Diễn đàn Tu viện Phật giáo Việt nam


Chứng Đạo Ca I.(Vĩnh Gia Đại Sư)

Thảo luận về kinh điển Thiền.

Các điều hành viên: Sen Hong, Bất Nhị

Chứng Đạo Ca I.(Vĩnh Gia Đại Sư)

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 6 30 Tháng 5, 2014 6:09 pm

Vĩnh Gia Chứng Ðạo Ca Sa-Môn Huyền Giác soạn

Chánh Văn

TIỂU SỬ THIỀN SƯ HUYỀN GIÁC

Thiền sư Vĩnh Gia Huyền Giác
là con nhà họ Đới ở châu Ôn. Thuở nhỏ học tập kinh luận và chuyên ròng về phép chỉ quán của phái Thiên Thai. Kế do xem kinh Duy Ma Cật mà tâm địa phát sáng.

Tình cờ có học trò của sư Huệ Năng là thầy Huyền Sách hỏi thăm tìm đến. Hai người trò chuyện hăng say, Sách nghe Giác nói lời nào cũng thầm hiệp với ý chư Tổ, bèn hỏi rằng: “Nhân giả được pháp với thầy nào?”.

Giác đáp: “Tôi nghe kinh luận Phương đẳng mỗi mỗi đều có thầy truyền dạy. Sau do kinh Duy Ma mà ngộ được tâm Phật, nhưng chưa có người chứng minh cho”.

Sách nói: “Từ thời Phật Oai Âm Vương trở về trước thì được, nhưng từ thời Phật Oai Âm Vương trở về sau không thầy mà tự ngộ thì toàn thuộc phái ngoại đạo thiên nhiên”.
****
Giác nói: “Xin nhân giả chứng dùm tôi”.
Sách nói: “Lời tôi thiếu sót lắm nay tại Tào Khê có Đại sư Huệ Năng, bốn phương người đổ dồn về đó mà thọ pháp với Ngài. Nếu ông muốn chúng ta cùng đến đó”.
****
Giác bèn theo Sách đến viếng Tổ sư. Giác đi quanh Sư ba vòng xong chống tích trượng đứng. Sư nói: “Phàm là Sa môn phải đủ ba ngàn oai nghi tám muôn tế hạnh. Đại đức từ đâu đến mà lớn lối ngạo mạn vậy?”.

Giác đáp: “Sanh tử là việc lớn, vô thường mau chóng”.

Sư nói: “Vậy sao chẳng thể nhận cái lý vô sanh, thấu rõ cái nghĩa không chóng sao”.

Giác đáp: “Thể tức vô sanh, thấu vốn không chóng”.

Sư nói: “Đúng vậy, đúng vậy”.

Huyền Giác bèn dùng hết oai nghi mà vái lạy, giây lát xin cáo về.

Sư bảo: “Về chóng thế?”.

Giác đáp: “Vốn mình chẳng phải động, há có mau chóng sao”.

Sư hỏi: “Ai biết chẳng phải động?”.

Giác đáp: “Đúng là tại nhân giả sanh tâm phân biệt”.

Sư nói: “Ông thực đã thấu cái ý vô sanh”.

Giác hỏi: “Vô sanh há có ý sao?”.

Sư vặn lại: “Không ý thì ai phân biệt đây”.

Giác đáp: “Phân biệt cũng chẳng phải là ý”.

Sư nói: “Tốt lắm hãy nán lại một đêm”.

Nhân đó người ta gọi là một đêm giác ngộ, nói theo chử Hán là “Nhất túc giác”. Sau này Huyền Giác có soạn bài “Chứng đạo ca” được truyền tụng trong đời. Người sau truy tặng Ngài là Đại sư Vô Tướng, đương thời tôn Ngài hiệu là Chân Giác.
*****
***
**
Giảng:

Đại cương câu chuyện như vậy để cho quí vị thấy. Nhưng trọng tâm ở đây tôi biết đọc qua quí vị khó hiểu về sự đối đáp giữa Lục Tổ Huệ Năng và Thiền sư Huyền Giác. Đây tôi thứ tự để chỉ cho quí vị thấy cái thâm sâu của Ngài.

Huyền Giác đi tới chỗ Lục Tổ không chào hỏi gì hết, đi quanh ba vòng chống tích trượng xuống đứng sửng đó.
Khi đó Lục Tổ mới bảo: “Phàm là Sa môn phải đủ ba ngàn oai nghi tám muôn tế hạnh, Đại đức từ đâu đến mà lớn lối, ngạo mạn vậy?”. Bị quở.


Ngài đáp rằng: “Sanh tử là việc lớn, vô thường mau chóng”. Đáp có lạc đề không? Nghĩa là chúng ta đi học đạo là vì giải thoát sanh tử, mà sanh tử đã chực sẳn bên mình, không biết ngày nào nó sẽ đến, thì còn rảnh rổi đâu mà oai nghi tế hạnh. Vì vậy mà cần phải nói cái gì, tìm cái gì thẳng đó để thấy để biết, chớ không có cần cái oai nghi tế hạnh đó.


Khi Huyền Giác đáp vậy, Tổ Huệ Năng nói: “Vậy sao chẳng thể nhận cái lý vô sanh, thấu rõ cái nghĩa không chóng sao”. Như vậy thì ngay đó ông phải nhận ra lý vô sanh, thấu suốt được cái nghĩa thì nó chẳng chóng hơn không.


