều hành viên: Sen Hong, Bất Nhị

###Sách Kiến Tánh Thành Phật

Gửi bàigửi bởi thichthientri » Thứ 7 30 Tháng 4, 2016 9:44 am

ĐẠO TRÀNG HUỆ NHỰT

154/32-34 Nguyễn Biễu F. 2, Q. 5

TP.HCM

ĐT : (08) – 38366226


KIẾN TÁNH

T H À N H P H Ậ T


SỌAN GIẢ

THIỀN SƯ : THÍCH THANH PHƯỚC

TỰ : NHỰT TRÍ

HIỆU : HUỆ ĐỊNH
thichthientri
Cảm ơn, Thành viên Moderator (Xin thông báo BQT)
 
Bài viết: 157
Ngày tham gia: Thứ 2 09 Tháng 4, 2012 2:17 am

Re: ###Sách Kiến Tánh Thành Phật

Gửi bàigửi bởi thichthientri » Thứ 7 30 Tháng 4, 2016 9:48 am

PHẬT GIÁO & KHOA HỌC

˜
Ông Albert EINSTEIN là một nhà khoa học lớn có nói rằng :
A.-Phật giáo có những đặc trưng của một Tôn giáo mang tính toàn cầu trong tương lai mà mọi người mong đợi. Nó vượt khỏi giới hạn của việc tôn thờ cá nhân một vị thần hay bậc Thánh và tránh được chủ nghĩa giáo điều hay thần học; nó bao hàm cả lãnh vực tự nhiên và siêu nhiên và nó dựa trên một cảm nhận tâm linh từ kinh nghiệm, tiếp xúc với mọi vật, dù mang tính tự nhiên hay siêu nhiên, như một tổng thể có ý nghĩa. Nếu có một tôn giáo nào có khả năng đáp ứng được những nhu cầu của khoa học hiện đại thì đó chính là Phật Giáo.
*
B.-Tôn giáo mà không có Khoa học, thì giống như anh
điếc. Còn Khoa học mà không có Tôn giáo, thì giống như anh mù !.
˜*
-HT. Thiền Sư KUANG TSUNG CHEN (T. QUANG TÔNG) Viện Trưởng Kiêm Đạo Sư Trường Dạy Thiền Học Hàm Thụ Quốc Tế ở Uc Châu (Australia) nói :
-“Nếu chúng ta có hòai bảo làm sao để Phật Giáo phát triển mở rộng ánh sáng tỏa rực như vầng Thái dương buổi sáng, làm lợi khắp chúng sanh trên thế gian nầy, thì phải làm sao nắm bắt cho được những tinh hoa, ưu tú trong phương pháp, kỹ thuật, thực nghiệm của khoa học, để vận dụng vào công việc hoằng dương Chánh Pháp, mới mong đem lại kết quả khả quan. Ngoài cách ấy ra không còn có con đường nào khác !”./.
˜*
‘ T Â M ’

Tâm là nguồn của mọi pháp lành.

Tâm là chủ của muôn công đức.

Niết Bàn thường vui do Tâm mà ra.

Ba cõi lăn lóc cũng theo tâm mà dậy.

Tâm là cửa, là ngõ của đạo xuất thế.

Tâm là bến, là ải của Đạo Giải Thoát.

Cửa ngõ đã biết, há lo khó vào ?

Bến ải đã rõ, há ngại khó thông ?./.
thichthientri
Cảm ơn, Thành viên Moderator (Xin thông báo BQT)
 
Bài viết: 157
Ngày tham gia: Thứ 2 09 Tháng 4, 2012 2:17 am

Re: ###Sách Kiến Tánh Thành Phật

Gửi bàigửi bởi thichthientri » Thứ 7 30 Tháng 4, 2016 9:55 am

M Ụ C L Ụ C
*
1- LỜI NÓI ĐẦU
2- TUYÊN BỐ CỦA ĐỨC PHẬT + KỆ PHÚ PHÁP + Kệ Phú Pháp Của Chư Tổ + Lời dạy của Đức LỤC -Hành giả phát tâm tu Thiền nên biết : Đức PHẬT tuyên bố như thế nào ?.Th. Sư CHÂN NGUYÊN, Th. Sư QUẢNG NGHIÊM
3- Kinh THIÊN SỨ + Tĩnh Giác là Đạo + VÔ MINH là gì ? + Thiền Sư KHUÊ PHONG + Kinh Nhân Quả +
4- Kinh VỊ MÂU NI THÀNH ĐẠT + Ngũ Uẫn
5- ĐẠI THỪA YẾU QUYẾT + TỨ Y + TÂM TỨC Ý NIỆM + -Ý niệm và thân thể cái nào quan trọng hơn ? + Tại nó hay Tại mình +
6- NGHIỆP + Ngũ Trược + Si Mê Là Gốc Đau Khổ
7- Lời dạy của Đức PHẬT : 20 Điều Khó+ 14 Điều răn + Thân Bệnh & Tâm Bệnh
8- Thiền sư TRÌ BÁT………+ -Sanh diệt khứ lai + Kinh ĐIỀU NGỰ + HỎI & ĐÁP
9- Kinh ĐẠI BÁT NIẾT BÀN + Chỉ vì 2 CHỮ Không Biết + Cội nguồn của khổ đau + Hằng tỉnh Hằng giác + CHĂN TRẬU GIỎI +-Hai cực đoan
10- BÁCH THIÊN TỤNG BÁT NHÃ + CHÂU LỢI BÀN ĐẶC + LÝ DUYÊN KHỞI
11- Phật Tánh không khác + Năm Điều Thường Nhớ + CÓ & KHÔNG + KINH TÌNH THƯƠNG +Tu Thiền Trị Tâm Bệnh:
12- Đánh Xe hay Đánh Trâu ? + Câu chuyện do Trang Tử kể + Những gì là tối thượng + HAI VÔ NGÃ + Bát Nhã Tâm Kinh :……+ Ngồi ở chỗ nào ? + Đức Phật dạy
13- Sơ Tổ BỒ ĐỀ ĐẠT MA + TÂM CUỒNG DỪNG BẶT là NGỘ ĐẠO + THIỀN HỌC VẤN ĐÁP
14- LỜI DẠY ĐẠO CỦA NGƯỜI XƯA + Biết Pháp
15- Người xưa Kiến Tánh hay Ngộ Đạo như thế nào ? + Việc Ngộ Đạo của Thiền Sư Nghĩa Tồn ở Ngao Sơn + VÔ VI PHÁP
16- TU TẬP THIỀN ĐỊNH NHƯ THẾ NÀO ? + VŨ TRỤ
17- CÂU HỎI ĐỂ THAM KHẢO + Cội Gốc Của Luân Hồi
18- CHÁNH PHÁP CỦA PHẬT + HỎI & ĐÁP + MA CHƯỚNG THỜI MẠT PHÁP + Hai cái Chết
19- Hành Giả Thời Nay muốn Kiến Tánh phải tu tập như thể nào ?
20- Diệu Pháp GIẢI THÓAT : A.-Thực Hành Diệu Pháp
B.-Thế nào là Khu Xác Quan Niệm ?
21- Tổn Thất Lớn Nhất + Biết ơn Phật thứ nhứt + Trạng Thái Cảm Giác Khi Được Kiến Tánh hay Ngộ Đạo + TỀ HÒAN CÔNG và NGƯỜI THỢ MỘC
22- KIẾN TÁNH THÀNH PHẬT + HỎI & ĐÁP + Lời dạy của TỔ HÒANG BÁ
23- GIẢI THOÁT HỌC VẤN ĐÁP (Phần Một-Cấp Cấp Mang Mang Khổ
Bách Cầu )
24- LỜI DẠY CỦA TỔ HÒANG BÁ + NÓI RÕ VỀ CHÂN NHƯ
25- Diệu Pháp GIẢI THÓAT+Chứng Đạo Ca + Chỉ một chữ ‘Biết’ là cửa của muôn sư nhiệm mầu :
26- A.-Tầu Hỏa Nhập Ma
B.- Thác Giác :
C.- Huyễn Giác
27- Tự Tại việc sống chết + HỎI & ĐÁP + Những điều cần phải lưu ý
28- Thiền Sư HOẰNG BIỆN + NGŨ ẤM + VÀI NÉT VỀ CƠ THỂ SINH LÝ
29- TẦM MỨC QUAN TRỌNG CỦA PHÁP TU -Phật ở đâu ? + Thiền Sư VẠN HẠNH + Thi hào: TÔ THỨC + Thiền Sư LINH HỰU + Ý nghĩa của chữ Tức
30- LỜI DẠY CỦA TỔ HÒANG BÁ + TỰ TẠI VỚI VIỆC SÔNG CHẾT + CHẤP TRƯỚC + LUẬN VỀ SỰ PHÂN BIỆT + Khen chê không thật
31- TU HÀNH NHƯ THẾ NÀO MỚI GỌI LÀ TU TỐT ? + Thiền Sư VIÊN CHỨNG + CƯ TRẦN LẠC ĐẠO
32- TÂM CHÍNH THƯỜNG LÀ ĐẠO
33- Thiền Lão THIỀN SƯ + Hỏi & Đáp + THÀNH ĐẠO theo tinh thần THIỀN
34 - Những Ai Tìm Cầu Sự Chứng Ngộ ?
35- TAM TỀ & LỤC THÔ + Làm Thế Nào để Tâm Cuồng Của Bạn Dừng Nghỉ ?
36 - Mỹ Hóa Sức Nghiệp + TUỆ TRUNG THƯỢNG SĨ + Sư HUYỀN GIÁC & ĐỨC LỤC TỔ :-H Ỏ I & Đ Á P :
37 - GIẢI THOÁT HỌC Vấn Đáp (Phần hai)
38 - TỔNG CƠ QUAN ÁO BÍ CỦA VŨ TRỤ là VÔ TƯỚNG + Không Hoan Hỹ, Không Sầu Muộn
39- DIỆU PHÁP CHÂN THƯỜNG + Lời Dạy Bảo Sau Cùng Của ĐỨC PHẬT
40- VĨNH LẠC & VĨNH SANH
41- PHƯƠNG PHÁP LÀM CHO TÂM CUỒNG ĐỪNG BẶT:
42- Làm sao để được Giàu mãi, Sang mãi, Vui mãi và Sống mãi
43- THƠ KHUYÊN BẠN HỮU + CHỨNG ĐẠO CA
44- Dòng Cam Lộ Tưới Mát Khắp Năm Châu + LỜI DẠY CỦA TỔ HÒANG BÁ + Cái Già Sẳn Trong Cái Trẻ + Đức Phật xả tuổi thọ
45- CẨM NANG CÁC PHÁP + TÓM LƯỢC PHÁP TU
46- Những lời dạy của Đức LỤC TỔ HUỆ NĂNG : A.-Chơn Giả Động Tịnh + KỆ : VÔ TƯỚNG + PHỤ LỤC : VÔ TƯỚNG
47- THIẾN SƯ HY THIÊN (Thạch Đầu) + THẢO AM CA + …LỜI NGUYỀN CỦA PHẬT ĐA BẢO + HỎI & ĐÁP + KẾT LUẬN + THƠ THIỀN+T. Sư : MÃN GIÁC, HUYỀN QUANG, HƯƠNG HẢI
48- TƯ LIỆU THIỀN HỌC (Thẳng Mau Rõ Đúng) + LỜI BẠT + TÂM HỒN GIẢI THÓAT + NGUYỆN CẦU + KỆ HỔI HƯỚNG
thichthientri
Cảm ơn, Thành viên Moderator (Xin thông báo BQT)
 
