Diễn đàn Tu viện Phật giáo Việt nam


Chứng Đạo Ca II.(Vĩnh Gia Đại Sư)

Thảo luận về kinh điển Thiền.

Các điều hành viên: Sen Hong, Bất Nhị

Chứng Đạo Ca II.(Vĩnh Gia Đại Sư)

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 4 09 Tháng 7, 2014 6:37 pm

Vĩnh Gia Chứng Ðạo Ca Sa-Môn Huyền Giác soạn

Chánh Văn:21

Ngã Sư đắc kiến Nhiên Đăng Phật,
Đa kiếp tằng vi nhẫn nhục tiên.
Kỷ hồi sanh! Kỷ hồi tử!
Sanh tử du du vô định chỉ!



Ngã Sư đắc kiến Nhiên Đăng Phật, ngã sư là thầy của tôi. Thầy tôi được thấy Đức Phật Nhiên Đăng.
Đó là kể lại Đức Phật Thích Ca của chúng ta ngày xưa, khi tu thành Phật, Ngài có kể lại rằng trước kia Ngài đã từng gặp Đức Phật Nhiên Đăng giáo hoá, nên Ngài tu hành đến bây giờ được thành Phật. Đó là nhắc lại lời của Đức Phật kể.

Đa kiếp tằng vi nhẫn nhục tiên. Nghĩa là nhiều đời nhiều kiếp Ngài đã làm vị tiên nhẫn nhục.
Đó là để cho thấy rằng, tu thành Phật không phải một lần hay một kiếp, mà rất nhiều đời nhiều kiếp. Bởi nhiều đời nhiều kiếp tu hành, nên đời cuối cùng Đức Thích Ca mới thành Phật. Chúng ta bây giờ tu quí vị nghĩ chừng bao lâu thành Phật?

Chắc cũng nhiều đời nhiều kiếp lắm. Vậy hiện giờ nhìn trong hội chúng này tăng ni và Phật tử, nếu nhìn cái đầu thì nói ai tu được nhiều kiếp rồi?
Đây là tôi nói cái đầu, chớ chưa nói tới tiền duyên tiền kiếp của mỗi người. Người được đầu tròn áo vuông chắc rằng tu trước hơn người chưa được. Quí vị được đầu tròn áo vuông có tin rằng, con đường đến thành Phật mình đã gần mục đích chưa? Chắc cũng còn xa.


Như vậy từ khi phát tâm tu cho tới thành Phật quả là phải nhiều kiếp nhiều đời, chớ không phải một kiếp một đời. Hiểu vậy rồi thì trên sự tu hành chúng ta không lấy gì làm lạ. Như trên trong kinh Phật kể lại rằng, trước kia Ngài đã từng làm những vị tiên nhơn nhẫn nhục. Có khi bị người ta xin tay xin chân, có khi xin vợ xin con..v.v… đủ thứ, mà Ngài kham chịu nhẫn nhục không buồn, không phiền, mà nhiều lần như vậy đó, cho nên sau này Ngài mới thành Phật.


Vậy toàn thể tăng ni, Phật tử chúng ta tu nếu gặp cái gì khó khăn, gặp cái gì buồn phiền thì chúng ta làm sao? Nên tập là tiên nhẫn nhục không? Hay là mình cũng ăn thua chung đủ với người ta? Nếu Đức Phật ngày xưa chưa từng làm tiên nhẫn nhục, thì làm sao sau này có đắc quả thành Phật!

Còn chúng ta bây giờ tu không nhịn ai hết, không nhịn mà còn đòi thành Phật thì tu được không, thành được không? Như vậy quí vị hiểu chúng ta phải dày công, phải có sức nhẫn nhục, thì kết quả mới thành tựu. Tu Phật muốn được thành Phật thì phải đủ những tư cách chịu đựng nhẫn nhục, bố thí..v.v…
Đó là hai câu ngài nhắc lại đời Đức Phật từ hiện tại cho tới những quá khứ đã qua Ngài từng tu như vậy.


Kỷ hồi sanh! Kỷ hồi tử! Tức là bao nhiêu lần sanh, bao nhiêu lần tử.

Sanh tử du du vô định chỉ! Tức là sanh và tử, nó luôn luôn nối tiếp không dừng. Từ khi khởi tâm tu cho tới ngày thành Phật trên đường sanh tử nó liên miên không dừng không dứt.