Ngài Huyền Giác đáp: “Thể tức vô sanh, thấu vốn không chóng”. Thể là bản thể vốn là vô sanh, còn mình thấu hiểu mà thấu hiểu cũng không có cái gì gọi là nhanh, là chậm hết.


Tổ Huệ Năng đáp: “Đúng vậy, đúng vậy”. Tức là thấy được rồi đó, chỗ ông nhìn, chỗ ông hiểu là đúng.

Huyền Giác bèn dùng hết oai nghi mà vái lạy, giây lát xin cáo về. Đủ rồi. Chỉ hỏi một câu mà được thừa nhận là đúng là mãn nguyện rồi, không cần phải hỏi nhiều, nên Ngài từ giả về.


Khi từ giả về Lục Tổ cũng e chưa biết thấu tột cùng, cho nên Tổ mới hỏi: “Về chóng thế sao?”.
Huyền Giác đáp: “Vốn mình chẳng phải động, há có mau chóng sao”. Cái đó nó không động không tịnh nói gì chóng, cái gì chày


Tổ hỏi: “Ai biết chẳng phải động?”. Cái gì biết chẳng động. Như vậy nếu mình biết cái đó là cái chẳng động thì cái gì biết đó là chẳng động? Quí vị thấy những câu này nghe như là khó hiểu nhưng đó là sự thực, thí dụ tôi thấy cái đồng hồ tôi biết đồng hồ trắng hay là đen. Như vậy tôi biết đồng hồ trắng đen thì cái trắng đen tôi biết ở đồng hồ đó là có tôi và có đồng hồ. Phải không?

Bởi vậy nên Lục Tổ mới hỏi: “Ai biết chẳng phải động?”. Câu hỏi đó nếu có người biết chẳng động đó thì tức có hai rồi, tức là gài cho Ngài Huyền Giác mắc kẹt.


Huyền Giác đáp: “Đúng là tại nhân giả sanh tâm phân biệt”. Tại Tổ phân biệt chớ còn tôi nói vậy là vậy thôi chớ không có cái hay biết, cái bị biết gì hết. Ngài trách lại Lục Tổ.


Lục Tổ nói: “Ông thực đã thấu cái ý vô sanh”. Như vậy thì ông thấu suốt được cái ý vô sanh rồi.

Huyền Giác hỏi: “Vô sanh há có ý sao?”. Tổ nói thấu ý vô sanh, bây giờ Ngài hỏi lại vô sanh há có ý sao? Đây mấy câu này là mấy câu rất là tinh vi, nó quá là vi tế thường mình không biết. “Vô sanh có ý sao?”

Lục Tổ bảo: “Không ý thì ai phân biệt đây”. Nếu không có ý thì ai phân biệt đây?

Huyền Giác đáp: “Phân biệt cũng chẳng phải ý”. Cái câu đó là câu thấu triệt: phân biệt mà chẳng phải ý.

Lâu nay chúng ta quen suy nghĩ tính toán gọi đó là phân biệt, thì suy nghĩ tính toán đó là ý. Còn cái này phân biệt mà không phải ý là sao? Thí dụ con mắt tôi nhìn cái bình hoa. Hoa hồng thấy đỏ, hoa khác thì thấy trắng, thấy xanh, thấy vàng, thấy gì đó đủ thứ thấy. Nếu có thấy đỏ, thấy trắng thì có phân biệt không? Có phân biệt rõ ràng mới biết đây là đỏ, đây là trắng. Nhưng phân biệt đó phải ý không?
Mắt thấy thì tự biết đỏ, biết trắng, đâu đợi suy nghĩ mới biết đỏ biết trắng. Như vậy phân biệt mà không phải ý, đó là cái chỗ rất là thâm sâu.

Còn chúng ta bây giờ nói phân biệt là nói chuyện suy tính hơn thua, phải quấy, tốt xấu thì cái đó là thuộc về ý. Còn tai nghe tiếng chuông, tiếng mõ, nghe tiếng chuông biết tiếng chuông, nghe tiếng mõ biết tiếng mõ là phân biệt, cái đó phải ý không? Cái đó không phải ý. Cho nên cái chữ “phân biệt cũng chẳng phải ý” là cái thấy của Ngài Huyền Giác rất là tột.


Cho nên Tổ nói: “Tốt lắm hãy nán lại một đêm”. Như vậy là ông tốt rồi thôi hãy ở lại một đêm, nên người đời sau nói ông là “Nhất túc giác” tức ở một đêm mà được giác ngộ.

Còn mình bây giờ tu bao lâu mới giác ngộ? Tu mười năm, hai mươi năm mà chưa giác ngộ, còn Ngài tới nói đạo một giờ, nữa giờ rồi ở lại một đêm liền được giác ngộ thì đó là chỗ rất là kỳ đặc của Ngài.

Như vậy coi như Lục Tổ đã ấn chứng cho Ngài là người thấu triệt được cái lý Thiền. Vì vậy mà sau này Ngài đã làm ra những quyển sách nói về Thiền rất là thấu triệt mặc dầu Ngài ở chỗ Lục Tổ một đêm thôi, mà bài “Chứng đạo ca” này tất cả quí vị tu thiền ở Nhật Bản ai cũng thuộc hết.

Chỉ có Việt Nam, mấy Thiền sư Việt Nam ở Thiền viện mà không thuộc gì hết. Có không? Đó là cái hổ thẹn của mình đó, chớ bên kia người ta thuộc hết.