Bài viết: 157
Ngày tham gia: Thứ 2 09 Tháng 4, 2012 2:17 am

Re: ###Sách Kiến Tánh Thành Phật

Gửi bàigửi bởi thichthientri » Thứ 7 30 Tháng 4, 2016 9:56 am

1

LỜI NÓI ĐẦU

Sơ TỔ BỒ ĐỀ ĐẠT MA là vị Tổ thứ 28 ở Ấn Độ khi sang qua Trung Hoa đã dõng dạc tuyên bố rằng : “Bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền. Trực chỉ nhân Tâm, Kiến Tánh thành Phật”.
Còn Đức LỤC TỔ HUỆ NĂNG là vị Tổ thứ 6 ở Trung Hoa cũng có nói như sau :
A.-Phật nói tất cả pháp, để trị tất cả tâm.
Ta không tất cả tâm, đâu cần tất cả pháp.
*
B.-Chẳng biết Bổn Tâm học Đạo vô ích.
Thế nên, bốn chúng Phật tử xưa nay đều nói rằng mình “Tu Tâm”. Nhưng, nếu như có ai đó hỏi họ : “Tâm là cái gì và ở đâu ? Tại sao phải “Tu Tâm” và tu những gì trong đó ? Nếu không “tu tâm”, thì có hại như thế nào ? Còn “Tu Tâm” thành công thì sẽ được những lợi ích gì ?”, chắc ít có ai trả lời cho người hỏi được hài lòng toại ý !
Nếu muốn tu Tâm, thì không thể không biết những chi tiết đó, thế mà chưa thấy ai đem ra bàn bạc và thảo luận thử hỏi có lạ lùng lắm không !?
Đời nhà Tống (TQ), đại văn hào ÂU DƯƠNG TU hỏi một vị Thiền sư ẩn danh : “Tại sao ngày xưa có rất nhiều người tu hành đạt đến “Tự tại với việc sống chết” (tọa thoát lập vong), ngày nay chẳng thấy vị nào cả !?”
Thiền sư đáp : “Người xưa niệm niệm đều ở chỗ “Giải Thoát”, lúc lâm chung làm sao rối loạn được mà không tự tại ? Người nay, niệm niệm đều ở chỗ “Loạn Động”, khi tắt hơi làm sao được định tỉnh mà chẳng sợ hãi ?”.
ÂU DƯƠNG TU gật đầu bái phục.
Cuối đời nhà Đường đầu nhà Tống, Thiền tông ở Trung Quốc vẫn còn thịnh hành, nhưng có ba sự kiện hết sức quan trọng đã xảy ra như sau :
1.- Tổ HOÀNG BÁ (Thiền sư HY VẬN) đã phải mở miệng than :
“Có Thiền, chớ không có Sư” !”.
2.- Ở trong Thiền lâm có phổ biến và lưu truyền rộng rãi câu nói :
- Người tu đông như lông trâu, còn người đạt Đạo như sừng”.
3.- Pháp THAM THỌAI ĐẦU (không biết ai là người đã phát minh ra nó) mới có cơ hội xuất hiện nơi đời !. Nhưng, Pháp Tu nầy cũng chẳng cứu được mấy người !!!
Và có phải chăng, đây là những lý do để bốn chúng Phật tử thời bấy giờ kính trọng Thiền mà phải xa lánh Thiền (Kính nhi viễn chi), quay sang tu theo Tịnh Độ !?.
Thời nay, vì cách Phật quá xa lại còn rơi vào thời kỳ Mạt pháp nữa.
Nên những ai phát tâm tu theo Thiền tông đều gặp phải rất nhiều khó khăn và chướng ngại. Vì cớ sao ?
Vì không hội đủ hai điều kiện hết sức quan trọng dưới đây :
1.-Một vị MINH SƯ để hướng dẫn, đưa đường và chỉ lối.
2.-Một PHÁP TU cho thật tốt như Diệu Pháp GIẢI THÓAT để hạ thủ công phu.
Chúng ta nên biết rằng : Tu theo Thiền Tông chỉ là công việc “TRỊ TÂM BỆNH” chớ không có gì là huyền bí chi cả ! Và cái công việc “Trị Thân Bệnh” “Trị Tâm Bệnh” tuy có khác nhau về phương pháp, nhưng lại giống nhau về nguyên lý :
THUỐC ĐÙNG BỆNH + DÙNG ĐỦ LIỀU LƯỢNG + THỜI GIAN =
thì bệnh sẽ lành (=hết bệnh)
Do đó,người tu Thiềncần phải ‘Biết Bệnh’ ‘Biết Thuốc’ .
Thuốc nói ở đây là : ‘PHÁP TU’. Pháp Tu phải có đủ khả năng dừng bặt (=ngừng dứt)Vọng tưởng Tạp Niệm’ hay những thứ ‘nghĩ bậy tưởng bạ’ ở trong Tâm Linh, thì hành giả mới có hy vọng được như thực Kiến Tánh (=Giác tự tâm hiện lượng) hay được như thực Ngộ Đạo. Vì cớ sao ?
Vì, hồi mới vừa thành Đạo, Đức PHẬT có dạy như sau :
-Lạ thay ! Lạ thay ! Tất cả chung sanh đều có đầy đủ tướng phước đức trí tuệ NHƯ LAI. Chỉ vì Vọng tưởng trói buộc nên không thể chứng được. Nếu LÌA Vọng tưởng thì VÔ SƯ TRÍ và các năng lực to lớn khác sẽ hiện ra, tha hồ dùng hòai không hết !”
(Nguyên văn : Kỳ tai ! Kỳ tai ! Đại địa chúng sanh cụ hữu NHƯ LAI trí tuệ đức tướng. Chỉ nhân Vọng tưởng triền trước, cố bất khã chứng đắc. Nhược ly Vọng tưởng, VÔ SƯ TRÍ, các đại năng tức giai hiện chi, nhậm vận tự như!)”.
Tóm lại, ở trong kinh THỦ LĂNG NGHIÊM cũng có nói :
A. -“Thập phương BẠC GIÀ PHẠM nhứt lộ NIẾT BÀN môn
(Nghĩa là : 10 phương Chư Phật chỉ đi có một con đường mà về Niết Bàn).
B.-‘Cuồng tâm ngừng nghỉ, ngừng nghỉ tức Niết Bàn’.
*
Thế nên CỖ ĐỨC nói :

