Diễn đàn Tu viện Phật giáo Việt nam


###Sách Kiến Tánh Thành Phật

Thảo luận về kinh điển Thiền.

Các điều hành viên: Sen Hong, Bất Nhị

Re: ###Sách Kiến Tánh Thành Phật

Gửi bàigửi bởi thichthientri » Thứ 4 06 Tháng 7, 2016 5:57 am

8



THIỀN SƯ TRÌ BÁT

(Thiền Sư Việt Nam - (1049-1117)
Hữu tử tất hửu tử tất hữu sinh
Hữu sinh tất hữu tử
Tử vi thể sở bi
Sinh vi tế sở hỹ
Bi hỹ lưỡng vô cùng
Hốt nhiên thành bỉ thử
Ư chư sinh tử bất hoang hòai
Án tố rô tố rô tất rị”.
DỊCH :
Có tử thì có sanh
Có sinh thì có tử
Tữ thì người đời buồn
Sinh người đời mừng rỡ
Buồn vui đều vô cùng
Đối nhau thành ‘kia’ nọ
Mọi điều sinh tử chẳng quan tâm
An tố rô tố rô tất rị’./.
*

SANH DIỆT KHỨ LAI

Thiền Sư NHƯ MÃNPhật Quang, Lạc Kinh đáp những câu hỏi của vua Đường THUẬN TÔNG.
Vua hỏi : - “Phật đản sanh từ phương nào đến ? Khi nhập diệt đến phương nào ? Đã nói Ngài thường trụ ở đời. Vậy nay Phật ở đâu ?”
đáp : - “Phật từ vô vi đến, khi diệt độ trở về với vô vi. Pháp Thân đồng hư không, thường trụ chỗ vô tâm, có niệm về vô niệm, có trụ về vô trụ, đến vì chúng sanh đến, đi vì chúng sanh đi, trong sạch chơn thật như biển, thể hằng vắng lặng. Người trí khéo xét biết, chớ sanh niệm hồ nghi”.
Vua hỏi : -“Phật đản sanh tại Vương Cung khi nhập diệt giữa rừng Song Thọ, thuyết pháp 49 năm, tại sao nói Phật không nói một pháp ? Núi sông, biển lớn, trời đất, mặt trời, mặt trăng trải qua thời gian (thời chí) cũng đều hoại diệt, tại sao nói chẳng sanh chẳng diệt ? Những điều nghi ấy xin bậc trí khéo giản trạch”.
đáp : -“Thể tánh của Phật vốn vô vi, do mê tình (chúng sanh) vọng phân biệt, Pháp Thân đồng hư không, chưa từng có sanh diệt, có duyên Phật ra đời, hết duyên Phật nhập diệt. Những nơi giáo hóa chúng sanh cũng như bóng trăng hiện trong nước, chẳng phải thường chẳng phải đoạn, chẳng phải sanh chẳng phải diệt; sanh cũng chưa sanh, diệt cũng chưa từng diệt. Thấy rõ chỗ Vô Tâm tự nhiên không có một pháp để nói.
Vua nghe xong rất vui vẻ và rất kính trọng Thiền Tông./.
*

SI MÊ LÀ NGUỒN CỦA TẤT CẢ TỘI ÁC
TRÍ TUỆ LÀ GỐC CỦA HẾT THẢY PHÁP LÀNH
*

KINH ĐIỀU NGỰ

Trong Trung Bộ Kinh có chép: Một hôm có AGGIVESSANA dòng Bà La Môn đến hỏi PHẬT về phương pháp tu hành, Phật dạy :
- Nầy Aggivessana, sau khi vị Thánh đệ tử đã giữ giới Patimokkha đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sự nguy hiễm trong lỗi nhỏ nhặt, thọ lãnh và tu học trong học pháp. Như Lai lại huấn luyện thêm cho vị đệ tử ấy. Hãy đến này Tỳ Kheo, hãy bảo hộ các căn, khi mắt thấy sắc, chớ có nắm giữ tướng chung, chớ có nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì nhãn căn không được chế ngự khiến tham ái, ưu, bi, cái ác, bất thiện pháp khởi lên, hãy tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, thực hành sự hộ trì nhãn căn, khi tai nghe tiếng, mũi ngửi hương, lưỡi nếm vị, thân cảm xúc, ý nhận thức các pháp, chớ có nắm giữ tướng chung, chớ có nắm giữ tướng riêng.
Như Lai huấn luyện thêm vị Thánh đệ tử ấy:
- Hãy đến nầy Tỳ Kheo, hãy tiết độ trong ăn uống, chơn chánh giác sát thọ dụng món ăn, không phải để vui đùa, không phải để tham mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, chỉ để thân nầy được duy trì, được bảo dưỡng, khỏi bị gia hại, để chấn trì phạm hạnh nghĩ rằng:
- “Như vậy ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới. Và ta sẽ không phạm lỗi lầm sống được an ổn.”
Nầy Aggivessana, sau khi vị Thánh đệ tử đã tiết độ trong ăn uống. Như Lai lại huấn luyện thêm vị ấy:
- Hãy đến này Tỳ Kheo, hãy chú tâm và giác tỉnh. Ban ngày đi kinh hành và trong khi đang ngồi, hãy gội sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp, ban đêm trong canh giữa, hãy nằm xuống phía hông phải, như dáng con sư tử nằm, chân gát lên chân với nhau, chánh niệm tỉnh giác, hướng niệm đến lúc ngồi dậy. Ban đêm trong canh cuối, khi đã thức dậy trong khi đi kinh hành và trong khi đang ngồi, hãy gội sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp”.
Sau khi vị đệ tử đã chú tâm vào giác tỉnh. Như Lai lại huấn luyẹn thêm vị ấy:
- Này Tỳ Kheo, hãy thành tựu Chánh niệm, tỉnh giác khi đi tới, khi đi lui, đều tự giác, khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tự giác, khi co tay, khi duỗi tay đều tự giác, khi ăn uống nhai nuốt đều tự giác, khi đi đại, tiểu tiện đều tự giác, khi đi, đứng, ngồi, nằm, ngủ, thức, nói, yên lặng, đều tự giác.
Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái, gội rửa tâm hết tham ái, từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng hữu tình, gội rửa tâm hết sân hận. Từ bỏ hôn trầm, thùy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm, thùy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng chánh niệm tỉnh giác, gội rửa hết tâm hồn trầm thụy miên. Từ bỏ trạo cử, hối quá, nội tâm trầm lặng gội rửa hết trạo cử hối quá. Từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống với tâm thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gội rửa hết nghi ngờ đối với thiện pháp. Vị ấy sau khi đoạn trừ năm triền cái, những triền cái làm ô nhiễm tâm tư, làm yếu ớt trí huệ, vị ấy sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để điều phục tham ưu ở đời.
Vị Tỳ Kheo kham nhẫn lạnh, nóng, đói, khát, sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, mặt trời và các loại bò sát, các ác ngữ, các lời nói chửi mắng, vị ấy sống quen kham nhẫn với những cảm thọ về thân thống khỗ, đau nhói, đau đớn đến chết, được gội sạch về uế nhiễm, tham, sân, si.
Vị ấy ấy xứng đáng được cúng dường, cung kính, tôn trọng, chấp tay, là vô thượng phước điền trên đời./.