Bây giờ trong bài “Chứng đạo ca” tôi sẽ đi từng phần, tôi đọc bản chữ Hán giảng cho quí vị nghe để cho thấy âm vận và ý nghĩa sâu xa của bài này.

Trước hết “Chứng đạo ca” là bài ca chứng đạo. Mà ngài chứng đạo Ngài ca, còn chúng ta chưa gì hết cho nên lời ca của Ngài mình không biết gì hết. Giảng lắm mà không biết biết được bao nhiêu, chớ còn thực ra chúng ta khó mà biết được.
********************
HT. Thích Thanh Từ giảng
http://tvsungphuc.net/?option=com_content&task=view&id=723
Hình ảnh
*****************************************


Đây tôi đọc:... (Còn tiếp...)

**************
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Chứng Đạo Ca (Vĩnh Gia Đại Sư)

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 7 31 Tháng 5, 2014 12:38 pm

Vĩnh Gia Chứng Ðạo Ca Sa-Môn Huyền Giác soạn

Chánh Văn

Anh thấy chăng:

Dứt học, vô vi. Ấy Đạo Nhân,
Không trừ vọng tưởng chẳng cầu chân
Tánh thực vô minh tức Phật tánh
Thân không ảo hóa tức pháp thân


Giảng:

Bài ca đó bốn câu.

Tuyệt học vô vi nhàn đạo nhân
.
Tuyệt học là dứt sự học.
Vô vi là đối với hữu vi. Nhà Phật nói hữu vi là pháp nào có sanh trụ dị diệt hay nói đơn giản là sanh trụ diệt thì pháp đó là hữu vi.

Còn cái nào không có sanh trụ diệt đó gọi là vô vi. Tuyệt học vô vi nhàn đạo nhân là dứt sự học và không còn sanh diệt là đạo nhân nhàn.


Nhưng chữ đạo nhân quí vị có biết chưa?
Đạo nhân là người sao?

Thường thường thấy ai tu cũng nói đạo nhân hết chớ gì. Nhưng không phải. Tôi nhớ hồi xưa học nhưng lâu rồi tôi không nhớ kỹ lắm, trong kinh Tứ thập nhị chương nói về ý nghĩa cúng dường, trong đó Phật dạy rằng:

“Cúng dường một trăm người ác tức đem đồ giúp đở một trăm người ác không bằng cúng dường một người thiện.
Cúng dường một trăm người thiện không bằng cúng dường một người tu giữ giới tức xuất gia giữ giới. Cúng dường một ngàn người xuất gia giữ giới không bằng cúng dường một vị A la hán.
Cúng dường một ngàn vị A la hán không bằng cúng dường một đạo nhân vô tâm”.

Như vậy đặt câu hỏi đạo nhân vô tâm là người nào? Đây đạo nhân là để chỉ cho người mà đã sống được cái chân thật của chính mình, không còn bị những cái gì bên ngoài nó che đậy, không còn bị những cái gì bên ngoài nó lừa bịp nữa, sống mãi với cái chân thật của mình cho nên gọi là đạo nhân vô tâm.


Vô tâm là không có cái tâm sanh diệt, chớ không phải là vô tâm không, không có tâm, không có cái biết. Không có cái sanh diệt gọi là đạo nhân vô tâm.

Như vậy thì đạo nhân vô tâm là ai? Là Phật sống mất rồi, cho nên A la hán không bằng Phật. Mà nói đạo nhân cái mình tưởng đạo nhân đó là ông nào lạ lùng.

Như vậy thì ở đây chỉ một câu thôi, Tuyệt học vô vi nhàn đạo nhân tức là người không còn học, hai chữ không còn học này quí vị cũng nên hiểu cho rõ.
Trong nhà Phật nói rằng chúng ta tu muốn có trí tuệ thì mới vào tu thì phải học Văn, Tư, Tu.
Trước là phải nghe tức là học là Văn. Rồi phải suy gẩm cái lời mình học ở thầy đó đúng hay sai, nó chân lý hay chưa, đó là Tư.

Rồi khi thấy đúng chân lý mình ứng dụng mình Tu. Ba trường hợp đó gọi là Văn Tư, Tu, ai mới vào đạo cũng phải như vậy hết.

Học ba phần đó Văn, Tư, Tu là trí huệ, nhưng mà trí huệ đó là trí huệ hữu lậu tức trí huệ còn trong sanh tử.
Muốn được trí huệ ra ngoài thoát khỏi sanh tử thì phải Giới, Định, Tuệ. Phải giữ giới cho trong sạch, giới trong sạch rồi tu được tâm an định, tâm an định rồi trí tuệ phát sáng thì cái đó mới là giải thoát sanh tử.


Như vậy tuyệt học là qua khỏi cái học gọi là văn tư tu rồi, không còn học nữa, mà chỉ định tâm để sáng lên thì đó là trí tuệ giải thoát sanh tử. Vì vậy ba phần đó, giới định tuệ gọi là giải thoát vô lậu.

Vậy thì đây nói tuyệt học tức là không còn học trong cái sanh diệt mà chỉ sống với cái bất sanh bất diệt. Bởi vậy nên khi trí tuệ từ cái tâm yên định sáng lên rồi thì trí tuệ đó không còn sanh diệt nữa nên gọi là vô vi, vô vi tức là không còn bị sanh diệt, thì đó là vị đạo nhân nhàn. Đạo nhân nhàn là như vậy.