Như vậy thì tất cả chúng ta tu mà muốn được kết quả viên mãn thì trên đường tu phải liên tục, đời này kiếp tới, luôn luôn. Chúng ta nhìn trong một đời này thấy qua một đời dài hay ngắn? Lúc còn trẻ mười lăm, mười bảy thấy nó dài. Nếu tới bảy tám chục thì thấy dài hay ngắn? Nó kề một bên. Vậy một đời người mới ra còn trẻ thì chúng ta thấy dài ngán, nếu đi qua gần cuối đời rồi thì thấy rất là ngắn, cứ đời này qua rồi tới đời khác.


Nhiều khi với tuổi của tôi, năm nào đó thấy mấy Phật tử tới với tôi thì cũng đầu xanh hết, bây giờ nhìn lại người nào tối thiểu cũng bạc hoa râm rồi. Như vậy cái tuổi, cuộc đời của chúng ta nó liên tục biến chuyển, từ tẻ sang già, rồi tới chết.

Mà quí vị nghe chết có buồn không? Nghe chết ngán quá. Vậy thì chúng ta muốn không chết phải không? Nếu muốn không chết thì ráng tu như Phật chứng quả rồi hết chết. Còn chưa chứng quả thì liên tục chết, chết đời này, chết đời nọ, chết mãi mãi, cho tới cuối cùng được giác ngộ viên mãn, chứng được quả vô sanh rồi Niết bàn thì chừng đó mới ngừng sanh tử, đó gọi là giải thoát sanh tử.


Vậy trên đường tu chúng ta là người lữ hành đang từng bước, từng bước hướng về cái gì?

Nếu tăng ni thì hướng về cái đích giải thoát, giải thoát tức là hết sanh tử.

Còn Phật tử mình thì hướng về cái gì?

Cũng từng bước từng bước hướng về gieo duyên lành, đời này được một ít, đời sau được một ít. Cứ gom góp từng chút ít, rồi không biết chừng nào đó đầy đủ thì mới đến được cái đích giải thoát.

Vì vậy đối với sự tu hành chúng ta phải đầy đủ lòng tin rằng, có tu là có tiến. Tiến ít, tiến nhiều cũng là có tiến. Người hùng dũng thì tiến nhanh, người yếu ớt thì tiến chậm, nhưng có tu thì có tiến. Chỉ sợ không tu thì chịu thôi, không biết đời này được làm người, đời sau được làm cái gì không biết, chớ có tu là có tiến.

Hiểu vậy thì quí vị yên lòng để chúng ta cố gắng tiến lên, đừng dừng một chỗ hay đừng lùi đừng sụt, thì đó là con người biết tu và cố gắng tu.

***************************************************
HT. Thích Thanh Từ giảng
http://tvsungphuc.net/?option=com_content&task=view&id=728
Hình ảnh
*****************************************

(Còn tiếp...)

**************
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Chứng Đạo Ca II.(Vĩnh Gia Đại Sư)

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 4 16 Tháng 7, 2014 12:53 pm

Vĩnh Gia Chứng Ðạo Ca Sa-Môn Huyền Giác soạn

Chánh Văn:22

Tự tòng đốn ngộ liễu vô sanh,
Ư chư vinh nhục hà ưu hỷ?
Nhập thâm sơn, trú lan nhã,
Sầm ngâm u thúy trường tùng hạ,

GIẢNG :

Ngài diễn tả đời tu của người thấy được con đường thoát tục. Ngài nói rằng:

Tự tòng đốn ngộ liễu vô sanh, nghĩa là từ khi ngài chóng ngộ được lý vô sanh của Phật dạy. Khi nhận được lý vô sanh đó rồi thì làm gì?


Ư chư vinh nhục hà ưu hỷ? Là đối với cái vinh cái nhục không buồn, không lo, không vui gì hết. Không vui, không buồn khi gặp cảnh vinh, cảnh nhục. Sở dĩ không có buồn vui đối với cảnh vinh nhục là thấy được lý vô sanh, còn chưa thấy được lý vô sanh thì gặp cảnh vinh thì cười hú hí, gặp cảnh nhục thì khóc lu bù, chớ không được yên. Chúng ta chưa thấy được lý vô sanh nên chúng ta vui khi được vinh, tủi buồn khi bị nhục.
Vậy người thấy được lý vô sanh rồi làm cái gì, thích cái gì?