Tu hành vô biệt tu
Chỉ yếu thức lộ đầu
Lộ đầu thức đắc thấu
Sanh tử nhất đán hưu.

D Ị C H :

Tu đâu cần đặc biệt.

Chỉ thật rõ đầu đường
Đầu đường chân đặt đúng
Sanh tử có ngày dừng./.
thichthientri
Cảm ơn, Thành viên Moderator (Xin thông báo BQT)
 
Bài viết: 157
Ngày tham gia: Thứ 2 09 Tháng 4, 2012 2:17 am

Re: ###Sách Kiến Tánh Thành Phật

Gửi bàigửi bởi thichthientri » Thứ 2 09 Tháng 5, 2016 10:08 am

2

TUYÊN BỐ CỦA ĐỨC PHẬT

-Trong TƯƠNG ƯNGBỘ KINH Tập I B có ghi những lời đầy hỹ lạc của
Đức PHẬT sau giờ phút đắc Đạo :
-“Pháp nầy do TA chứng được thật nhiệm mầu, sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, cao thượng, vi diệu, siêu lý luận, vượt thóat ngôn ngữ, vượt thóat thời gian, không gian, chỉ có người tín trí mới hiểu nổi, còn đa số thì vì mê mờ và khát ái nên khó thấy được định lý tất cả hành là tịch tịnh, tất cả sinh y (ngũ uẫn) phải được trừ bỏ, ái được đọan tận, xa lìa dục vọng, đoạn trừ ô nhiễm, chấp thủ mới thể nhập NIẾT BÀN.
*
K Ệ P H Ú P H Á P
CỦA
ĐỨC THÍCH CA NHƯ LAI
Pháp Bổn Pháp Vô Pháp
Vô Pháp Pháp Diệc Pháp
Kim Phó Vô Pháp Thời.
Pháp Pháp Cũng Là Pháp
DỊCH:
Pháp Gốc Pháp Không Pháp
Pháp Không Pháp Cũng Pháp.
Nay Khi Trao Không Pháp,
Mỗi Pháp Đâu Từng Pháp
*
KỆ PHÚ PHÁP CỦA CHƯ TỔ

Nhứt thiết chư pháp giai tùng tâm sanh

Tâm vô sở sanh, pháp vô sở trụ

Nhược đạt tâm địa, sở trú vô ngại

Phi ngộ Thượng căn, thận vật khinh hứa

DỊCH :
Tất cả các pháp đều từ tâm sanh

Tâm không có chỗ sanh, pháp không có chỗ trụ

Nếu đạt tâm địa, sở trú vô ngại.

Không phải thượng căn, dè dặt chớ dạy./.

*

KINH NHÂN QUẢ :

Nhất thiết tạo thiện ác giai tùng tâm tâm tướng sinh,

thị cố chân xuất gia, giai minh Tâm vi bổn.

*

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

NAM MÔ ĐẠI BI QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT MA HA TÁT

NAM MÔ THƯỜNG TRỤ TAM BẢO

TÁC ĐẠI CHỨNG MINH :

*
PHẬT PHÁP CAO SIÊU RẤT RỘNG SÂU
MUÔN NGÀN ỨC KIẾP KHÓ TÌM CẦU
TÔI NAY NGHE THẤY CHUYÊN TRÌ TỤNG
NGUYỆN TỎ NHƯ LAI NGHĨA NHIỆM MẦU.
*
LỄ PHẬT GIẢ KỈNH PHẬT CHI ĐỨC
NIỆM PHẬT GIẢ CẢM PHẬT CHI ÂN
KHÁN KINH GIẢ MINH PHẬT CHI LÝ
TỌA THIỀN GIẢ ĐĂNG PHẬT CHI CẢNH
*
CHƯ ÁC MẠC TÁC
CHÚNG THIỆN PHỤNG HÀNH
TỰ TỊNH KỲ Ý
THỊ CHƯ PHẬT GIÁO
DỊCH :
LỜI CHƯ PHẬT DẠY
KIÊNG LÀM VIỆC ÁC
CẦN TU ĐIỀU LÀNH
TRAU DỒI TÂM SẠCH
*

LỜI DẠY CỦA ĐỨC LỤC TỔ

Phật pháp tại thế gian

Bất ly thế gian giác

Ly thế mịch Bồ Đề

Kháp như cầu thố giác.

*
HÀNH GIẢ
PHÁT TÂM TU THIỀN NÊN BIẾT :
A.-Mục tiêu nhằm tiến đến : “TÂM THỂ VÔ NIỆM"
(=‘Tâm Phật’=‘Tâm Thanh Tịnh’=’Tâm Chính Thường’)
B.-Nguyên tắc tu : “HƯỚNG NỘI”.
(Bởi vì, trông ra khơi thì biển hận muôn trùng,
còn ngó ngoái lại là đứng kế bên Bờ Giác).
C.-ĐIỀU KIỆN CẦN & ĐỦ ĐỂ TIẾN TU :
Một vị MINH SƯ & ‘DIỆU PHÁP GIẢI THÓAT’.
LƯU Ý : Thiếu một trong 2 điều kiện nêu trên, hành giả khó mà có hy vọngđược như thực Kiến Tánh (=Giác tự tâm hiện lượng) hay Ngộ Đạo.

*

ĐỨC PHẬT

TUYÊN BỐ NHƯ THẾ NÀO ?