Quí vị nghĩ bây giờ kiếm vị đạo nhân vậy có không? Chắc khó kiếm lắm. Bây giờ vị đạo nhân nhàn đó nhìn tất cả sự vật như thế nào?


Bất trừ vọng tưởng bất cầu chân.

Người đạo nhân đó thấy tu không cần trừ vọng tưởng, không cầu chân. Tại sao?

Bởi tâm Ngài không còn niệm sanh diệt nữa, mà không còn niệm sanh diệt nên Ngài thấy rằng cái chân và cái vọng đối đải nó không còn ở trong tâm các Ngài, mà không còn tâm sanh diệt đó thì trừ cái gì, cầu cái gì.


Vô minh thực tánh tức Phật tánh.

Tánh thật của vô minh là tánh Phật. Quí vị có vô minh không? Ai cũng có hết, mà có vô minh là có tánh Phật rồi.
Như vậy thì quí vị không có hổ thẹn rằng chúng ta là người si mê không, vì trong si mê nó có tánh Phật. Làm sao biết?

Tôi thí dụ như ở dưới biển sóng nổi dậy đùng đùng, mà sóng nổi dậy đùng đùng đó có rời mặt biển không?

Tuy sóng dậy ầm ầm thấy nguy hiểm nhưng mà thật ra sóng đó nó không rời mặt biển. Khi hết gió sóng lặng thì chỉ còn là mặt biển.

Cũng vậy tâm lăng xăng lộn xộn của mình nó dấy động đó gọi là vô minh. Khi nó lặng hết không còn dấy động nữa thì đó là trở về Phật tánh.


Giờ quí vị muốn thấy Phật tánh không?

Chịu khó buông hết cái tâm lăng xăng đó đi. Đừng có tâm nghĩ hơn nghĩ thua, nghĩ phải nghĩ quấy, ngồi buông sạch hết thì đó là trở về tánh Phật của mình.

Cho nên quí thầy lên ngồi thiền nhìn xuống để buông xả hết những cái tâm lăng xăng, đó là trở về với tánh Phật, chớ không phải cầu Phật cho mình thành Phật, mà trở về tánh Phật sẳn của mình.

Vì vậy mà ở Thiền viện mới hướng dẫn Phật tử ngồi thiền đó, mà ngồi thiền thì kỵ cái gì?

Không cho vọng tưởng, buông xả vọng tưởng. Mà buông xả vọng tưởng thì tánh Phật mình từ từ hiển lộ, chớ không tìm kiếm ở đâu. Vì vậy mà nói vô minh thực tánh là tánh thật của vô minh là tánh Phật, chớ không có gì lạ


Ảo hóa không thân tức pháp thân.

Cái thân chúng ta sanh ra năm bảy chục năm nó hoại, thân này đối với đạo thấy là thân tạm bợ, giả dối. Ngay thân tạm bợ, giả dối này nó có cái pháp thân sẳn.

Pháp thân là cái thân không có sanh, không có diệt. Trong nhà Phật thường chia ra ba thân:
Pháp thân, Báo thân, Hóa thân.

Pháp thân chỉ cho cái thân không sanh không diệt.
Báo thân là thân do quả báo mà được, tu hành nhiều tốt thì được báo thân tốt; hay làm tội nghiệp nhiều thì sanh ra thân xấu xí; đó là thân quả báo.
Hóa thân là thân đối với Phật là thân Ngài ứng hóa để độ chúng sanh.


Như vậy thì Pháp thân của Phật có, chúng ta cũng có.

Ngay cái thân huyễn hóa của chúng ta đây đã có cái Pháp thân rồi, chớ không có tìm kiếm ở đâu hết. Vậy thì người Phật tử tu sống trở về với tánh Phật là chúng ta ngay nơi tâm vô minh lặng thì tánh Phật hiện, ngay cái thân ảo hóa này thấy rõ trong đó có cái thân bất sanh bất diệt là Pháp thân, chớ không phải riêng Đức Phật có mà chúng ta không.

Chúng ta cũng có như Ngài nhưng vì chúng ta mê lầm nên rồi chúng ta đuổi theo cái thân tạm bợ, rồi từ cái thân tạm bợ chúng ta cứ say sưa với nó cho tới ngày nó bại hoại rồi chừng đó chúng ta khổ sở.


Bây giờ tất cả quí vị có người nào thấy thân mình không thật không?
Trong đây có ai thấy thân không thật không?

Chắc thật trăm phần trăm. Thấy thân này thật thì làm sao biết có Pháp thân.

Khi biết thân này là tạm bợ, là hư giả thì mới nhận được cái Pháp thân trong đó.

Còn thấy nó thật thì cứ cả ngày say sưa lo cho nó, lo cho cuối cùng rồi nó rả nát.

Khi nó rả nát nó còn thật không? Đó là cái nhìn của mình mê, chúng ta chỉ biết cái thân hiện có là thật. Nhưng không ngờ thân hiện có ngày nay nó còn, ngày mai nó hoại hoặc ngày nay nó hoạt động được ngày kia thì nó không còn hoạt động. Như vậy thì nó làm sao mà thật được.


Cho nên dưới con mắt Phật thấy nó là giả dối, là tạm bợ không thật. Không thật thì mình không có lệ thuộc nó, mình không có chìu theo cái đòi hỏi của nó, do đó nên mình tự do, tự chủ.

Từ tự do, tự chủ đó từ từ chúng ta thấy được cái thân thật là Pháp thân bất sanh bất diệt. Đây là cái nhìn của vị đạo nhân.