Nhập thâm sơn, trú lan nhã. Sau khi thấy được lý vô sanh rồi, thì thích vào núi sâu, ở chỗ vắng vẻ. Đó là tư cách, đó là hạnh an lạc của người xuất gia.


Sầm ngâm u thúy trường tùng hạ. Sầm ngâm là chỗ dày bịt hay chỗ sâu kín. U thúy cũng là chỗ thâm sâu ở trong. Nói theo thế thường là chỗ rừng già, chỗ thâm sâu ở trong, ở dưới cội tùng hay gốc thông mình ngồi lặng lẽ. Hay nói cách khác là chúng ta sau khi hiểu được lý vô sanh rồi thì chúng ta thích đi vào núi sâu, chỗ vắng vẻ, nơi rừng rậm vắng vẻ, rồi ngồi dưới cội tùng yên tu.

Quí vị có làm được cái đó chút nào chưa? Chắc chưa thấy được lý vô sanh, nên rồi cũng còn vật lộn với cuộc sanh tử này, chưa có yên mà ngồi trong chỗ vắng vẻ đó.

CHÁNH VĂN 23 :

Ưu du tĩnh tọa dã tăng gia,
Khuých tịch an cư thật tiêu sái!

GIẢNG :

Ưu du tĩnh tọa dã tăng gia. Ưu du là thong thả, tỉnh tọa là ngồi yên. Thong thả ngồi yên đó là tư cách của người tu, người xuất gia, của tăng gia.
Vậy khi chúng ta tu vào rừng sâu, ở chỗ vắng lặng, rồi đi hành, ngồi tọa thiền, đó là tư cách, là thái độ của người tu.


Khuých tịch an cư thật tiêu sái
! Yên ở chỗ vắng vẻ đó thật là vui tuyệt, vui vô cùng. Quí vị được cái vui đó chưa?
Bây giờ, chẳng những là cư sĩ mà người tu chúng ta bắt bỏ vô rừng ở chỗ vắng một thời gian thì sao? Xách gói chạy về thành thị liền, ở đó buồn quá, nghe tiếng cọp rống, nghe tiếng chim kêu, rồi nhớ nhà, nhớ chùa, không an ở được chỗ vắng vẻ. Đừng nói là một mình, mà ở chỗ vắng vài ba huynh đệ cũng là buồn nữa, huống là một mình yên ở chỗ ấy.

Còn ở đây khi chúng ta thấy được lý vô sanh rồi, thì ở chỗ vắng vẻ yên tịnh, núi sâu, rừng rậm mà chúng ta rất là vui, rất là tự tại. Quí vị thấy cái vui của người đạt đạo, với cái vui của người thế gian khác nhau quá. Một bên thì tìm cảnh ồn náo vui chơi cho đó là vui. Một một bên thì vào núi sâu rừng rậm, ngồi một mình tỉnh tọa, đó là vui, vui tuyệt.


Như vậy cái vui bên ồn náo, và cái vui bên tịch tĩnh vắng lặng hai cái vui nó khác nhau chỗ nào? Cười thì cũng vẫn cười, vui thì cũng vẫn vui. Nhưng bên này vui trong cái khổ, còn bên kia vui trong lý vô sanh.


Vui trong cái khổ là gì? Thí dụ quí vị đi coi đá bóng vui không? Nếu người ta đá trái bóng vào lưới đội kia thì mình vổ tay ầm ỉ lên, thì trong đó có những người đau khổ không? Nghĩa là hai bên, một bên vổ tay thì hoan hỉ lắm mừng lắm, còn bên thua thì rầu khổ. Như vậy cái vui trong cái khổ, chớ không có cái vui thật.

Gần nhất là quí vị vào rạp hát để xem tuồng hát, tuồng ca, cải lương chẳng hạn. Khi sắp mua vé vào rạp vui không? Đi chơi giải trí vui. Nhưng vô đó rồi đôi khi quí vị có khóc không? Gặp mấy cô đào thương làm cái gì buồn quá bắt chước khóc theo. Như vậy thật vui không, hay vui trong cái buồn, vui trong cái khổ?