A.- Nước biển chỉ có một vị mặn. Giáo lý của TA cũng chỉ có một vị : GIẢI THOÁT. - Từ xưa đến nay, Ta chỉ nói có một điều là ‘KHỔ ĐAU và GIẢI THÓAT KHỎI KHỔ ĐAU !”.
B.-“Ta có pháp môn vi diệu, con mắt của Chánh Pháp, tâm diệu của Niết Bàn, là tướng thực không tướng; không lập văn tự, truyền ngòai giáo lý, nay giao phó cho MA HA CA DIẾP”.
*
THIỀN SƯ CHÂN NGUYÊN
(Đời nhà Lý Việt Nam)
Nhân duyên to lớn Phật ra đời,
CA DIẾP ấn truyền ngộ được thôi.
Cầm hoa cười mĩm còn nguyên đó,
Lá đẹp tung bay khắp đất trời.
*
THIỀN SƯ QUẢNG NGHIÊM (1121—1190)
Sư là một Thiền Sư VIỆT NAM đời nhà Lý. Trong bài kệ “HƯU HƯỚNG NHƯ LAI”, có nói như sau :
Nam nhi tự hữu xung thiên khí,
Hưu hướng Như Lai hành xứ hành.
D Ị C H :
Làm trai lập chí xông trời thẳm,
Theo gót Như Lai uổng nhọc mình.
*
Đức KHỔNG TỬ cũng có nói :
HỌC NHI THỜI TẬP CHI, BẤT DIỆT LẠC HỒ
(Học mà được thực tập hằng ngày, đó chẳng phải là niềm vui hay sao ?)./.
*
Bình bát cơm ngàn nhà
Thân đi muôn dặm xa
Chỉ vì việc sanh tử
Giáo hóa tháng ngày qua.
*
HỔ LY SƠN HỔ BẠI. TĂNG LY CHÚNG TĂNG TÀN
thichthientri
Cảm ơn, Thành viên Moderator (Xin thông báo BQT)
 
Bài viết: 157
Ngày tham gia: Thứ 2 09 Tháng 4, 2012 2:17 am

Re: ###Sách Kiến Tánh Thành Phật

Gửi bàigửi bởi thichthientri » Chủ nhật 15 Tháng 5, 2016 10:59 am

3

KINH THIÊN SỨ

Trong TRUNG BỘ KINH, Đức Phật có dạy như sau :
- Nầy các Tỳ Kheo ! Điều Ta đang nói không phải Ta nghe từ một Sa Môn hay một Bà La Môn nào khác.
-Những điều Ta đang nói chỉ được Ta biết mà thôi, chỉ được Ta thấy mà thôi, chỉ được Ta hiểu mà thôi.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Sau khi Thiện Thệ nói như vậy, bậc Đạo Sư lại nói thêm như sau :
“Dầu Thiên sứ báo động (già, bệnh, chết)
Thanh niên vẫn phóng dật
Chúng u buồn lâu dài
Sanh làm người hạ liệt
Ở đây bậc Chân Nhân
Được Thiên Sứ báo động
Không bao giờ phóng dật
Trong diệu pháp bậc Thánh
Thấy sợ trong chấp thủ
Trong hiện hữu sanh tử
Được giải thoát chấp thủ
Sanh tử được đoạn trừ
Được yên ổn an lạc
Ngay hiện tại tịch tịnh
Mọi oán hận sợ hãi
Các vị ấy vượt qua
Mọi đớn đau sầu khổ
Chúng điều được siêu thoát./.
*
TỈNH GIÁC LÀ ĐẠO
Tạc nhật Dạ Xoa tâm
Kiêm triêu Bồ Tát diện.
Bồ Tát dữ Dạ Xoa
Bất cách nhất đầu tuyến.
D Ị C H :
Hôm qua tâm Dạ Xoa,
Sáng nay mặt Bồ Tát
Bồ Tát và Dạ Xoa
Chẳng cách một sợi tóc./.

*
TU LÀ CỘI PHÚC, TÌNH LÀ GIÂY OAN
Lưu ý : Thất tình gồm có : Hỹ, Nộ, Ai, Ố, Ai, Dục Cụ (=Sợ).
*
VÔ MINH (AVIDYÂ) LÀ GÌ ?

Ở trong kinh A HÀM, Đức PHẬT đã định nghĩa hai chữ “VÔ MINH” như dưới đây :
Nếu chẳng biết tiền tế, chẳng biết hậu tế, chẳng biết cả tiền hậu tế; chẳng biết trong, chẳng biết ngoài, chẳng biết cả trong lẫn ngoài; chẳng biết nghiệp, chẳng biết báo. Chẳng biết Phật, chẳng biết Pháp, chẳng biết Tăng, chẳng biết Khổ, chẳng biết Tập, chẳng biết Diệt, chẳng biết Đạo, chẳng biết nhân, chẳng biết pháp sanh khởi bởi nhân, chẳng biết thiện, bất thiện (ác), có tội, không tội, tập, không tập; hoặc kém, hoặc hơn; nhiễm ô, hoặc thanh tịnh; phân biệt duyên khởi, tất cả đều chẳng biết; đối với sáu xúc nhập xứ không giác tri (=hiểu biết) như thật, đối với các pháp nầy không thấy không biết, không hiện quán, bị si ám, không có minh, tối mù mịt, đó gọi là Vô Minh.
Còn ở trong kinh VIÊN GIÁC, Đức Phật nói :
Không biết rõ TỨ DIỆU ĐẾ (=Tứ Thánh Đế) như thực là VÔ MINH”. Hoặc nói : -“Thấy thân ngũ uẫn và sáu trần (Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp) đều thật là VÔ MINH”.
Đặc biệt, ở trong THỦ LĂNG NGHIÊM, Đức Phật đãkhai thị cho Tôn giả A NAN như sau :
“- Tất cả chúng sanh từ vô thỉ nhẫn nay, vì mê Chơn giác (1), khởi hoặc Vô Minh (2), điên đảo vọng tưởng tạo ra nghiệp chướng, hễ có nghiệp chướng tất bị khổ báo, ví như chùm trái Ất Xoa..
Nếu không tu hành thì chẳng làm sao thoát ly được. Những người có tu hành nhưng không đắc đạo quả VÔ THƯỢNG BỒ ĐỀ, lại thành THINH VĂN, DUYÊN GIÁC hoặc thành ngoại đạo, hoặc thành Chư Thiên, hoặc thành Ma Vương và quyến thuộc, đều tại vì không hiểu rõ hai căn bổn, tu tập sai lầm ví như nấu cát mà muốn thành cơm thì dầu trải vô số kiếp cũng không thành được”.
- Hai căn bổn đó là chi ?
A NAN ! Căn bổn thứ nhứt là VÔ THỈ SANH TỬ, căn bổn thứ nhì là VÔ THỈ BỒ ĐỀ NIẾT BÀN. Vô Thỉ Sanh Tử là như hiện nay ông cũng như tất cả chúng sanh đều lấy Tâm vọng động (=điên đảo) nhận làm Tự Tánh (=Chân Tâm=Phật Tánh) nên chịu khổ sanh tử Luân hồi.
Vô Thỉ Bồ Đề Niết Bàn là như hiện nay căn bổn thức của ông gốc có một thể nguyên minh thanh tịnh sáng suốt, nhưng vì ông không giữ được Tự Tánh, cứ tùy duyên tùy cảnh mà sanh ra vọng tưởng, rồi nhận lấy vọng tưởng làm Tự Tánh, quên mất thể Nguyên Minh. Tất cả chúng sanh vì quên mất thể Nguyên Minh, nên hằng ngày tuy sống ở thể Nguyên Minh mà không tự biết, do đó bị luân chuyển trong các cõi phàm phu. Thật là oan uổng!
Ghi Chú :
1.-Căn Bổn Vô Thỉ Sanh Tử : VÔ MINH (=Hoặc+ Nghiệp+Khổ). Nó còn có tên khác là : Vô Minh Nguyên Thủy, Vô Minh Trụ Địa Phiền NãoBiến Dịch Sanh Tử (=cái chết của bậc Thánh)
2.-Hành giả tu Thiền hay Trị Tâm Bệnh phải tiêu diệt cho sạch hết “Biến Dịch Sinh Tử” tức là những thứ “Vọng tưởng Tạp niệm” ở trong Tâm Linh, để được ba cái Định : ĐẠI ĐỊNH, DIỆU ĐỊNH VIÊN ĐỊNH thì mới chứng đắc đạo quả VÔ THƯỢNG BỒ ĐỀ (thành Phật, làm Tổ).
*
THIỀN SƯ KHUÊ PHONG
(TÔNG MẬT)
Thiền Sư KHUÊ PHONG là tác giả của quyển “Thiền Nguyên Chư Thiên Tập Đô Tự” (=Nguồn Thiền) có dạy như sau :
Tác hữu nghĩa sự,
Thị tỉnh ngộ tâm;
Tác vô nghĩa sự,
Thị cuồng loạn tâm.
Cuồng loạn tùy tình niệm,
Lâm chung bị nghiệp khiên
Tỉnh ngộ bất do tình,
Lâm chung năng chuyển nghiệp.
DICH :
Làm việc có nghĩa (1)
Là tâm tỉnh ngộ;
Làm việc vô nghĩa (2)
Là tâm cuồng loạn.
Cuồng loạn theo tình niệm (3)
Lâm chung bị nghiệp lôi.
Tỉnh ngộ không theo tình (4)
Lâm chung hay chuyển nghiệp