Đạo nhân nhìn thấy tu các Ngài không cần phải trừ vọng tưởng, phải cầu chân thật. Vì đối với các Ngài không có vọng tưởng ngoài chân thật, cho nên rồi không có bỏ cái này tìm cái kia. Rồi thấy rõ vô minh là tánh Phật của mình, cuối cùng của vô minh đó là tánh Phật. Ngay thân ảo hóa này nó đã có sẳn Pháp thân. Như vậy cái nhìn của người đạt đạo thấy rõ ngay nơi mình đủ cả Phật tánh, đủ cả Pháp thân, chớ không có phải tìm cầu đâu hết. Không phải tu mười năm, hai mươi năm mới có mấy cái đó, mà nó đang sẳn đủ, rất tiếc là chúng ta quên.
***************************************************
HT. Thích Thanh Từ giảng
http://tvsungphuc.net/?option=com_content&task=view&id=723
Hình ảnh
*****************************************

[i]Quân bất kiến,
[/i]
Tuyệt học vô vi nhàn đạo nhân?
Bất trừ vọng tưởng bất cầu chân.
Vô minh thực tánh tức Phật tánh,
Ảo hóa không thân tức pháp thân.


(Còn tiếp...)

**************
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Chứng Đạo Ca (Vĩnh Gia Đại Sư)

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 2 02 Tháng 6, 2014 12:06 pm

Vĩnh Gia Chứng Ðạo Ca Sa-Môn Huyền Giác soạn

Chánh Văn:

Pháp thân giác rồi không một vật
Vốn nguồn tự tánh thiên chân Phật
Năm ấm: Ảo hư mây qua lại
Ba độc: Huyễn hoặc bọt còn mất

Giảng

Pháp thân giác liễu vô nhất vật,

Ngài nói rằng pháp thân mà giác ngộ rồi thì nó không một vật. Câu này có đúng với chỗ Lục Tổ ngộ chưa? Lục Tổ Ngài thấy bài kệ Ngài trình đó:

Bản lai vô nhất vật,
Hà xứ nhạ trần ai.

Cái đó xưa nay không một vật thì chỗ nào dính bụi bậm. Đây nếu chúng ta thấu suốt hiểu rõ được pháp thân rồi, thì mới biết pháp thân đó nó không có một vật.
Như vậy thì câu Lục Tổ nói “Bản lai vô nhất vật”, Ngũ Tổ đọc tới câu đó thì đã biết được người này thấy được cái gì.


Bổn nguyên tự tánh thiên chân Phật.

“Bổn” là gốc, “nguyên” là nguồn. Bổn nguyên là nguồn gốc. Hai chữ bổn nguyên là cái chung, một từ chung. Cái nguồn gốc chân thật của mình.

“Tự tánh” là cái tánh của mình,
“thiên chân Phật” là Đức Phật. Chữ thiên này không phải là trời, mà chữ thiên là cái sẳn có Đức Phật chân thật.

Như vậy thì chúng ta sẳn có cái nguồn gốc chân thật, chúng ta sẳn có tánh thanh tịnh chân thật, chúng ta sẳn có ông Phật chân thật. Vậy nhận được pháp thân rồi thì mới thấy mình có đủ bổn nguyên tự tánh thiên chân Phật không thiếu gì hết.

Ngũ ấm phù vân không khứ lai,

“ngũ ấm” là chỉ thân năm ấm của mình. Năm ấm là sắc ấm, thọ ấm, tưởng ấm, hành ấm, thức ấm.
Thân này do năm cái đó che đậy gọi là thân năm ấm.
Thân này giống như là mây nổi bay qua bay lại vậy thôi. Con mắt người giác ngộ thấy thân này như mây nổi, còn chúng ta thấy thân này như cái gì? Như những khối đá chắc thật đập không bể.

Khi thấy được bổn nguyên tự tánh thiên chân Phật rồi thì thân ngủ ấm này giống như mây nổi, hợp đó tan đó, tụ đó rồi mất đó, chớ không có thật.

Từ thấy nó không thật rồi thì sao? Thì chúng ta mới không vướng mắc, không có giành với nhau từ cái ăn cái mặc, không có so kè những cái gì mình thua người, người hơn mình..v.v…


Tam độc thủy bào hư xuất một.

Tam độc là tham, sân, si. Ba cái này cũng như là bọt nước, nó vừa tụ đó thì tan đó, vừa nổi đó liền bể nát đó, dập nát đó, nó không có thật.
Quí vị thấy tham, sân, si của quí vị thật không? Ai cũng thấy sợ tham, sân, si vì nó tạo ra bao nhiêu thứ nghiệp ác cho mình. Nhưng với con mắt người tỉnh ngộ rồi thấy tham, sân, si không có thật, giống như là cái bong bóng nước vậy, nổi rồi mất, nổi rồi mất.

Bây giờ tôi thí dụ để cho quí vị cảm thấy đúng hay sai?
Như có người làm gì đó chọc tức mình. Lúc đó mình nổi giận đỏ mặt lên, định làm cái gì đó cho đả giận. Khi mình nổi giận thì người ta vổ tay cười, đó lầm rồi thì lúc đó sao? Cái giận đó nó chìm hay nó còn?

Thấy người ta gạt, người ta thử mình. Chừng đó xấu hổ cái giận nó lặng mất. Như vậy thì nó thật không? Nếu thật nó nổi lên tức phải còn. Nhưng mà nó thấy cái gì đó biết mình lầm, người ta gạt mình thử mình, chừng đó mắc cở cái mất tiêu. Đó là thí dụ cái nóng là sân.