*

H Ỏ I & Đ Á P

HỎI : VI CÔNG hỏi Đức LỤC TỔ HUỆ NĂNG : “Ở nhà tu hành bằng cách nào, kính xin chỉ dạy ?
Đức LỤC TỔ dạy :”Ta vì đại chúng làm ra bài kệ ‘VÔ TƯỚNG’ cứ ý theo đó mà tu, thì đại chúng cùng TA thường ở một chỗ. Nếu chẳng tu theo đó, thì dầu có cạo đầu xuất gia cũng không lợi ích chi cho đạo pháp”.
Kệ tụng :

Tâm bình chẳng đợi giữ giới
Hạnh trực không đợi tu Thịền
An thì nuôi dưỡng cha mẹ
Nghĩa thì trên dưới cùng thương
Nhường thì lớn nhỏ hòa thuận
Nhịn thì nghiệp dữ tiêu tan
Nếu được dùi cây ra lửa,
Bùn lầy chắc trỗ bông sen
Đắng miệng thật là lương dược
Nghịch tai vốn là lời ngay
Sám hối tất sanh trí tuệ
Giấu lỗi, lòng chẳng phải hiền
Hằng ngày năng làm lợi ích,
Thành Đạo không do thí tài,
Bồ Đề, nội tâm tìm thấy,
Luống công cầu Đạo bên ngòai
Nghe thuyết cứ tu theo đó,
Cảnh Tịnh trông thấy nhãn tiền”./.
*

KINH DUY MA :

Bồ Tát vui tin Phật, vui nghe pháp, vui cúng dường Tăng, vui ly ngủ dục, vui quán thân tứ đại như độc xà, vui giữ đạo lý, vui nhiêu ích chúng sanh, vui nhẫn nhục, vui Thiền Định, vui tu công đức, vui trang nghiêm đạo tràng, vui tâm thanh tịnh./.
thichthientri
Cảm ơn, Thành viên Moderator (Xin thông báo BQT)
 
Bài viết: 157
Ngày tham gia: Thứ 2 09 Tháng 4, 2012 2:17 am

Re: ###Sách Kiến Tánh Thành Phật

Gửi bàigửi bởi thichthientri » Thứ 2 11 Tháng 7, 2016 2:25 am

9
KINH ĐẠI BÁT NIẾT BÀN

[THIÊN ĐẾ VẤN PHẬT]

THIÊN ĐẾ : - Bạch Thế Tôn ! Trong hàng thiên nhơn (trời người)
những gì là trói buộc ?”.
PHẬT nói :- “Nầy KIỀU THI CA ! chính là xan tham và tật đố”.
THIÊN ĐẾ : Bạch Thế Tôn ! Xan tham và tật đố nhơn đâu mà sanh?.
- “Do VÔ MINH mà sanh”.
- Vô Minh do đâu mà sanh ?
- “Do phóng dật mà sanh”.
- Phóng dật lại do đâu mà sanh ?
- “Do điên đảo mà sanh”.
- ‘Điên đảo lại do đâu mà sanh ?’
- “Do lòng nghi mà sanh”./.
*

CHỈ VÌ HAI CHỮ “KHÔNG BIẾT” !

TRƯ BÁT GIỚI nguyên là một vị Thiên Bồng Nguyên Soái oai phong lẫm liệt. Vì phạm luật trời (ghẹo chọc Hằng Nga), nên bị Ngọc Hoàng Thượng Đế phạt cho xuống trần gian. Bởi ông ta ở trên trời quá lâu nên không biết những mắc mứu của cuộc đời. Ong đứng tại ngã bảy đường lớn, không biết chọn một trong sáu đường trước mặt, lòng dụ dự mãi. Sau đó, ông quyết định đi theo con đường mà có đông người đi nhất, nào quan chức, người quý phái, trưởng giả, thầy thợ binh lính, trai gái v.v… đủ đầy, xếp thành đội ngũ chính tề, tiến về phía trước. Còn năm con đường kia thì vắng vẻ, ít kẻ qua lại. Ông nghĩ bụng, đây chắc là con đường tốt, nếu không, sao lại có nhiều người đi như thế nầy ?
Ông mạnh dạn bước theo đám đông. Lát sau, chợt cảm nhận da dẻ quanh thân mình đều thành màu đen, lỗ tai dài nở nang, mồm miệng cũng to lớn thêm ra. Giật mình, ông nhảy lên một cái, không tin đó là chuyện thật, nhưng sờ kỹ lại mồm miệng, mặt tai… thì than ôi ! Quả thật đã biến dạng thành con heo mất rồi!
Thế là, ông ta trở nên TRƯ BÁT GIỚI. Ông ân hận vô cùng, nhưng đã quá trễ không còn kịp nữa rồi !”.
Đây là một câu chuyện có giá trị triết lý rất cao, có tính giáo dục rất lớn về phương diện tu hành cũng như trong cuộc sống. Thiết nghĩ, người có ý chí xuất trần ở vào thời buổi hiện nay nên đặc biệt lưu ý./.
*