(Chú thích:
1.-
Làm việc có nghĩa là làm những việc hợp với đạo lý.

2.-Làm việc Vô nghỉa : là làm những việc không hợp đạo lý.

3.-Tình niệm : là Vọng niệm loạn tưởng.
4.-Tình : là tình niệm. Khi sống hành động không theo tình niệm, thì đến khi lâm chung sẽ được tự do, tự tại (hay chuyển nghiệp)./.
*
KINH NHÂN QUẢ nói :

Nhất thiết tạo thiện ác giai tùng tâm tướng sanh,
thị cố chân xuất gia, giai minh tâm vi bổn.
TẠM DỊCH :

Tất cả hành động thiện, ác đều do tâm sanh, cho nên người chân chính xuất gia, cần phải có cái tâm trong sạch làm gốc.
thichthientri
Cảm ơn, Thành viên Moderator (Xin thông báo BQT)
 
Bài viết: 157
Ngày tham gia: Thứ 2 09 Tháng 4, 2012 2:17 am

Re: ###Sách Kiến Tánh Thành Phật

Gửi bàigửi bởi thichthientri » Chủ nhật 22 Tháng 5, 2016 4:56 am

4

KINH VỊ MÂU NI THÀNH ĐẠT

Đây là kinh Phụ Tử Công Hội. Phụ Tử Công Hội nghĩa là cha con gặp nhau. Khung cảnh dựng lên:
Thái Tử Tất Đạt Đa thuộc bộ tộc Thích Ca sau khi thành Đạo, dựng nên Tăng đoàn, đã về thăm gia đình và có dịp giáo hóa cho Hoàng gia cũng như cho dân chúng trong nước Ca Tỳ La.
Phật độ được vua Tịnh Phạn. Vua Tịnh Phạn tỏ thái độ rất cung kính đối với Phật. Dân chúng lấy làm ngạc nhiên tại sao vua cha lại phải cung kính đứa con mình đến mức ấy. Vua mới nói cho mọi người biết nhân cách vĩ đại của con mình, ngay từ khi còn bé.
Giới phụ nữ thuộc dòng họ Thích Ca tới quy y học đạo rất đông. Sau khi mọi người tiếp cận giới pháp. Đức Phật dạy kinh nầy :


1.- Đã tiếp nhận đầy đủ giới pháp, chúng con phải nhận diện như thế nào và phải nói như thế nào cho đúng về bậc có Chánh kiến, bậc đã được sinh ra như một vị anh hùng trên thế gian, bậc đã vượt thoát mọi ràng buộc khổ nạn? Xin Đức Gotama chỉ dạy.
2.- Đó là người đã buông bỏ được mọi hiềm hận về quá khứ, mọi thắc mắc, lo âu về tương lai. Trong giây phút hiện tại người ấy cũng không bị hệ lụy vào bất cứ gì, cũng không bị kẹt vào hư danh và sự tôn kính của kẻ khác.
3.- Không tham đắm vào tương lai, không ưu sầu về quá khứ, người ấy trên đường mình đi đã buông bỏ mọi tham cầu, mọi tà kiến, không giữ lại một tư kiến nào.
4.- Đã buông bỏ mọi sợ hãi, đã trở nên vững chãi, nuôi dưỡng được chánh tín, người ấy diệt trừ được mọi nghi nan, không tật đố, không hoan hỷ với những gì đang có và yêu nếp sống thảnh thơi.
5.- Có khả năng tiết chế, không tham vọng, có nhiều tuệ giác, không ganh ghét ai, không nói xấu ai. Không trau chuốt bên ngoài, không nói lưỡi hai chiều, người ấy buông bỏ mọi hý luận và nghi ngờ.
6.- Tâm ý giải thoát, không đắm trước, lìa tư kiến, không thêu dệt hư vọng, bước đi an tường, người ấy có khả năng giải tõa được mọi tranh chấp, không bị dục kéo đi, và đoạn trừ được mọi dục tưởng.
7.- Không mưu toan để đạt tới một cái gì mình muốn, cũng không lo lắng khi mình không có cái kia, người ấy không oán hận, không bị vị ngọt của ái dục sai sử.
8.- Không tự cao, thấy được tự tánh bình đẳng và vô ngã, không có mặc cảm thua người hay bằng người biết quán chiếu, biết đình chỉ tâm ý, người ấy thấy được cái gì là thiện cái gì là ác và buông bỏ được những vọng cầu về tương lai.
9.-Không kẹt vào cái đang xảy ra, không bị cột chân lại bất cứ ở đâu, người ấy biết quán chiếu, nhìn thẳng vào các pháp và không còn bị vướng mắc vào gì nữa. Dù trong cõi dục, cõi sắc hay cõi vô sắc cũng thế, người ấy luôn luôn sử dụng thông tuệ của mình, do đó không có gì mà không vượt thoát được.
10.-Ái đã diệt, tâm đã tĩnh, người ấy đã vượt qua những cơn lũ lụt sầu khổ để tới bến bờ vô ưu, không còn theo đuổi tìm cầu lạc thú gì nữa trong ba cõi. Đã cởi trói, đã buông bỏ tất cả, người ấy không còn gì để gọi là sở đắc.
11.-Không cần con trai, không cần ruộng đất, không cần trâu bò, không cần của cải, người ấy không còn gì để nắm bắt hoặc để đuổi xua.
12.-Dù bị đám đông công kích, phỉ báng, xúc phạm, dù có bị các vị Phạm chí và Sa Môn chê bai, người ấy vẫn ngồi yên bất động, vẫn cứ đường mình mình đi.
13.-Không tật đố, không xan tham, dù có được thế gian tôn kính người ấy cũng không bị vướng mắc. Người ấy không tự tôn, không tự ti, không đòi bằng người, cái gì đúng pháp thì làm, phi pháp thì bỏ.
14.-Thấy được tự tính không, đạt tới vô cầu, vô đắc, không còn vui cái vui phàm tục của thế gian, tâm ý đã thực sự dừng lại, vị Mâu Ni vượt thoát thời gian, đạt tới bản môn, đi vào kiếp ngoại.
Đại ý: Kinh nầy nói về một con người xuất gia lý tưởng. Đây là một vị Mâu Ni, một người thành đạt trên con đường tâm linh và trở thành một bậc thầy, một người gương mẫu cho tất cả những ai muốn sống một cuộc đời xuất trần thượng sĩ. Mâu Ni có nghĩa là người ‘tĩnh lặng’ (tịch mịch), người đã đạt tới bình an, không còn nắm bắt, không còn trông ngóng, hoàn toàn thảnh thơi, không có nhu yếu phô trương./.
(Trích Đạo Bụt Nguyên Chất, Nghĩa Túc Kinh, kinh thứ Đại Tạng
Tân Tu 198 tương đương với Puràbheda Sutta – Nipàta 848 – 861).
***

N G Ũ U Ẫ N

Năm uẫn (ấm) cấu tạo ‘Thân’ và ‘Tâm’ đều là phù vân, song phù vân trôi trên nền trời ‘TỰ TÁNH’. Ba độc (tham, sân, si) chi phối sinh họat tâm lý đều là ‘chiếc thuyền bào ảnh nhấp nhô’ trên mặt biển Chân Như (Pháp Thân hay Pháp Giới Tánh).
Vậy đâu là ‘Thân’ của tôi ?, đâu là ‘Tâm’ của tôi và đâu là ‘Tôi’ ?
Đức LÃO TỬ có nói :’Có thân là có khổ, không thân thì có lo gì !’. BÁT NHÃ TÂM KINH thì nói như sau :
Soi thấy thân ngũ uẫn là không liền vượt được mọi khổ nạn !’./.