Giờ cái tham. Tham quí vị nghĩ nó thật không? Ai cũng nghĩ tham lam là cái thật của con người, nhưng thật ra cái tham nó cũng không thật. Tại sao nó không thật? Bởi vì nó không phải là cái cố định có hình, có tướng không có bị người ta làm cho nó tan nát được thì nó mới thật.

Cái tham này nó không phải vậy. Thí dụ thấy người ta để cái bóp hay cái gì đó, cái không thấy chủ nhà, thì mình hơi dấy cái niệm tham. Mình mở coi. Vừa mới mở thì chủ nhà thấy người ta la ủa cái bóp của tôi bỏ quên, thì lúc đó làm sao, còn không? Cái tham mất tiêu hà. Hồi chưa thấy chủ thì dấy niệm tham.


Nhưng chủ người ta nói của tôi đến lượm lại thì cái tham mất đâu còn nữa. Chớ nếu để mở ra thấy có của quí thì lúc đó cái tham nó đuổi, nó khiến cho mình phải lấy, phải tìm cách dấu diếm..v.v… Còn khi người ta nói cái đó tôi bỏ quên, người ta lại lấy lúc đó cái tham hết trơn. Có tan chưa?

Như vậy cái tham, cái sân nó cũng tạm bợ chớ có thật đâu, nếu thật thì nó còn hoài. Nó dấy lên cái lở cơ hội thì nó mất tiêu, thì đó như bọt nước, bong bóng nước, nó đâu có gì thật. Tham sân không thật thì si cũng không thật.


Nếu người giác ngộ rồi thấy thân năm ấm như mây nổi, tụ tán qua lại, không có gì cố định, không có gì là chân thật. Rồi thấy ba cái xấu là tham sân si của mình cũng như bong bóng, như bọt nước, có gì đâu quan trọng.


Thấy như vậy thì tự nhiên chúng ta hết sợ, hết sợ thì nó không hoành hành được. Còn mình bây giờ hơi sợ, sợ tôi nóng quá kềm không nổi. Nhưng sự thật ra tại mình tưởng nó thật nên kềm không nổi, chớ thấy nó hư giả thì có gì mà không kềm được. Hiểu như vậy thì chúng ta mới thấy những câu này hết sức là chí lý chớ không phải là chuyện nói để an ủi mình.


Thân năm ấm là không thật. Quí vị thấy có khi người ta đang đi ngồi trên xe máy chạy mà lở đụng nhau cái ầm thì ngũ ấm này còn không? Thì như phù vân vậy, như mây nổi vậy, đang tụ đó rồi nó tan liền có gì thật đâu. Rồi cả tam độc cũng không thật. Vậy mà mình cứ ngở mình thật, tới chừng cái tướng không thật nó hiện ra thì mình hoảng hốt lên.


Như vậy thì đây là cái nhìn của đạo nhân. Cái nhìn của đạo nhân nhìn thấy rõ vọng tưởng và chân thật nó không có hai, vô minh và Phật tánh nó cũng không có hai, thân ảo hóa và pháp thân nó cũng không có hai.

Khi giác ngộ được như vậy rồi thì thấy rõ nơi mình có sẳn cái bổn nguyên, tự tánh và thiên chân Phật của mình.

Từ đó mình mới biết rằng thân năm ấm này như mây nổi, tam độc chỉ là bong bóng hay là bọt nước thôi chớ không có gì thật hết.
***************************************************
HT. Thích Thanh Từ giảng
http://tvsungphuc.net/?option=com_content&task=view&id=723
Hình ảnh
*****************************************

(Còn tiếp...)

**************
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Chứng Đạo Ca (Vĩnh Gia Đại Sư)

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 4 04 Tháng 6, 2014 1:31 pm

Vĩnh Gia Chứng Ðạo Ca Sa-Môn Huyền Giác soạn

Chánh Văn:

Chứng thật tướng, không nhân pháp.
Sát na diệt hết nghiệp A Tỳ.
Bằng đem lời vọng dối chúng sanh,
Tội rút lưỡi nguyện mang cùng kiếp



Giảng Chứng thực tướng, vô nhân pháp. Người mà chứng được tướng thật đó rồi tức cái tâm chân thật thì người đó không còn phân biệt đây là người kia là pháp. Pháp là cảnh, người và cảnh không có hai.


Sát na diệt khước a tì nghiệp tức là trong một chốc, trong một khảy móng tay mình tiêu diệt hết nghiệp a tì. Nghiệp a tì là nghiệp trong địa ngục đó.

Như vậy người đạt được thật tướng đó rồi thì không còn thấy có mình là thật, các vật là thật. Bởi không thấy thật cho nên bao nhiêu thứ nghiệp để mà đọa trong địa ngục mình liền tiêu diệt một cách nhẹ nhàng trong một khảy móng tay chớ không có lâu, không có xa. Như vậy thì lời nói đó có thật hay không? Ngài dám nói:


Nhược tương vọng ngữ cuống chúng sanh,
Tự chiêu bạt thiệt trần sa kiếp.

Nếu mà tôi đem lời dối trá để lừa gạt chúng sanh thì tôi tự chịu cái nghiệp đọa địa ngục, bị cái cày nó cày trên lưỡi nhiều như số kiếp cát bụi.