CÓ PHIỀN NÃO THÌ KHÔNG CÓ TRÍ TUỆ

CÓ TRÍ TUỆ THÌ KHÔNG CÓ PHIỀN NÃO

*

CỘI NGUỒN CỦA KHỔ ĐAU

Một thời, Đức Phật trú ở Sàvatthi, tại Đông Viên, Lộc Mẫu giảng đường. Lúc bấy giờ, người cháu trai của VISÀKHÀ bị mệnh chung. Và VISÀKHÀ với áo đẫm ướt, tóc đẫm ướt, vào buổi sáng sớm đi đến đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên.
Thế Tôn nói với Visàkhà :- “Nầy Visàkhà, bà từ đâu đến, với áo và tóc đẫm ướt, đi đến đây quá sớm vậy ?”
- “Bạch Thế Tôn, đứa cháu khả ái và dễ thương của con đã mệnh chung. Cho nên con với áo và tóc đẫm ướt, đi đến đây vào sáng sớm như vậy”.
- “Nầy Visàkhà, bà có muốn tất cả người ở Sàvatthi nầy là con và là cháu của bà không ?”
- “Bạch Thế Tôn, con muốn tất cả người ở Sàvatthi nầy là con và là cháu của con”.
- “Nhưng nầy Visàkhà, có bao nhiêu người ở Sàvatthi mạng chung (chết hay từ trần) hằng ngày ?”.
- “Bạch Thế Tôn, có 10 người ở Sàvatthi mạng chung hằng ngày. Cho đến có một người ở Savatthi mạng chung hàng ngày. Bạch Thế Tôn, ở Sàvatthi không có thoát được số người bị chết”.
- “Bà nghĩ thế nào, này Visàkhà ? Như vậy, bà có khi nào được khô vải và tóc không bị ướt không ?”.
- “Thưa không, bạch Thế Tôn ! Thật là vừa đủ cho con, số nhiều như vậy về con và về cháu.
- “Nầy Visàkhà, những ai có một trăm người thân yêu, những người ấy có 100 sự đau khổ. Cho đến những ai có một người thân yêu, những người ấy có một sự đau khổ. Những ai không có người thân yêu những người ấy không có sự đau khổ. Ta nói rằng họ là người không sầu, không tham đắm và không có ưu não”./.(ĐTKVN, phẩm Pàtaligàmiya)
*

HẰNG TỈNH HẰNG GIÁC

Có một cậu thanh niên đến một ông võ sư học kiếm. Suốt mấy năm ông thầy không chỉ dạy gì hết. Một hôm cậu học trò đang làm việc, thình lình ông ta đâm vào hông cậu ta một nhát kiếm… Sau đó, cậu học trò nầy trở về nhà xử dụng nghề kiếm rất đại tài. Sở dĩ được tài giỏi hơn người là do cậu ta lúc nào cũng chăm chăm để phòng người ám hại. Do đó, người tu chúng ta cũng phải tu tập như thế, nghĩa là lúc nào cũng “Tĩnh Giác Giữ Chánh Niêm”, theo dỏi những ý niệm hay những vọng niệm của mình không phút giây lơi lỏng.
*

CHĂN TRÂU GIỎI

HT. Thiền Sư MÃ TỔ (Đạo NHẤT) đi đến nhà trù thấy Sư THẠCH CŨNG (Huệ Tạng) đang ngồi rửa rau, hỏi : Con đang làm gì đó ?’.
HUỆ TẠNG đáp :’Con đang chăn trâu’.
MÃ TỔ hỏi : Con chăn thế nào ?
HUỆ TẠNG đáp : Trâu đưa mõm ăn lúa mạ của người, con liền nắm vàm giựt lại’.
MÃ TỔ (Đạo Nhất) khen : Con chăn trâu giỏi !./.
*

KHÔNG SỢ NIỆM KHỞI, CHỈ SỢ BIẾT CHẬM

*

HAI CỰC ĐOAN

Một hôm, Đức Phật nói cho các thầy Tỳ Kheo nghe một bài kệ :
Ai biết hai cực đoan.
Giữa bậc trí vô nhiễm.
Ta gọi bậc đại nhân.
Đây, vượt người dệt vải.

Sau khi nghe kệ xong các vị Tỳ Kheo bàn luận với nhau, nhưng vẫn không vở lẽ. Sau cùng, Đức Phật mới giải thích như dưới đây :
- “Hai cực đoan” là“Xúc và“Xúc Tập Khởi”.
Giữa” là Xúc dịêt tức Thọ diệt. “Người dệt vải” là Ái. Khi 6 căn (nhãn, nhĩ, tỹ, thiệt, thân, ý) tiếp xúc 6 trần (sắc, thinh, hương vị, xúc, pháp) do sự tập khởi nầy mà có Xúc. Nếu ngay đó không ưa thích, không ghét bỏ, tức trụ tâm nơi xả, thì Thọ diệt. Thọ diệt rồi thì đâu còn ái nhiễm mà kết nghiệp tức là được Giải Thoát.
Đây, Đức Phật gọi là bậc đại nhân vượt qua được sự đan dệt của “ÁI” mà được NIẾT BÀN.
(Lưu ý : Niết Bàn có nghĩa là Vô Sanh)./.
*

Do ái sanh ưu (= lo)

Do ưu sanh bố (= sợ)

Nhược ly tham ái

Hà ưu hà bố./.

*

THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN

Vô Minh --> Hành --> Thức
-->
Danh Sắc --> Lục Nhập --> Xúc --> Thọ --> Ái --> Thủ --> Hũu
--> Sanh --> Lão tử.
Lưu ý : Vô Minh là ‘Hoặc+Nghiệp+Khổ’ . Do Hoặc (=mê lầm) nên tạo Nghiệp. Do tạo nghiệp, nên phải thọ khổ ! Nếu ai tu theo pháp Thập Nhị Nhân Duyên chỉ cần cắt cho được khâu : ÁI, thì sẽ được Giải Thóat.
thichthientri
Cảm ơn, Thành viên Moderator (Xin thông báo BQT)
 