***

SANH TỬ LÀ VIỆC LỚN VÔ THƯỜNG MAU CHÓNG LẮM !
thichthientri
Cảm ơn, Thành viên Moderator (Xin thông báo BQT)
 
Bài viết: 157
Ngày tham gia: Thứ 2 09 Tháng 4, 2012 2:17 am

Re: ###Sách Kiến Tánh Thành Phật

Gửi bàigửi bởi thichthientri » Thứ 3 07 Tháng 6, 2016 9:20 am

5

ĐẠI THỪA YẾU QUYẾT

Nếu là người học cần yếu phải từ cạn đến sâu. Tức là gồm ba môn huệ học : VĂN, TƯ, và TU. Ba môn nầy thảy đều là BÁT NHÃ (Trí Tuệ).
Giải rằng : Trước cần nghe pháp sinh tri giải (=hiểu biết) gọi là VĂN HUỆ. Kế đến suy gẫm pháp đã nghe, nhận định yếu lý cho rõ ràng, do suy gẫm nhập tâm mình, gọi là ‘TƯ HUỆ’. Rốt sau, như chỗ đã nghe, đã suy gẫm, căn cứ vào đó mà tu hành không sai chạy, gọi là ‘TU HUỆ’. Hai huệ trước thuộc về hữu lậu, một huệ sau thuộc về vô lậu. Trước thì cạn, sau thì sâu. Tuy cạn sâu có khác, đều chung gọi là HUỆ (=Tuệ).
Kinh PHÁP HOA nói :”Nếu người được nghe hiểu, suy gẫm tu hành, ắt biết người ấy được gần VÔ THƯỢNG CHÁNH ĐẲNG GIÁC (Anuttara –Samyak – Samyak – Sambo-dhi).
Lại nói Giáo Lý Hạnh Quả rằng :”Do suy tầm Giáo nên ngộ được Lý, nhân ngộ được Lý khởi ‘Hạnh”. Hạnh thành thì chứng ‘Quả’. Cho nên gọi là GIÁO LÝ HẠNH QUẢ.
Nay lược nêu ít điều để chỉ bày cho người học, nếu như khéo nhận rõ được chỗ nầy, thì sẽ thông suốt chỗ kia. Cổ Đức có nói :
-“Học một quyển kinh được thông, thì muôn quyển kinh đều hiểu”. Đây là chỗ tôi nhắc, người học cần phải thẩm tra tường tận./.
*


NHỮNG PHIỀN NÃO VÀ KHỔ ĐAU Ở TRONG TAM GIỚI !


-Kiến thứt thiết trụ địa phiền não” là những phiền não, khổ đau ở nơi cõi TA BÀ (=Tam Giới=Nhà lửa).
Dưới đây là những phiền não và khổ đau ở trong nhà lửa (=Tam giới) :
1.-Cõi Dục (Dục giới) : Dục ái trụ địa phiền não.
2.-Cõi Sắc (Sắc giới) : Sắc ái trụ địa phiền não.









Ghi chú: Tam Giới hay Nhà Lửa là : Vũ Trụ Tương Đối , Vũ Trụ Vật Chất hay Vũ Trụ Cảm Giác .
-Nó to lớn không thể nào lường được!.








3.- Cõi Vô Sắc (Vô sắc giới) : Hữu ái trụ địa phiền não.
Lưu ý : Làm sao ra khỏi 3 cõi ? - Tổ HÒANG BÁ Thiền Sư HY VẬN có dạy : “Chớ có suy lường thiện ác thì thóat ra khỏi 3 cõi (=Tam giới) “./.
*

T Ứ Y


Trong kinh NIẾT BÀN Đức Phật có dạy : “Người tu Phật phải nương theo pháp “TỨ Y”mà tu tập.” . Vậy “Tứ Y” là gì?
A.-Y PHÁP BẤT Y NHÂN
Pháp Phật là lẽ thật, là chân lý, quý báu vô lượng. Người giảng nói pháp ấy tuy có hành vi không chơn chánh, nếu mình vì chút hành vi đó không tin nhận hoặc không chịu đến nghe ắt sẽ mất phần lợi lạc. Để gạt bỏ cái tâm phân biệt tỵ hiềm nầy, Phật dạy chúng ta phải gắng học hỏi rồi y cứ giáo pháp Phật dạy để tu hành, mặc dù người giảng dạy có tốt hay xấu không cần thiết.
Xưa khi còn làm hạnh Bồ Tát, Đức Phật vẫn nghe Dã Can nói pháp. Trong Luận Đại Trượng Phu có dụ như trong thùng rác nhơ nhớp có hòn ngọc quý, chúng ta đừng ngại vì thùng rác dơ mà không chịu thò tay vào đó để lấy ngọc. Ý nghĩa của câu nói “Y pháp bất y nhân” là như vậy.
B.- Y NGHĨA BẤT Y NGỮ
(Y Theo Nghĩa Lý Chẳng Y Theo Văn Tự Ngôn Ngữ)
Nghĩa Phật nói ra nhằm dạy cho chúng ta đạt được chân lý, lẽ thật của sự vật. Người học phải y theo nghĩa đó mà tu hành để đạt chân lý, đừng chạy theo phân biệt văn tự ngôn ngữ, dù ngôn ngữ văn tự đó có kém dở, có vụng về, chúng ta cũng không nên cố chấp.
C.-Y TRÍ BẤT Y THỨC
(Y Theo Lý Trí Không Y Theo Tình Thức Phân Biệt)
Dùng “Trí” để quán xét mới hợp chân lý. Trái lại, “Thức” thì hợp với tình cảm, mà tình cảm thì theo Nghiệp ((Hoặc+Nghiệp+Khổ) = Vô Minh). Vì vậy, muốn đạt được chân lý phải sống bằng lý trí, phải gạt bỏ mọi tình cảm phân biệt theo vọng thức.
D.- Y LIỄU NGHĨA, BẤT Y BẤT LIỄU NGHĨA
(Y Theo Kinh Điển Liễu Nghĩa, chẳng y theo Kinh Điển Không Liễu Nghĩa)
Kinh điển Phật nói ra tùy căn cơ, tùy tâm bệnh, như vị lương y tùy bệnh cho thuốc nên có cao thấp chẳng đồng, nhưng mục đích cứu cánh là việc giải thoát sanh tử. Do đó, những kinh điển chỉ thẳng đến quả vị Giải thoát viên mãn (thành Phật, làmTổ) là kinh liễu nghĩa. Trái lại, kinh điển nào dùng phương tiện cho hàng căn cơ thấp kém, như Nhơn Thừa, Thiên Thừa… là kinh điển bất liễu nghĩa.
Do vậy, những người tu Phật muốn ra khỏi sanh tử thẳng đến quả vị Phật phải lấy pháp “TỨ Y” nầy làm kim chỉ nam để hướng thẳng đến đạo giác ngộ. Đây là phương pháp tu của Đại Thừa Phật Giáo./.
*

TÂM TỨC Ý NIỆM

“Tâm tức Ý Niệm’ là lời dạy của ĐỨC PHẬT”.
Hành giả tu Thiền nên lưu ý những câu hỏi dưới đây :
A.-Cái thân thể (tứ đại hay ngũ uẫn) tạo tác ra hành động, cử chỉ, ngôn ngữ… có phải do ‘Ý Niệm’ chỉ đạo không ?
B.-Nếu lìa bỏ ‘Ý Niệm’ cái thây ma (cái thân tứ đại, vật chất máu mủ nầy) có còn xử dụng được không ?
C.-Vì thiếu sự quán sát một cách miên mật những “Ý Niệm” của mình, nên người tu xưa nay khó mà được MINH TÂM KIẾN TÁNH cũng như không thể nào thấy biết được rằng, ở trong cái TÂM của mình (=Tâm Thể Vô Niệm, Chân Như, Chân Tâm, Phật Tánh hay Vũ Trụ Tri Giác, Tổng Cơ Quan Ao Bí Của Vũ Trụ) có chứa sẳn vô vàng vật báu !./.
*
™
Ý NIỆM & THÂN THỂ

CÁI NÀO QUAN TRỌNG HƠN ?