Ngài nói rằng người thấy được tướng thật rồi, không còn bị cái nhân và cái pháp tức người và cảnh nó chi phối nữa, thì chỉ trong một khảy móng tay cái nghiệp địa ngục nó tiêu tan. Ngài dám nói rằng nếu tôi nói đây là nói dối nói gạt quí vị thì tôi sẽ chịu đọa địa ngục, mà địa ngục hành bằng cách kéo lưỡi ra rồi cày về tội nói dối.

Như vậy thì Ngài nghĩ chúng ta mê muội nên lời nói thật chúng ta không tin. Nói rằng nếu mình nhận chân được thật tướng rồi, mình không còn thấy cảnh thấy người thật thì mình qua hết tất cả những nghiệp địa ngục chỉ trong khoảng khảy móng tay hay nói cách khác tất cả những tội chướng mình tiêu tan hết. Bởi vậy quí vị nghe trong kinh nhất là những buổi sám hối quí thầy, quí cô hay tụng câu:

Tội tánh bổn không vô tâm tạo,
Tâm nhược diệt thời tội diệt vong.
Tội vong, tâm diệt lưỡng câu không,
Thị tắc danh vi chơn sám hối.

Tội tánh vốn là không. Cái tánh tội vốn là không. Từ đâu mà có? Do tâm mình tạo ra. Tâm mê muội tạo thành tội lỗi. Nếu tâm hết mê muội rồi thì tội lỗi không còn.

Như vậy khi chứng được thật tướng mình còn mê muội không? Hết mê muội, cho nên lúc đó không còn thấy người thấy cảnh là thật nữa. Người không thật, cảnh không thật thì bao nhiêu nghiệp từ vô số kiếp mình đều diệt hết. Đó tội tánh bổn không, mình thấy được cái thật rồi thì tánh tội không còn. Từ tội không còn cho nên bao nhiêu nghiệp mình tạo mình đều dứt sạch. Lời nói đó e rằng Phật tử chưa tin, Ngài thề rằng tôi nói những lời này mà dối trá quí vị thì xin chịu đọa địa ngục bạt thiệt, gan như vậy, quyết định như vậy.


Vậy để thấy rằng khi chứng đạo rồi thì cái chân thật nó hiện tiền, mà thấy được cái chân thật rồi mới biết tất cả những cái giả dối nó không có thật. Mà không thật thì một khi mình mê thì tạo nghiệp bị luân hồi, bị khổ đau. Nếu mình tỉnh rồi thì các nghiệp theo đó mà nó tan biến chớ không có còn.

Tại sao vậy? Quí vị nghĩ làm sao?

Tôi nói thí dụ chúng ta làm việc mê mệt tối ngủ say, khi ngủ say thấy mộng dữ mộng ác nào là bị người ta rượt người ta đánh, nào là bị người ta chửi bới..v.v… Như vậy trong mộng mình đang thấy bị rượt, bị đánh, bị chửi bới khổ sở đó, rồi chừng nào mới hết? Chỉ cần giựt mình thức dậy thì hết trơn. Giựt mình thức dậy thì tất cả cảnh khổ nó không còn nữa. Giựt mình thức dậy thì cái mê mộng khổ sở không còn.


Cũng như vậy chúng ta chứng thật tướng tức là ngộ được thấy được tướng chân thật của mình thì tất cả vòng luân hồi huyễn hóa này theo đó nó tan hết, tan biến không còn.


Giống cũng như là đang say trong mộng đó là mê, say trong mộng thì cảnh dữ mình không biết chạy đi đâu, không ai cứu; nhưng mình tỉnh rồi thì tất cả cảnh mình sợ hải khi mộng không còn nữa.

Cũng vậy chúng ta đang sống trong mộng mà không hay rồi cứ tưởng mình đang sống thật. Nếu mình thức tỉnh như các Tổ đây thấy thì tự nhiên các khổ theo đó nó biến, nó tiêu tan không còn.


Bởi vậy nên Ngài khẳng định rằng nếu Ngài nói câu này: người chứng thật tướng thì không còn nhân, không còn pháp thì chỉ trong khảy móng tay thì nghiệp a tì liền hết.

Như mình thấy người ta bắt mình ở tù năm năm, mười năm trong lúc mê. Bây giờ giựt mình thức dậy thì tù năm năm, mười năm đó còn không? Liền hết trơn, đâu có thật. Biết được nó không thật thì nó tan biến. Vậy thì một cơn tỉnh là bao nhiêu cái khổ mê không còn. Chúng ta một phen giác ngộ rồi thì cái nghiệp trầm luân ngang đó nó hết.


Như vậy thì quí vị tu muốn giác ngộ không? Hay là muốn tu phước từ từ năm này một ít, năm kia một ít dồn lại để trả nợ nghiệp cũ. Thí dụ như mình ăn thịt một trăm, một ngàn con cá mà lâu lâu mình mua ít con thả để trả bớt nghiệp. Nhưng thả con này thì bắt con khác ăn, thì chừng nào hết nghiệp?


Chỉ có cái chúng ta thức tỉnh thì nghiệp liền hết. Cho nên Phật nói chỉ có giác ngộ chúng ta mới hết cái khổ trong mê lầm. Vì cái khổ mê lầm này nhà Phật dùng từ là vô minh nghĩa là không có sáng.