Bài viết: 157
Ngày tham gia: Thứ 2 09 Tháng 4, 2012 2:17 am

Re: ###Sách Kiến Tánh Thành Phật

Gửi bàigửi bởi thichthientri » Thứ 4 20 Tháng 7, 2016 12:57 pm

10
BÁCH THIÊN TỤNG BÁT NHÃ


Ngài TU BỒ ĐỀ hỏi Đức PHẬT: “Bạch Thế Tôn ! Bồ Tát phải thực hành thế nào để thấy được các pháp không có “Tự Tánh”?
ĐỨC PHẬT : “Hình sắc phải được nhận thức như là không có tự tánh của hình sắc, cảm giác phải được nhận thức như là không có tự tánh của cảm giác (và đối với căn trần khác cũng vậy).
TU BỒ ĐỀ : Nếu mọi hiện tượng là không tự tánh, làm sao mà Bồ Tát có thể thực hiện Bát Nhã (trí tuệ hoàn bích) ?
ĐỨC PHẬT : Sự không thực hiện (= vô hành) chính là cái đang thực hiện Bát Nhã.
TU BỒ ĐỀ : Tại sao đó lại là một sự không thực hiện?
ĐỨC PHẬT : Bởi vì người ta không thể quan niệm được Bát Nhã, không thể quan niệm được sự thực hiện, người thực hiện, phương tiện thực hiệnmôi trường thực hiện. Do đó, nên sự thực hiện Bát Nhã là một sự “không thực hiện” – trong đó mọi đàm thuyết đều không có giá trị gì.
TU BỒ ĐỀ : Vậy thì những kẻ nhập môn làm sao mà thực hiện Bát Nhã?
ĐỨC PHẬT : Từ phút tự giác đầu tiên trở đi, vị Bồ Tát phải quán vạn pháp là không thể nắm bắt được. Trong khi thực hành sáu pháp Ba La Mật, vị Bồ Tát không nên nghĩ rằng có một cái gì đó có thể nắm bắt được.
TU BỒ Đ : Sao gọi là sự nắm bắt ?. Sao gọi là sự không nắm bắt?
ĐỨC PHẬT : Ở đâu còn có chủ thể đối tượng (nhị nguyên) ở đấy còn có sự nắm bắt. Ở đâu không còn chủ thể đối tượng ở đấy không còn có sự nắm bắt.
TU BỒ ĐỀ : Thế nào là chủ thể đối tượng, thế nào là không chủ thể đối tượng ?
ĐỨC PHẬT : Chỗ nào còn mắt và hình sắc, tai và âm thanh, mũi và mùi hương, lưỡi và mùi vị, thân và cảm xúc, ý và tư tưởng; chỗ nào có ngộ và sở ngộ … Thì chỗ ấy “còn chủ thể đối tượng”. Chỗ nào không còn mắt và hình sắc, tai và âm thanh, mũi và mùi hương, lưỡi và mùi vị, thân và thân xúc, ý và tư tưởng, ngộ và sở ngộ thì chỗ ấy không còn chủ thể đối tượng, không còn nhị nguyên./.
*
KINH PHÁP CÚ :
Phi chân tưởng là chân thật, chân thật lại thấy là phi chân.
Cứ tư duy một cách đứng đắn, người như thể mau đạt đến
Chân thật.

*
CHÂU LỢI BÀN ĐẶC

CHÂU LỜI BÀN ĐẶC là một Tăng sĩ có trí nhớ kém cỏi lạ thường, dù thầy hãy còn trẻ và mặt mũi rất khôi ngô. Cùng xuất gia một lượt với người anh, cùng nghe giảng pháp từ Đức PHẬT và các thầy giáo thọ A XÀ LÊ. Vậy mà, trong khi người anh đắc quả A LA HÁN thì Châu Lợi Bàn Đặc vẫn chưa thuộc nỗi một bài kệ có 4 câu, dù thầy đã cố gắng đem hết tâm sức để học nó trong suốt hằng mấy tuần trăng.
Trí nhớ kém cỏi của Châu Lợi Bàn Đặc đã làm khổ lòng các vị giáo thọ không ít. Đa văn như Tôn giả A NAN, trí tuệ cỡ Ngài XÁ LỢI PHẤT cũng đều lắc đầu thúc thủ. Sau nữa năm dài cố gắng vô hiệu quả, Châu Lợi Bàn Đặc bị người anh dẫn ra chỗ vắng nói rằng :
-“Nầy chú ! Chỗ tình thân với nhau, anh nói thật cho chú biết, chú nên hoàn tục là hơn. Bởi vì công việc của một người xuất gia là học kinh và hành thiền. Một bài kệ vỏn vẹn có 4 câu, thế mà chú còn không thuộc nỗi thì còn nói chi đến chuyện tu hành. Thôi chú hãy đem y bát cúng dường lại cho những vị mới phát tâm xuất gia, trở về nhà ở với bố mẹ, sống đời cư sĩ, bố thí thiết trai, tu phước để gieo duyên sau nầy”.
Châu Lợi Bàn Đặc òa lên khóc. Dù không đủ tài miệng lưỡi văn chương để diễn tả nỗi lòng của mình như những người khác, chàng vẫn cảm thấy một nội niềm thống khổ đang tràn ngập tâm tư. Tuy không thuộc kinh kệ, giới luật nhưng Châu Lợi Bàn Đặc vẫn mơ hồ cảm thấy có một cái gì đó rất linh thiêng, tha thiết trong cuộc đời tu sĩ. Đã biết bao lần chàng đi kinh hành qua lại dưới những tàn cây rậm lá, nhìn các bạn đồng phạm hạnh đọc kinh hay Tọa thiền một cách tín ngưỡng, khát khao. Phải chi mình thuộc được một bài kệ, chỉ bốn câu thôi để mình thực hành lời dạy của Đức THẾ TÔN…….. Và dù không tài nhớ được lời dạy bảo của Ngài, chàng cũng đã im lặng lắng nghe với tất cả tầm lòng thành kính, trân trọng như đám bạn bè đồng trang lứa.
Thế mà, giờ đây chàng lại sắp từ giả nếp sống thanh tịnh nầy, cởi bỏ chiếc y vàng quen thuộc, và những người bạn hiền hòa để trở về với nếp sống đa đoan của thế tục.
Không dám cãi lời anh, Châu Lợi Bàn Đặc lủi thủi đi ra khỏi Tinh Xá, vừa đi vừa khóc rất bi thảm. Đi được một quảng, sực nhớ là mình chưa từ giả Đức Phật, Châu Lợi Bàn Đặc bèn quay trở lại, đến hương thất của Đức Phật.
Thấy chàng nước mắt ràn rụa, Đức Phật hỏi :-“Nầy Châu Lợi Bàn Đặc, có chuyện gì vậy ?”.
CHÂU LỢI BÀN ĐẶC tấm tức :-“Bạch Thế tôn… ức… ức…con bị đuổi về nhà… ức… không tu được nữa… ức… ức….
-“Con đã phạm lỗi gì ?”.
-“Dạ, bạch Thế tôn ! Con không học thuộc được một bài kệ……. dù con đã cố gắng hết sức, nên anh con bảo con đi về nhà ở, đừng nên tu nữa….. ức ……ức…”.
-“Nhưng lòng con thì còn muốn tiếp tục cuộc sống xuất gia, có phải vậy không ?”
Châu Lợi Bàn Đặc khóc to lên, vì Đức Từ Phụ đã nói đúng tâm nguyện của anh ông ta. Đức Phật an ủi :
-“Nầy Châu Lợi Bàn Đặc ! Không thuộc nỗi một bài kệ, quả thật là một điều rất bất tiện cho việc tu học, nhưng đó không phải là một lỗi lầm cố ý đến nổi phải hoàn tục. Nếu lòng con còn tha thiết muốn tiếp tục cuộc đời phạm hạnh thì bấy nhiêu đó cũng đủ lắm rồi. Đây là một mảnh vải trắng, con hãy cầm lấy”.
Châu Lợi Bàn Đặc cầm chiếc khăn tay mà Đức Phật vừa trao cho, Đức Phật dạy tiếp :-“Mỗi ngày, con chỉ việc chăm chú theo dõi sự biến chuyển của chiếc khắn nầy… Chỉ có mỗi một việc đó thôi, con liệu có thể làm nỗi không?”
Châu Lợi Bàn Đặc hớn hở, thưa : “Bạch Thế Tôn, được ạ !”
-“Tốt lắm ! Nếu con kiên nhẫn làm theo lời Như Lai dạy, con sẽ đạt được kết quả tốt trong một ngày gần đây
Từ đó, ai cũng ngạc nhiên khi thấy Châu Lợi Bàn Đặc thường ngồi im lặng trên một tảng đá nhìn chăm chăm vào một mảnh vải treo phía trước. Vì biết đó là một đề tài Thiền Quán do Đức Phật đưa ra nên mọi người đều tôn trọng sự tu tập của thầy, không một người nào dám trêu chọc hoặc là hỏi han chi cả.
Sáng chiều nối gót nhau, ngày tháng qua lại, sau những giờ đi bát về, Châu Lợi Bàn Đặc vẫn theo một thông lệ bất di bất dịch, đến cội cây quen thuộc ngồi nhìn mảnh vải đã ố màu thời gian. Sự thay đổi dần dà của chiếc khăn, từ màu trắng ngà sang đen đúa đã giúp cho Châu Lợi Bàn Đặc khám phá ra sự vô thường của vạn hữu :”Chiếc khăn nầy, lúc Đức Phật đưa cho ta còn trắng và mới. Vậy mà bây giờ đã nhớp nhứa, lấm lem. Và không bao lâu nữa, nó sẽ mục nát. Cũng vậy, con người sanh ra, lớn lên, rồi già nua và bệnh hoạn rồi phải chết giống hệt như chiếc khắn tay nầy vậy”.
Và đúng như lời tiên đoán của Đức Phật, sau một thời gian tu tập với đề mục “CHIẾC KHĂN TAYChâu Lợi Bàn Đặc đắc quả A LA HÁN trước sự kinh ngạc của tất cả các bạn đồng phạm hạnh.
ĐỨC PHẬT xác nhận thành quả ấy và Ngài đã kết luận rằng :
-“Bằng tất cả nhiệt tâm, tinh cần tu tập Châu Lợi Bàn Đặc đã tạo cho mình một hòn đảo mà không một lượng sóng tham ái nào hay tà kiến nào có thể làm chìm đắm được”. Đó là ý nghĩa câu kinh Pháp Cú thứ hai mươi lăm.
Bằng sự cố gắng, hăng hái không buông lung tự khắc chế lấy mình, người thiện trí đã tạo cho mình một hòn đảo mà không ngọn thủy triều nào nhận chìm được”./.
*