Vậy tất cả cái vui của thế gian là vui đối đải, bên cạnh cái vui là có cái khổ, chớ không có cái vui trọn.
Còn cái vui của người thấy đạo ở nơi vắng vẻ đó là vui mà không có khổ? Tại sao vui? Bởi vì những niệm dấy lên tạo nghiệp sanh tử nó đã lặng hết rồi. Niệm tạo nghiệp sanh tử không còn nữa thì còn lại cái gì? Hết buồn, hết vui, hết thương, hết ghét rồi, thì như vậy chỉ còn thuần một điều là nhàn hạ, thảnh thơi, không một niệm gì thương ghét giận hờn. Cái vui thanh nhàn, cái vui tự tại đó có khổ một bên không? Không có. Bởi vậy cái vui đó mới là vui thật.


Còn cái vui đối đải nó không thật đâu, vui bên cái khổ. Nhất là những người đánh quyền với nhau, bên này hạ được bên kia thì vổ tay mừng thắng trận. Nhưng mừng thắng trận đó, thì có một người muốn ói ra máu. Như vậy mình vui trong cái đau khổ chớ có vui thật đâu, mà thế gian cứ tìm cái vui như vậy gọi là giải trí. Giải trí trong cái đau khổ, chớ không giải trí thật là vui.


Vui của người tu là vui gạn lọc hết những tâm tư ghét thương, buồn phiền, giận thù..v.v… lặng hết không còn, chỉ một thảnh thơi nhàn hạ, tâm nó an nhàn, tự tại. Cái vui đó mới là vui thật, vui đó là vui của người tu. Cho nên ngài dùng từ thật tiêu sái tức thật là vui tuyệt, không có cái gì bằng, không có đối đải.

Chúng ta hiểu được cái vui của người tu và cái vui của người đời hai bên nó khác nhau. Mà cái vui của người tu, nó không có cái khổ bên cạnh. Còn vui của người đời thì đều có cái khổ một bên.

***************************************************
HT. Thích Thanh Từ giảng
http://tvsungphuc.net/?option=com_content&task=view&id=728
Hình ảnh
*****************************************

(Còn tiếp...)

**************
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Chứng Đạo Ca II.(Vĩnh Gia Đại Sư)

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 6 25 Tháng 7, 2014 3:34 pm

Vĩnh Gia Chứng Ðạo Ca Sa-Môn Huyền Giác soạn

Chánh Văn:24

Giác tức liễu, bất thi công,
Nhất thiết hữu vi pháp bất đồng.
Trụ tướng bố thí sanh thiên phước,
Do như ngưỡng tiễn xạ hư không.


GIẢNG :

Giác tức liễu, bất thi công, nghĩa là mình giác ngộ là xong không cần dụng công gì nữa hết. Câu này nghe hơi khó. Giác ngộ là xong không cần dụng công gì.

Đây tôi thí dụ cho quí vị dễ hiểu. Như mình thấy thân này là thật, thì lúc đó mình giác hay mê? Nếu thấy thân là thật tức là mê.

Tại sao mê? Nó không thật mà tưởng là thật. Quí vị nghĩ thân thật không? Nếu thật thì nó phải còn hoài. Bây giờ chúng ta nhìn từ chặng đường, ông cha chúng ta những người trước giờ còn đủ hết không? Vậy ngày xưa còn gọi là thật, chừng mất đi gọi là sao? Thật hay giả? Nếu thật thì trước thật, sau cũng thật, thật thì còn hoài.

Trước có, bây giờ không, thì thật được không? Đó là nhìn ngược chiều theo dòng lịch sử ông cha mình thì thấy những người đã qua, qua rồi mất, qua rồi mất, từng đợt. Tới mình rồi sao nữa, mình cũng qua rồi mất nữa. Người trước qua rồi mất từng đợt, mình cũng qua rồi mất thì một chuỗi dài đó thật hay giả?


Nếu thật thì chuỗi dài đó còn nguyên, còn chuỗi dài đó qua rồi mất thì làm sao nói thật được.
Đó là nói những lớp trước, lớp kế và lớp sau nhìn lại thì lớp trước không còn. Có mặt rồi mất, có mặt rồi mất, vậy mà chúng ta nói thật. Thật được không? Rồi nhìn lại lớp ngang với mình, những người sống được năm sáu mươi tuổi, nhìn lại lớp ngang của mình coi có mất người nào chưa?