Tôi từng hỏi một số đệ tử thuộc tầng lớp trí thức :”Theo anh, ‘Ý niệm’ là quan trọng hay thân thể quan trọng ?”
Anh đáp : “ Ý niệm quan trọng hơn”.
Tôi hỏi tiếp, tại sao ? Anh đáp : “Vì thân thể chỉ là công cụ của ‘Ý
Niệm”. --- Tôi nói :
-“Hơn thế, Ý Niệm còn chính là tổng nguồn gốc của mọi thứ thấy nghe hiểu biết, cũng chính là động lực chính của Sanh, Già, Bệnh, Chết. Nóơn thếHơ chứa đựng vô vàng vật báu giá trị liên thành. Nó đầy rẩy những ‘Thuốc Bất Tử’ mà cõi bồng lai tiên cảnh cũng còn thiếu…….. Tất cả, chỉ đợi chờ ‘NGƯỜI MẮT SÁNG” (Minh nhãn) lấy dùng mà thôi.
Câu trên, có lẽ thiết thực và cụ thể hơn câu nói chung chung :
NHỨT THIẾT DUY TÂM TẠO./.

*

TẠI NÓ HAY TẠI MÌNH ?

Hồi Đức PHẬT còn tại thế, có vị Tỳ Kheo đến thưa với Đức Phật :
-“Bạch Đức Thế Tôn ! Xin Đức THẾ TÔN cho phép con thiến (cắt bỏ bộ sinh dục) nó đi, thì con mới có thể tu hành được !”.
Đức PHẬT liền bảo :”Hãy xem cho kỹ lại coi tại nó hay tại mình ?”
Sau khi quan sát kỹ, vị Tỳ Kheo đến thưa với Đức PHẬT rằng :
-“Tại mình chớ không phải tại nó !”.
Đức PHẬT nói : “Sao không thiến mình, mà lại đòi thiến nó ! ”./.
*
thichthientri
Cảm ơn, Thành viên Moderator (Xin thông báo BQT)
 
Bài viết: 157
Ngày tham gia: Thứ 2 09 Tháng 4, 2012 2:17 am

Re: ###Sách Kiến Tánh Thành Phật

Gửi bàigửi bởi thichthientri » Thứ 2 20 Tháng 6, 2016 9:10 am

6

N G H I Ệ P (KARMA)

Nghiệp là tạo tác, hành động. “Ý” suy nghĩ, “thân” hành động, “miệng” nói… tức chỉ tất cả hành động cố ý của một sinh vật do ba nghiệp ảnh hưởng lẫn nhau rồi cảm thành vết tích, thành thói quen, tạo nên nguồn sống dục vọng di truỵền, người ta thường gọi là “dẫn nghiệp” (tức dẫn lực của nghiệp) hay “nghiệp thức”. Nói theo từ ngữ bây giờ thì gọi là “Nguồn Sống” – tất cả hiện tượng trong vũ trụ – bao gồm các sinh vật và các cảnh vật thiên nhiên, như núi, sông, cây cỏ, đất đai, trăng sao, nước, lửa, không khí – đều do “Nghiệp thức” tạo tác cả. Nghiệp được chia ra thành 2 thứ : “Nghiệp chung” (=cộng nghiệp) và “Nghiệp riêng” (=biệt nghiệp).
NGHIỆP CHUNG : Chỉ các loài sinh vật (trong đó có con người) hiện sống trên địa cầu, đều phải chịu chung các kiếp vận như nhau :
1.-Mệnh trược : Đời sống đau khổ.
2.-Kiến trược : Nhận thức sai lầm.
3.-Phiền não trược : Tâm trạng xấu ác.
4.-Chúng sanh trược : Con người độc dữ.
5.-Kiếp trược : Cuộc đời ngắn ngủi.
Và còn biết bao nỗi khổ triền miên khác, như : Sanh, Già, Bệnh, Chết, về thiên tai, nước lụt, động đất, lửa cháy, chiến tranh v. v…
NGHIỆP RIÊNG : Mỗi loài có những “tính sống” riêng biệt, hoàn cảnh riêng biệt. Như cá phải ở dưới nước, chim bay trên không, con người và các loài muông thú sống trên cạn và các nơi rừng rú… Tuy nhiên, con người có những ưu điểm đặc biệt hơn các loài khác : con người tự làm chủ mình, làm chủ cuộc sống và hoán cãi hoàn cảnh xung quanh, tùy theo nghiệp lành, nghiệp dữ do con người tự quyết.
Nhưng, “Nghiệp” do đâu mà có ?
Cái “NGÔ một hòa điệu tinh thần và vật chất do thân “ngũ uẫn” tức sự hoạt động của “thân” và “tâm” – lãnh thụ bởi cảm xúc trong và ngoài, phát sinh ra những cảm giác; và vì sự mê lầm tiềm tàng tự thân của mội sự vật phát động ra, không cần sự can thiệp của bất cứ năng lực nào.
Nghiệp là chủ động lực của mọi vấn đề – mọi vấn đề cũng do nghiệp mà phát sinh, tồn tại hay tiêu diệt.
Không phải ở trên không trung, không phải ở giữa đại dương, không phải ở trong thâm sơn, cũng không phải có một nơi nào ngừơi ta có thể tránh được nghiệp báo”. (-Dhammapada-sutra, 127-)
Nghiệp là chủ thể của mọi vấn đề. Những hiện tượng trên thế giới đều do nghiệp phát động mà cảm ứng.
Ta có thân thể như bây giờ đều do đời trước tạo nghiệp mà sinh ra, rồi cứ Luân hồi, nhân quả nối tiếp từ quá khứ chạy suốt hiện tại sang vị lai… biến hiện thiên hình vạn trạng, tùy nghiệp thọ báo để chịu lấy vô lượng vô biên cực khổ, nếu con người cứ mãi mê lầm tạo nghiệp./.
*

N G Ũ T R Ư Ợ C

Ngũ Trược” gồm có 5 thứ : “Kiếp Trược, Kiến Trược, Phiền Não Trược, Chúng Sanh Trược Mạng Trược”.
-Như thế nào là Kiếp trược, Kiến trược, Phiền não trược, Chúng sanh trược và Mạng trược ?
1.-Kiếp Trược : Thời đại không yên, không tốt xảy ra nhiều điều tai biến và loạn ly.
2.-Kiến Trược : Thấy nghe hiểu biết không chân chính, lập ra nhiều tà thuyết, tà kiến, nghĩa là cái kiến thức lù mù lầm lạc, rồi thành ra có nhiều tội ác.
3,-Phiền Não Trược : Mưu cầu, hy vọng chẳng toại nguyện cho nên tức bực khổ tâm, loạn thần rối trí gọi là “Phiền não trược”. Nghĩa là những ý niệm ghét thương mừng giận ham chán ân tình nó làm cho tâm thần ngầu đục.
4.-Chúng Sanh Trược : Người và loài động vật thiện ít ác nhiều, mạnh ăn thịt yếu, cấu xé lẫn nhau; tội phạm, tù binh, ngựa người, tôi mọi là chúng sanh trược. Nghĩa là tàn bạo gian tham, hôn mê ngu khốn làm cho nhân sinh điên đảo, bỉ ác, đê hèn.
5.- Mạng Trược : Sống 100 niên, vắn dài khó hẹn, chết điếu thiên cỗ già trẻ khôn từ, nên gọi là “mạng trược”. Nghĩa là ai cũng muốn kéo dài sựsốnmạng sống, mà ai tránh khỏi tử thần. Thấm thoát 100 năm mơ màng một giấc, cái
sống quá ê chề, cái mạng nhiều gớm ghiết !./.
*