LÝ DUYÊN KHỞI

Trong TRUNG BỘ KINH cónói: “Ngài A NAN ĐÀ bạch Phật” :
-“Bạch THẾ TÔN, cho đến mức độ nào là vừa đủ để nói : “Vị Tỳ Kheo thiện xảo vế Duyên Khởi ?”.
-Ở đây nầy A NAN ĐÀ, vị Tỳ Kheo nên biết như sau :
-Nếu cái nầy , cái kia , do cái nầy sanh, cái kia sanh; nếu cái nầy không có, cái kia không có, do cái nầy diệt, cái kia diệt, tức Vô Minh duyên Hành, Hành duyên Thức, Thức duyên Danh Sắc, Danh Sắc duyên Lục Nhập, Lục Nhập duyên Xúc, Xúc duyên Thọ, Thọ duyên Ái, Ái duyên Thủ. Thủ duyên Hữu. Hửu duyên Sinh; do duyênSinh, Lão, Tử, Sầu, Bi, Khổ, Ưu, Não sinh khởi.
Như vậy, này A NAN ĐÀ là sự tập khởi của tòan bộ khổ uẫn nầy. Nhưng, do sự diệt trừ, sự ly dục hòan tòan của chính Vô Minh nầy, các Hành diệt. Do các Hành diệt, Danh sắc diệt, Do Danh sắc diệt, Lục Nhập diệt. Do Lục Nhập diệt Xúc diệt. Do Xúc diệt Thọ diệt. Do Thọ diệt Ai diệt. Do Ai diệt Thủ diệt. Do Thủ diệt Hữu diệt. Do Hữu diệt Sinh diệt. Do Sinh diệt Lão, Tử, Sầu, Bi, Khổ, Ưu, Não đoạn diệt. Như vậy là đọan diệt hòan tòan của khổ uẫn nầy. Cho đến như vậy nầy A NAN ĐÀ là vừa đủ để nói vị Tỳ Kheo thiện xảo về Lý Duyên Khởi.
L Ư U Ý :
Trong Kinh TẠP A HÀM số 288 có nói như sau :
-Ngài ANAN thưa :”Bạh Thế Tôn ! Lý Duyên Khởi hay quá mà cũng thật là đơn giản và dễ hiểu”.
Đức PHẬT nói :”Thầy đừng nghĩ như vậy, Lý Duyên Khởi rất sâu sắc, rất mầu nhiệm, thầy chưa hiểu hết được đâu. Người nào thấy tánh duyên khởi tức là thấy được NHƯ LAI (=Kiến Tánh)./.
*

Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng

Nhược kiến chư tướng phi tướng tức kiến Như Lai.



thichthientri
Cảm ơn, Thành viên Moderator (Xin thông báo BQT)
 