Mất khá nhiều rồi chớ, mất anh mất chị, mất em, mất cháu gì cũng có mất hết, lớn mất, nhỏ cũng có mất. Như vậy người ngang mình họ cũng đã mất. Họ có đồng thời với mình bây giờ họ mất mình còn, họ mất coi như giả dối rồi, mình còn thì thật được không?


Hai món đồ giá trị ngang nhau đang ở kề nhau, cái biết nó giả thì cái này thật được không? Cũng không thật, vậy mà tưởng thật có phải mê không? Quí vị xét thật kỹ thấy chúng ta đang mê muội đáng thương.


Như vậy xét từng chặng đường những người đi trước thì đã qua mất, xét ngay hiện thời của mình người mình đã biết có bao nhiêu người đã mất rồi. Vậy chúng ta còn lại chúng ta thật được à. Ai mất rồi là giả, ai còn là thật được sao? Chỉ thật hơn là nó dài hơn một chút thôi, chớ làm sao nói thật được. Vậy mà chúng ta khi còn thở, còn đi lại được thì nói thật, thật một trăm phần trăm, động tới thì sân si đùng đùng lên, nổi giận nổi nóng lên. Bây giờ quí vị thấy rõ, đang sống mà biết mình giả thì người ta chửi có giận không?


Vậy giác tức liễu, giác ngộ rồi thì mọi việc giải quyết xong hết. Tại vì mê, mê cái giả mà tưởng là thật nên tu hoài trần ai lai khổ, nghĩa là họ động tới thì mình phản ứng rất mạnh là tại vì mình chấp mình thật.


Nếu mình biết mình tạm giả, thì động tới mình cười thôi có ra gì, chuyện đó là chuyện thường. Nhất là động tới danh dự của mình đó, họ chê họ khinh bỉ, có giận không? Tất cả cái mà chúng ta đặt là danh dự của mình, là cái gì nó ở đâu? Chẳng qua là một chuỗi dài của người xưa tạo cho mình một tưởng tượng danh dự của tôi đó.


Danh dự tôi không biết cái gì. Như vậy khi chúng ta lầm mê thân, lầm mê danh dự, lầm mê bản ngã thì không biết bao nhiêu phiền hà, bởi vậy nên tu hết sức là khó. Người ta nói anh đó ngu quá, chạm tới danh dự tôi rồi đó.


Phật có chạm tới danh dự mình không? Phật nói mình si mê, là vô minh thì có chạm danh dự không? Sao mình không giận Phật, mà người khác nói một chút liền nổi giận đùng đùng lên.


Quí vị thấy rõ ràng là chúng ta đang điên đảo, không có một cái nhìn tường tận thấu đáo, gọi đó là mê. Bởi mê cho nên rồi tất cả những cái gì đến với chúng ta, thì chúng ta đều chấp chặt bám giữ nên hết sức khó tu. Bây giờ, mình giác ngộ thân này là giả, thân giả thì tất cả những cái gì quanh nó, bên cạnh nó cũng giả theo thì mọi việc khỏi cần tu nó cũng sạch hết. Giờ quí vị làm cái đó thử coi nó sạch được không?


Ai chửi nói tôi còn giả huống nữa lời chửi. Như vậy thì có nhẫn nhục có gì đâu. Cho nên giác tức liễu bất thi công, nghĩa là giác ngộ là xong, khỏi cần phải công phu gì hết.


Giá trị của người tu Phật là ở chỗ giác ngộ. Chúng ta giác ngộ thì mọi cái khó, khó thắng, khó nhẫn đều dễ như trở tay, không khó chút nào hết. Nếu chúng ta mê thì thật là cái gì cũng khó, khó đủ hết. Thua một lời nói cũng không nhịn, hơn một lời nói thì mừng, cứ như vậy mà khổ hoài, từ khổ này kéo sang khổ khác. Cho nên người biết tu là người phải giác ngộ.


Quí vị nói là đệ tử Phật là đệ tử bậc giác ngộ, mà đệ tử bậc giác ngộ thì không giác được trăm phần trăm, tối thiểu cũng giác được vài chục phần trăm. Thế mà dường như y nguyên. Bởi vậy quí Phật tử nghe huynh đệ mình nói, tu mười năm hai mười năm mà sao phiền não không hết, thì đánh giá người đó tu mà chưa giác ngộ, vì chưa giác ngộ nên phiền não làm gì hết. Chỉ biết tụng kinh gỏ mỏ mà không biết giác ngộ; không biết giác ngộ, không giác ngộ thì xứng đáng đệ tử Phật chưa?