TỨ THÁNH ĐẾ HAY TỨ DIỆU ĐẾ :
KHỔ ĐẾ : Sanh. Lão, Bệnh, Tử.
TẬP ĐẾ : Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi, Ác kiến.
DIỆT ĐẾ : Niết Bàn.
ĐẠO ĐẾ : Bát Thánh Đạo
*

SI MÊ LÀ GỐC ĐAU KHỔ

Đêm dài với người thức

Đường dài với kẻ mệt

Luân hồi dài, với kẻ ngu

Không hiểu chân diệu pháp./.

*
thichthientri
Cảm ơn, Thành viên Moderator (Xin thông báo BQT)
 
Bài viết: 157
Ngày tham gia: Thứ 2 09 Tháng 4, 2012 2:17 am

Re: ###Sách Kiến Tánh Thành Phật

Gửi bàigửi bởi thichthientri » Chủ nhật 26 Tháng 6, 2016 9:29 am

7


L Ờ I D Ạ Y CỦA ĐỨC PHẬT THÍCH CA

*

A.- HAI MƯƠI ĐIỀU KHÓ

ĐỨC PHẬT có dạy rằng : “Làm người có 20 (hai mươi) điều khó như dưới đây :
1.-Nghèo nàn bố thí là khó. 2.-Giàu sang học Đạo là khó.
3.-Bỏ thân mạng quyết chết là khó. 4.-Thấy được Kinh Phật là khó.
5.-Sinh vào thời có Phật là khó. 6.-Nhẫn sắc, nhẫn dục là khó.
7.-Thấy tốt không cầu là khó. 8.-Bị nhục không tức là khó.
9.-Có thế lực không dựa là khó. 10.-Gặp việc Vô Tâm là khó.
11.-Học rộng nghiên cứu sâu là khó.
12.-Diệt trừ “ngã mạn” là khó.

13.-Không khinh người chưa học là khó.
14.-Thực hành tâm bình đẳng là khó.
15.-Không nói chuyện “phải trái” là khó.
16.-Gặp được Thiện Tri Thức là khó.
17.-Học Đạo thấy Tánh (=Kiến Tánh) là khó.
18.-Tùy duyên hóa độ người là khó.
19.-Thấy cảnh tâm bất động là khó.

20.-Khéo biết phương tiện là khó./.

B.-MƯỜI BỐN ĐIỀU RĂN CỦA ĐỨC PHẬT

1.-Kẻ thù lớn nhất đời người là“chính mình”.
2.-Ngu dốt lớn nhất của đời người là “dối trá”.
3.-Thất bại lớn nhất của đời người là “tự đại”.
4.-Bi ai lớn nhất của đời người là “ghen tỵ”.
5.-Sai lầm lớn nhất của đời người là“đánh mất mình”.
6.-Tội lỗi lớn nhất của đời người là “bất hiếu”.
7.-Đáng thương lớn nhất của đời ngừơi là “tự ty”.
8.-Đáng khâm phục lớn nhất của đời người là “vươn lên sau khi ngã”.
9.-Phá sản lớn nhất của đời người là “tuyệt vọng”.
10.-Tài sản lớn nhất của đời người là “sức khỏe, trí tuệ”.
11.-Món nợ lớn nhất của đời người là “tình cảm”.
12.-Lễ vật lớn nhất của đời người là “khoan dung”.
13.-Khiếm khuyết lớn nhất của đời người là “kém hiểu biết”.
14.-An ủi lớn nhất của đời người là “bố thí./.
*

THÂN NGƯỜI ÍT PHƯỚC KHÓ ĐƯỢC

PHẬT PHÁP THIẾU DUYÊN KHÓ NGHE

*

THÂN BỆNH & TÂM BỆNH

Một thời, THẾ TÔN trú ở Sàvatthi, tại JETAVANA, gọi các Tỳ Kheo nói: -“Nầy các Tỳ Kheo, có 2 lọai bệnh nầy, Thế nào là hai ?
Bệnh về Thân và bệnh về Tâm.
Này các Tỳ Kheo, chúng ta thấy có chúng sanh tự nhận là mình không có bệnh về Thân được một năm, được 5 năm, được 10 năm, được 50 năm, cho đến 100 năm.
Nhưng nầy các Tỳ Kheo, rất khó tìm được ở đời là những chúng sanh tự nhận mình không có bệnh về Tâm dù chỉ trong một khỏanh khắc, trừ những bậc Thánh đã đọan trừ các lậu hoặc (=Hoặc+Nghiệp+Khổ).
(ĐTKVN, Tăng Chi Bộ II, chương 4, Phẩm các căn,
Phần Bệnh (trích), VNCPH VN ấn hành, 1996, tr.86)
*

THƯ GỮI : NHAN THỊ LANG CỦA

THIỀN SƯ HẠT ĐƯỜNG

Thiền Sư HẠT ĐƯỜNG nói :”Kẻ Sĩ học Đạo, cần phải chính tâm làm đầu, vậy sau mới có thể chính mình và chính sự vật. Tâm đã chính thì an định được vạn vật. Ta chưa hề nghe thấy Tâm đã trị mà Thân lại lọan. Giáo pháp của Phật Tổ do từ bên trong mà kịp đến bên ngòai, từ gần đến xa. Mê hoặc thanh sắc ở bên ngòai là bệnh của tứ chi, vọng tình phát khởi ở trong là bệnh của tâm phúc. Ta chưa bao giờ thấy tâm đã chính mà không hay giáo hóa được người. Bởi lẽ, lấy Nhất tâm làm cội gốc, vạn vật làm cành lá, nếu cội gốc khỏe chắc thì cành lá tốt tươi, cội gốc khô gầy cành lá tất héo gãy. Người khéo học Đạo, trước hết trị nơi nội tâm để chống lại ngọai vật, đừng có tham ngọai vật để hại nội tâm. Thế nên, muốn dẫn đạo được vật điều cần thiết là ở chỗ “Tâm Thanh Tịnh” (=Tâm Thể Vô Niệm hay Tâm Chính Thường). Muốn chính người tất nhiên trước phải chính mình. Nếu như tâm đã chính, mình đã lập mà vạn vật không theo chỗ giáo hóa của mình, thì việc đó chưa từng có vậy”./.
Chú Thich : NHAN THỊ LANG đời nhà Tống, tên là NHAN KỲ PHỤC, tên chữ là DI TRỌNG, theo học ở LÃ VINH CÔNG, làm chức quan THỊ LANG./.
*

PHẨM SONG YẾU
Trong các pháp, tâm dẫn đầu, tâm làm chủ, tâm tạo tác tất cả.
Nếu đem Tâm Thanh Tịnh tạo nghiệp nói năng hoặc hành động,
sự vui vẻ theo nghiệp kéo đến như bóng theo hình.
thichthientri
Cảm ơn, Thành viên Moderator (Xin thông báo BQT)
 
Bài viết: 157
Ngày tham gia: Thứ 2 09 Tháng 4, 2012 2:17 am

Trang kế tiếp

Quay về Chuyên đề Thiền Tông

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến2 khách

cron