Bài viết: 157
Ngày tham gia: Thứ 2 09 Tháng 4, 2012 2:17 am

Re: ###Sách Kiến Tánh Thành Phật

Gửi bàigửi bởi thichthientri » Chủ nhật 31 Tháng 7, 2016 5:43 am

11

PHẬT TÁNH KHÔNG KHÁC

Kinh nói : Một hôm trên đường đi, Đức Phật để lại những dấu chân in sâu trên đất. Có một vị Bà La Môn tên DONA giỏi về tướng số, thấy dấu chân có xoáy ốc nên biết là tướng phi phàm liền đi theo dấu chân tìm đến gặp Đức Phật. DONA hỏi : - “Ngài có phải Tiên không ?”.
Đức Phật bảo :- “Ta không phải Tiên”.
- “Ngài có phải A TU LA không ?”.
- “Ta không phải A Tu La”.
- “Ngài có phải DẠ XOA không ?”.
- “Ta không phải Dạ Xoa”.
- “Ngài có phải là NGƯỜI không ?”.
- “Ta không phải là Người”.
- “Thế Ngài là gì ?”.
Đức Phật bảo :“Nếu Tiên mà “sạch hết lậu hoặc” (*) thì ta là Tiên. Nếu A Tu La mà “sạch hết lậu hoặc” thì ta là A Tu La. Nếu Dạ Xoa mà “sạch hết lậu hoặc” thì ta là Dạ Xoa. Nếu Người mà “sạch hết lậu hoặc” thì ta là Người.
Còn Ta, vì đã “sạch hết lậu hoặc” nên ta là một vị PHẬT, là THẾ TÔN./.
Chú Thích : (*) Lậu hoặc : là cái CĂN BỔN VÔ THỈ SANH TỬ hay MINH (=Hoặc+Nghiệp+Khổ)../.
*

NĂM ĐIỀU THƯỜNG NHỚ

Trong TĂNG CHI BỘ KINH, Đức Phật có dạy các thầy Tỳ Kheo hằng
nhớ năm điều thì tâm không buông lung :
1.- GIÀ : Tất cả mọi người rồi cũng phải già yếu tàn tạ không một ai
tránh khỏi.
2.- BỆNH : Bệnh tật luôn luôn rình rập bên mình không phút giây lơi
lỏng.
3.- CHẾT : Chết là luật chung của mọi người, ai rồi cũng phải chịu
luật vô thường không thể tránh khỏi.
4.- TẤT CẢ SỰ NGHIỆP ĐỀU VÔ THƯỜNG : Cái gì có tạo ra rồi
cũng hoàn không, không ai giữ mãi tài sản được.
5.- MỖI NGƯỜI ĐỀU LÀ CHỦ TẠO NGHIỆPTRẢ NGHIỆP:
không một ai có thể thay thế cho mình được./.
*

VÔ MINH = HOẶC+NGHIỆP+KHỔ

*

C Ó & K H Ô N G

Một thời, Đức Phật trú ở Sàvatthi dạy các thầy Tỳ Kheo :
-Nầy các Tỳ Kheo, Ta không tranh luận với đời, chỉ có đời tranh luận với Ta. Nầy các Tỳ Kheo, người nói pháp không tranh luận với bất cứ ai ở đời.
-Nầy các Tỳ Kheo, cái gì người có trí ở đời chấp nhận là“Không”, Ta cũng nói là “không”, cái gì người có trí ở đời chấp nhận là “”, Ta cũng nói là “”.
Và nầy các Tỳ Kheo, người có trí ở đời không chấp nhận sắc, thọ, tưởng, hành, thức (ngũ uẫn) là thường còn, không chịu sự biến hoại, thời Ta cũng nói là “Không”.
-Nầy các Tỳ Kheo, đây là cái gì người có trí ở đời chấp nhận sắc, thọ, tưởng, hành,thức là “vô thường” chịu sự biến hoại, thời Ta cũng nói là “” vậy.
-Nầy các Tỳ Kheo, đây là cái gì người có trí ở đời chấp nhận là “” , Ta cũng nói là “”.
Ở trong đời, nầy các Tỳ Kheo, có thế pháp (=pháp thế gian). Thế pháp ấy Như Lai hoàn toàn chứng ngộ. Sau khi hoàn toàn chứng ngộ, Như Lai tuyên bố, thuyết giảng, trình bày, xác chứng và khai thị.
Sắc, thọ, tưởng, hànhthức, nầy các Tỳ Kheo là thế pháp. Thế pháp ấy Như Lai hoàn toàn chứng ngộ. Sau khi hoàn toàn chứng ngộ Như Lai tuyên bố, thuyết giảng, trình bày, xác chứng, khai thị như vậy, vẫn không biết, không thấy, với người ấy, Ta xem là phàm phu, mù lòa, không có mắt./.
(Tương Ưng Bộ III, chương 1, Phẩm Hoa)./.

KINH HOA NGHIÊM nói :
Nhứt thiết pháp bất sanh,
Nhất thiết pháp bất diệt
Nhược nhơn như thị giải,
Chư Phật thường hiện tiền.
*
CÓ & KHÔNG
Có thì có tự mãi mai
Không thì cả thế gian nầy cũng không.
Nhìn xem bóng nguyệt dòng sông
Ai hay không có có không là gì ?
*
NHÂN DUYÊN SỞ SANH PHÁP. NGÃ THUYẾT TỨC THỊ KHÔNG
*

KINH TÌNH THƯƠNG

Đức Phật códạy rằng : Những ai muốn đạt tới an lạc thường nên học hạnh thẳng thắng, khiêm cung, biết sử dụng ngôn ngữ từ ái. Những kẻ ấy biết sống đơn giảnhạnh phúc, nếp sống từ hòa, điềm đạm, ít ham muốn, không đua đòi theo đám đông. Những kẻ ấy sẽ không làm bất cứ điều gì để các bậc thức giả có thể chê cười.
Và đây là điều mà họ luôn luôn tâm niệm :
- Nguyện cho mọi người và mọi loài được sống an toàn và hạnh phúc, tâm tư hiền hậu và thảnh thơi.
- Nguyện cho tất cả loài sinh vật trên trái đất đều được sống an lành; những loài yếu, những loài mạnh, những loài cao, những loài thấp, những loài lớn, những loài nhỏ, những loài ta có thể nhìn thấy, những loài ở gần, những loài ở xa, những loài đã sinh và những loài sắp sinh.
- Nguyện cho đừng loài nào sát hại loài nào, đừng ai coi nhẹ tính mạng của ai, đừng có ai vì gì giận hờn hoặc ác tâm mà mong cho ai bị đau khổ và khốn đốn.
Như một bà mẹ đang đem thân mạng mình che chở cho đứa con duy nhất, chúng ta hãy đem lòng từ bi mà đối xử với tất cả mọi loài.
Ta hãy đem lòng từ bi không giới hạn của ta mà bao trùm cả thế gian và muốn loài, từ trên xuống dưới, từ trái sang phải. Lòng Từ bi không bị bất cứ gì làm ngăn cách, tâm ta không còn vương vấn chút hờn oán hoặc căm thù. Bất cứ lúc nào, khi đi, khi đứng, khi ngồi, khi nằm, miễn là còn thức, ta nguyện duy trì trong ta Chánh Niệm từ bi.
Nếp sống Từ Bi là nếp sống cao đẹp nhất. Không lạc vào tà kiến, loại dần ham muốn, sống nếp sống lành mạnh và đạt thành Tri Giác, hành giả sẽ chắc chắn vượt khỏi tử sinh./.
*