Đó là những cái mà tôi đặt ra cho quí vị thấy cái tu của mình nó nằm ở chỗ nào, khác với người đời ở cái gì. Chúng ta cứ tưởng tượng dụng công nhiều, hoặc xử sự với mọi người bằng cách biết nhẫn, biết nhịn là tu khá rồi. Nhưng nhẫn nhịn mà thấy nó thật thì về nhà cũng buồn lắm, bửa nay nói câu đó ráng nhịn chớ còn trong lòng uất ức chưa yên. Còn mình biết mình là giả, thân này giả thì người nào có chê có khen cũng là đùa chơi chớ không gì hết, thành ra không có gì uất ức, không có gì bực bội trong lòng hết. Đó là trò đùa con nít mà có gì.
Câu này mới nghe thì thấy thường nhưng đi sâu rồi mới thấy giá trị người biết tu. Nếu mình giác là xong không cần phải dụng công gì nhiều hết.


Nhất thiết hữu vi pháp bất đồng.
Trụ tướng bố thí sanh thiên phước,

Hai câu này để đánh thức chúng ta. Nói rằng tất cả pháp hữu vi, hữu vi là đối với vô vi. Tôi giải thích hữu vi cho quí vị hiểu. Trong nhà Phật nói hữu vi là cái gì có đủ bốn tướng sanh, trụ, dị, diệt. Như con người sanh già bệnh chết là pháp hữu vi, quả địa cầu có thành trụ hoại không là thuộc pháp hữu vi. Tất cả sự vật có hình có tướng đều trải qua bốn tướng đó đều là pháp hữu vi, vì có trong tạm bợ rồi mất nên gọi là pháp hữu vi.

Nhất thiết hữu vi pháp bất đồng, là tất cả pháp hữu vi nó không đồng. Không đồng là nó không còn mãi, mà có lớn có nhỏ, có sanh có diệt, một chiều chuyển biến không dừng.

Trụ tướng bố thí sanh thiên phước, nếu người nào trụ tướng bố thí thì được phước sanh cõi trời.
Quí vị chịu không? Thích bố thí đời sau được sanh cõi trời, chắc đa số thích rồi. Đời này làm việc bố thí, đời sau sanh cõi trời tha hồ mà hưởng. Muốn ăn có ăn, muốn mặc có mặc, muốn dùng cái gì thì có cái ấy sẳn sàng hết, không có thiếu, không có cái gì mà không thỏa mãn mình. Như vậy là ai cũng thích sanh cõi trời.


Nhưng ở đây ngài nói mình trụ tướng bố thí, thí dụ đem một triệu đồng giúp người nghèo, người tàn tật… thì khi mình thấy đồng tiền mình quí và mình làm cứu giúp được người kia một phần nào, cái gì đó mình cũng cho là quí. Như vậy đó là mình trụ tướng bố thí. Trụ tướng bố thí thì kết quả làm sao? Mình được phước sanh lên cõi trời, sau muốn cái gì được cái nấy. Như vậy thì thoả mãn được cái nguyện vọng của mình, thụ hưởng phước mình đã tạo.


Do như ngưỡng tiễn xạ hư không.
Ở đây người thí dụ như là mũi tên hay viên đạn bắn lên hư không. Khi bắn thì nó vọt tuốt lên hư không, nhưng khi sức đẩy hết thì rơi tuột xuống không có giữ được.

Bây giờ tôi nói gần, thí dụ như những người ở trên thế gian được địa vị cao, tiền của nhiều, sung sướng muốn gì được nấy, thì những người đó tu được không? Ở địa vị đó thụ hưởng, thụ hưởng hết rồi tuột xuống.