TU THIỀN : ‘TRỊ TÂM BỆNH’

Kinh nói :”Phật thuyết nhứt thiết pháp vị trị chúng sanh tâm’ (=Phật nói tất cả pháp để trị tâm bệnh cho chúng sanh).
Còn Đức LỤC TỔ HUỆ NĂNG thì nóinhư sau :
Phật nói tất cả pháp, để trị tất cả tâm
Ta không tất cả tâm, đâu cần tất cả pháp !
(Lưu ý : Có bệnh mới cần đến thuốc, nếu như không có bệnh hay đã trị hết bệnh rồi, thử hỏi dùng thuốc để làm gì !?).
*

KHÔNG SỢ NIỆM KHỞI, CHỈ SỢ BIẾT CHẬM



thichthientri
Cảm ơn, Thành viên Moderator (Xin thông báo BQT)
 
Bài viết: 157
Ngày tham gia: Thứ 2 09 Tháng 4, 2012 2:17 am

Re: ###Sách Kiến Tánh Thành Phật

Gửi bàigửi bởi thichthientri » Chủ nhật 14 Tháng 8, 2016 9:05 am

12
ĐÁNH XE HAY ĐÁNH TRÂU ?

Tu sĩ MÃ TỔ (ĐẠO NHẤT) cất một lều tranh bên sườn núi để tu, thực hành tịnh khẩu, không trò chuyện với ai, dù có người đến cúng dường cũng không nói một tiếng. Người cúng dường mang phẩm vật đến trước mặt ông, vái chào để cúng rồi trở về. Hành trạng đó, tạo tiếng vang khắp vùng phụ cận, dân chúng đồn đại ngợi khen không ngớt.
Thiền sư NAM NHẠC HOÀI NHƯỢNG (đệ tử của LỤC TỔ) biết MÃ TỔ dùng công phu lệch lạc, nên muốn độ ông nầy. Một hôm, Ngài đến trước cửa thất của MÃ TỔ mài cục gạch sột soạt, lúc bấy giờ MÃ TỔ nghe hết, nhưng vẫn không lên tiếng.
Đến ngày thứ hai cũng vậy. Sáng sớm ngày thứ ba, Thiền Sư HOÀI NHƯỢNG vẫn tiếp tục động tác nầy. MÃ TỔ chịu hết nỗi, mới hỏi :
-“Lão Bồ Tát, Ngài mài cục gạch làm chi thế ?
Thiền Sư HÒAI NHƯỢNG đáp :”Làm gương soi”.
MÃ TỔ mĩm cười :”Gạch làm sao mài thành gương được?
HOÀI NHƯỢNG :”Ong hằng ngày ngồi đây để làm gì ?
Mà TỔ đáp :”Để làm Phật”.
HOÀI NHƯỢNG nói :”Siêng ngồi yên có thể thành Phật được sao ?
MÃ TỔ giật mình lặng thinh không đáp. Ông tu khổ hạnh đã nhiều năm nay mà vẫn chưa thấy biết được lối vào. Nay nhờ sự việc nầy quấy động, lời của HOÀI NHƯỢNG trúng vào sợi tơ trong lòng ông.
HOÀI NHƯỢNG tiếp :”Xin hỏi, lúc điều khiển xe trâu, mà xe không lăn bánh, vậy nên đánh chiếc xe là phải, hay đánh trâu là phải ?”.
MÃ TỔ : “Dĩ nhiên là phải đánh trâu”.
HOÀI NHƯỢNG :”Thế sao ông lại CỨ MÃI ĐÁNH XE ?”.
MÃ TỔ biết đây là cao tăng, liền đảnh lễ cầu pháp.
Thiền sư HOÀI NHƯỢNG liền bảo ông từ bỏ lều tranh, theo về với Ngài học đạo. Ít năm sau, MÃ TỔ (ĐẠO NHẤT) trở thành một vị Đại Thiền Sư danh tiếng lừng lẫy ở Giang Tây, độ chúng vô số”./.
*
CƯ SĨ BÀNG LONG UẪN nói :

A -Thập phương đồng tụ hội

Cá cá học vô vi

Thử thị tuyển Phật trường

Tâm không cập đệ qui./.

DỊCH:

Mười phương đồng tụ hội

Ai nấy học vô vi

Đây là trường thi Phật

Tâm không được chấm đậu

*

B.-Chỉ mong không các cái có, Cốt đừng thật các cái không./.

*

CÂU CHUYỆN DO ‘TRANG TỬ’ KỂ :

-A hỏi B :Người ta có thể lấy ‘ĐẠO’ làm của riêng không ?”.
-Chính ngay xác thân ông cũng không phải là của ông, thì làm sao ‘ĐẠO’ lại là của ông được”. B trả lời.
A nói :Nếu thân tôi không phải của tôi thì của ai ?.
B trả lời :’Đó là một hình ảnh đại biểu cho ‘ĐẠO’. Đời ông không phải của ông, nó đại biểu cho sự hòa điệu của ‘ĐẠO’. Cá tính của ông cũng không phải của ông, nó đại biểu cho sự thích nghi của ĐẠO…
Ông sống mà không hiểu thế nào, ông chết mà không biết, vì sao, tất cả đều vận hành của ‘ĐẠO’.
Thế thì làm sao ông có thể lấy ‘ĐẠO’ về riêng mình !./.

LƯU Ý : 1.-Chữ ‘ĐẠO’ ở đây có nghĩa là : Tâm Thanh Tịnh, Tâm Thể Vô Niệm hay CHÂN TÂM, PHẬT TÁNH, haylà VŨ TRỤ TUYỆT ĐỐI (=Vũ Trụ Tri Giác=Tổng Cơ Quan Ao Bí Của Vũ Trụ )./.
Biết rõ tất cả pháp
Đều không có Tự Tánh
Hiểu Pháp tánh như vậy
Tức thấy Lô Xá Na./.

Lưu ý : Phật Tỳ Lô Xá Na : Phật Pháp Thân.
*
™
NHỮNG GÌ LÀ TỐI THƯỢNG ?