Đó là nói thế gian thôi, huống nữa là cõi trời còn sung sướng hơn nhiều. Nghĩa là muốn ăn ngon thì có cái gì đó đúng sở thích ăn ngon của mình, muốn mặc đẹp thì cái gì đúng sở thích mình mặc vô hài lòng. Rồi cả ngày nghe ca nghe nhạc đủ thứ hết, cái gì vui chơi đều có đủ, mà người ta nói nhạc trời hay hơn nhạc thế gian nữa. Như vậy thì say mê tít mù không có tuột xuống, hưởng cho đả đời còn thời giờ đâu mà tu. Cứ lo hưởng, hưởng hết rồi cái thôi, chừng đó hết phước thì tuột xuống nhân gian trở lại như thường.


Như vậy một thời gian mười ngàn năm, hai chục ngàn năm được sanh cõi trời là thời gian hưởng, hưởng hết rồi tuột xuống, chớ không có tiến được nữa. Cái đó hết rồi sẽ tuột cũng như viên đạn hay mũi tên bắn cao lên, còn sức thì nó còn lên, hết sức rồi nó tuột xuống tận dưới. Như vậy thì quí vị thích lên cõi trời không? Lên hưởng sướng quá mà, lên đó là được hưởng.


Nhưng Đức Phật khuyên chúng ta không nên nguyện sanh lên cõi trời. Tại sao vậy? Bởi vì ở trên đó mấy ngàn năm là mấy ngàn năm thụ hưởng, thụ hưởng hết rồi tuột xuống. Bây giờ tôi hỏi quí vị, hằng ngày chúng ta được ăn cao lương mỹ vị, mặc gấm vóc, được tất cả, cái gì thế gian cho là đẹp mình được hưởng hết, mà hưởng hết rồi tới chết.

Hưởng cho đủ rồi chết thì quí vị nghĩ làm sao? Hạnh phúc chưa? Có người họ thiếu thốn quá họ tưởng được hưởng như vậy là hạnh phúc.


Với cái nhìn của đức Phật thì hưởng đó là tạm bợ cho thể xác tạm bợ, không có cái gì quan trọng, không có gì lâu dài. Chúng ta cứ muốn hưởng cái tạm bợ đó, khi thân tạm bợ này rả tan thì bao nhiêu cái hưởng thành cái gì?

Ăn ngon, mặc đẹp cái gì cũng sang trọng hết, nhưng khi tắt thở vài tiếng đồng hồ còn sang trọng không? Nó chỉ là cái giả tạm, mà mình thích giả tạm đó là mình hưởng hết rồi nó cũng trở lùi cái xấu xa, cái tệ hại chớ không gì hết. Lên cõi trời cũng vậy, lên đó hưởng cho đả rồi hết tuột xuống, như vậy mất mấy ngàn năm không làm gì hết, ăn ngủ không. Mấy ngàn năm ăn ngủ không có nghĩa lý gì hết, rồi cũng tuột xuống như thường.


Chi bằng ở cõi trần gian này có khi thì khổ, có khi vui. Gặp vui thì mình hơi say sưa quên, gặp lúc khổ thức tỉnh à đời này khổ quá ráng tu. Vì mình có chứng kiến, có nhận ra được cái đau khổ đó rồi, nên không quyến luyến cõi đời nữa, mà cố gắng tu. Như vậy trong mấy chục năm, chúng ta sống ở đây, có vui có khổ lẫn lộn rồi chúng ta dễ tỉnh. Từ dễ tỉnh đó chúng ta có thời gian tiến tu. Vậy thời gian ở đây ngắn mà chúng ta còn tìm cách vươn lên được, còn thời gian cõi trời rất dài mà thụ hưởng rốt rồi tuột xuống như không, mất hết trơn công phu của mình uổng không.

Vì vậy Phật không muốn chúng ta tu cầu sanh cõi trời, mà muốn chúng ta tu cầu giác ngộ giải thoát sanh tử mới là quan trọng.

Đây dùng thí dụ để hiểu rằng mình có bao nhiêu phước được hưởng, được say sưa trong đó nhưng rốt cuộc cũng tuột xuống thành hai bàn tay không, không có gì. Còn chúng ta ở đây mà sớm tỉnh, thì chúng ta sẽ có phước để vươn lên. Bởi vậy câu sau ngài nói:...

***************************************************
HT. Thích Thanh Từ giảng
http://tvsungphuc.net/?option=com_content&task=view&id=728
Hình ảnh
*****************************************

(Còn tiếp...)

**************
[/quote]
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland


Quay về Chuyên đề Thiền Tông

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến2 khách

cron