Khi Đức Phật còn tại thế, Ngài trú ở Alai, tại trú xứ của Dạ Xoa Alavakka. Rồi Dạ Xoa đi đến và nói với Đức Phật như sau :
- “Nầy Sa Môn, ta sẽ hỏi ông một câu. Nếu ông không trả lời ta được ta sẽ làm tâm ông điên loạn, hay ta sẽ làm ông bể tim, hay nắm lấy chân, ta sẽ quăng ông qua bờ bên kia sông Hằng”.
Đức Phật bảo : - Nầy hiền giả, Ta không thấy một ai ở Chư Thiên, Ma giới, Phạm Thiên hay với chúng Sa Môn, Bà La Mônloài người có thể làm tâm Ta điên loạn hay làm bể tim Ta, hay nắm lấy chân quăng Ta qua bờ bên kia sông Hằng. Tuy vậy, nầy hiền giả, hãy hỏi đi, nếu ông muốn.
- Nầy Sa Môn, cái gì đối với người là tài sản tối thượng? Cái gì khéo hành trì, đem lại chơn an lạc ? Cái gì giữa các vị, là vị ngọt tối thượng? Phải sống như thế nào, được gọi là sống tối thượng?
ĐỨC PHẬT dạy: - Nầy hiền giả,
Lòng tin đối với người, là tài sản tối thượng.
-Chánh Pháp khéo hành trì, đem lại chơn an lạc.
- Chân lý giữa các vị, là vị ngọt tối thượng.
-Phải sống với trí tuệ, được gọi là sống tối thượng”./.
*
LƯ U Ý :
Tài thí thì cứu được bệnh nóng, lạnh và đói khát.
Pháp thí thì trừ được 98 bệnh phiền não !
*
H A I VÔ N G Ã
Hai ‘Vô Ngã’ là : Nhân Vô Ngã Pháp Vô Ngã.
A.-Hai chữ “Vô Ngã” có nghĩa là : Không có chủ thể, không có thực thể và Tánh không (=Tự tánh là Không).
B.-Chấp Ngã là chấp muôn vật đều có tự thể, chớ không phải do duyên sanh. (Lưu ý : Hành giả nên đặc biệt lưu ý điều nầy)
Bởi vì, ở trong Kinh Đức PHẬT có dạy rằng :

I.-Nhân duyên sở sanh pháp

Ngã thuyết tức thị không

Diệc danh di giả danh

Diệc danh trung đạo nghĩa.


D Ị C H :

Các pháp do duyên sanh

Ta nói tức là không

Cũng gọi là giả danh

Cũng gọi nghĩa trung đạo.

*

II.-Nhứt thiết pháp bất sanh

Nhứt thiết pháp bất diệt

Nhược nhơn như thị giải,

Chư Phật thường hiện tiền.

D Ị C H :

Tất cả pháp chẳng sanh

Tất cả pháp không diệt

Nếu ai hiểu như thế

Chư Phật thường hiện tiền.


*

III.-Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng,

Nhược kiến chư tướng phi tướng tức kiến Như Lai.

*

BÁT NHÃ TÂM KINH có nói :

-Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa, thời chiếu kiến NGŨ UẪN giai ‘Không’ độ nhứt thiết khổ ách.
(Nghĩa là : Bồ Tát Quán Tự Tại dùng trí tuệ Bát Nhã quán thấy thân ngũ uẫn nầy là : “không” nên vượt được mọi khổ nạn).
(LƯU Ý : A.-Chữ “không” nói ở đây, hành giả nên hiểu là giả có, là huyễn có, chớ không phải là không ngơ như lông rùa hay sừng thỏ !.
B.-NGŨ UẪN (Sắc, Thọ, Tưởng, Hành và Thức) : Vô Ngã (=không có chủ thể, không có thực thể và Tánh không)
C.-Chấp Ngãchấp muôn pháp đều có tự thể, chứ không phải do đủ nhân đủ duyên họp lại mà thành.
D.-Nếu ai thấy biết rõ thân tứ đại hay thân ngũ uẫn : Vô Ngã, thì khi lâm chung tâm thức không bị nghiệp lôi.
E.- Nếu ai thấy biết tất cả các ‘Pháp’ đều Vô Ngã thì có phứơc đức vô lượng vô biên. Vì cớ sao ?
: A.- Thiền Sư MINH CHÁNH (VN) có nói :
Chẳng biêt Bản Lai Vô Nhất Vật,
Công phu luống uổng một đời ai !.
B.- Tổ HÒANG BÁ (Thiền Sư HY VẬN) có dạy rằng :
-“Đối với các cảnh, chỉ cần không thấy rằng ‘có’ hay ‘không có’ tức là thấy Pháp (=Kiến Tánh hay Ngộ Đạo)”.
Nói tóm lại :
Vốn không tất cả pháp.

LÌA tức : PHÁP (=TâmThanh Tịnh)

Người biết lìa : PHẬT

*

NGỒI Ở CHỖ NÀO ?

Có một hôm, thầy trò Thiền Sư PHẬT ẤN đang dọn dẹp ở trong phương trượng, thì có TÔ ĐÔNG PHA đến viếng và đi thẳng vào.
Thiền Sư PHẬT ẤN nói :”Ở trong đây không có ghế ngồi. Tướng Công vào đây làm chi ?”.
TÔ ĐÔNG PHA nói : “Không có ghế ngồi, thì lấy cái thân của Thiền Sư làm ghế ngồi”
Thiền Sư PHẬT ẤN nói :”Tôi có một câu hỏi, nếu như Tướng Công đáp được thì cứ việc ngồi. Còn như đáp không được, thì phải treo giây Ngọc Đái lại chùa, có chịu không ?” . TÔ ĐÔNG PHA đồng ý.
Thiền SưPHẬT ẤN hỏi :”Tứ đại vốn không, ngũ uẫn không phải có, vậy Tướng Công ngồi chỗ nào ?”.
TÔ ĐÔNG PHA không đáp được, đành phải treo dây Ngọc Đái lại chùa./.

*
ĐỨC PHẬT DẠY :

Có Thiền trí tuệ sanh.

Không Thiền trí tuệ diệt.

Hai nẻo sanh diệt ấy nếu biết,

Hãy nổ lực viên thành trí tuệ.

*
HÃY NỔ LỰC TINH TẤN
NHƯ LAI BẬC DẪN ĐƯỜNG
AI TU TẬP THIỀN ĐỊNH
ẮT THÓAT VÒNG MA VƯƠNG
*
TRI KIẾN LẬP TRI TỨC VÔ MINH BẢN
TRI KIẾN VÔ KIẾN TƯ TỨC NIẾT BÀN
thichthientri
Cảm ơn, Thành viên Moderator (Xin thông báo BQT)
 
Bài viết: 157
Ngày tham gia: Thứ 2 09 Tháng 4, 2012 2:17 am

Trang trước

Quay về Chuyên đề Thiền Tông

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến2 khách

cron