Chúng ta không sáng nên không thấy đúng sự thật, rồi cứ như vậy mà tạo nghiệp với nhau, lẩn quẩn mấy mươi năm rồi đi rồi tạo nữa. Có người nào mà gần chết nói tôi không thèm trở lại đây nữa đâu, có nói vậy được không? Hay chết cứ sợ mất thân này? Sợ mất thân này cái nhắm mắt kiếm đủ cách để gặp lại thân khác. Gặp thân khác rồi chui vô đó tiếp tục tạo nữa. Như vậy đời đời tiếp nối khổ đau, cho nên Đức Phật mới nói: “Nước mắt chúng sanh nhiều hơn nước bể cả”. Vì sanh đi tử lại hoài không chịu ra, mà không chịu ra thì làm sao hết khổ. Muốn hết khổ chỉ có cái chứng thật tướng tức là giác ngộ thấy được cái thật của mình bất sanh bất diệt. Đó là người được giải thoát sanh tử

***************************************************
HT. Thích Thanh Từ giảng
http://tvsungphuc.net/?option=com_content&task=view&id=723
Hình ảnh
*****************************************

(Còn tiếp...)

**************
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Chứng Đạo Ca (Vĩnh Gia Đại Sư)

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 5 05 Tháng 6, 2014 4:17 pm

Vĩnh Gia Chứng Ðạo Ca Sa-Môn Huyền Giác soạn

Chánh Văn:

Thoát giác rồi Như Lai thiền,
Sáu độ muôn hạnh thể tròn nguyên.
Trong mộng lao xao bày sáu nẻo,
Tỉnh ra bằn bặt chẳng ba nghìn
Giảng:

Đốn giác liễu Như lai thiền, là chóng giác ngộ được Như Lai thiền. Như Lai thiền là Thiền tông đó. Thiền tông mình tu thẳng. Tôi nói tu thẳng để cho quí vị nhớ cái ý.

Lúc nào đó tôi có giảng một bài đề tựa là “Một phương thuốc ngừa được cả trăm thứ bệnh”. Bởi vì thường thường đây là tôi nói xa cho quí vị hiểu một chút, thường thường chúng ta tu nếu nói tu thiền thì người nào bệnh tham ái nhiều trong kinh dạy mình phải quán bất tịnh. Quán chừng nào mình chán mình sợ cái thân này thì đó là thành công, thành công rồi phải quán tịnh nữa.

Người nào nóng giận nhiều Phật dạy phải tu hạnh nhẫn nhục. Người nào hay tham lam nhiều thì Phật dạy tu hạnh bố thí để trừ nó, góp vô bây giờ mình buông ra mình cho để trừ. Như vậy những hạnh đó, từng hạnh từng hạnh để dẹp tật xấu của mình.

Nhưng mà tu Thiền này niệm khởi dấy lên mình biết nó hư giả không theo. Không có niệm dấy lên thì quí vị có tham sân si không?

Rồi có đủ thứ, nào ngã mạn, nào đủ thứ xấu không? Như vậy chỉ có một cách phản quan lại thấy niệm khởi là hư giả, ngay chỗ đó mình buông mình bỏ thì tất cả cái khác nó không có sanh.


Đó là một phương thuốc ngừa tất cả bệnh hay trị tất cả bệnh. Như vậy thì có nhanh không. Chớ bây giờ để khởi nghĩ, nghĩ về người rồi mình khởi ra tham lam này kia rồi sau mình mới trừ thì lâu quá, xa xôi quá. Cho nên đây là phương pháp đi thẳng nên thường gọi là trực chỉ đó, chỉ thẳng để mà ứng dụng tu. Vì vậy gọi đó là Như Lai thiền.
Nếu mình giác ngộ được Như lai thiền thì

Lục độ vạn hạnh thể trung viên. Trong đó nào là lục độ, nào là vạn hạnh, trong cái thể đó nó tròn đủ hết, tròn đủ chớ không có thiếu.

Mộng lý minh minh hữu lục thú. Trong giấc mộng thì mờ mờ nó có sáu đường. Lục thú là sáu cõi.

Giác hậu không không vô đại thiên. Mình giác ngộ rồi thì không ngơ, không còn cả đại thiên sa giới nữa, chớ đừng nói lục thú.

Như vậy ở đây Ngài muốn nhắn nhủ chúng ta rằng, người tu thấu suốt được lý Như Lai thiền, ứng dụng được lý Như Lai thiền thì trong đó đủ cả lục độ, vạn hạnh hết.

Nói như vậy là sao? Thí dụ như bây giờ tôi tu tôi biết các niệm khởi là hư dối. Nó là hư dối tôi không theo nó.
Như vậy thì tôi có làm gì bố thí, trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục gì đâu mà lục độ. Nhưng mà tôi không có dấy niệm, không có tâm so đo nghĩ tưởng, vừa thấy người đó đói mà tôi có ổ bánh mì liền móc cho liền.

Tôi không nghĩ gì hết nhưng mà lòng thương nó sẳn sàng có, chớ không phải đợi nghĩ mới có. Rồi tôi không nghĩ gì hết mà thấy người đó họ khổ tôi liền an ủi họ.
Như vậy thì đạo lý nó ở sẳn trong Như Lai thiền này. Tâm mình được an, được thanh tịnh thì mọi hành động đều là tốt, đều là trong sạch.

Vì vậy mà đủ cả lục độ vạnh hạnh. Chừng đó mình mới thấy sáu đường là địa ngục, ngạ quỹ, súc sanh, nhơn, a tu la, và cõi trời, sáu đường đó chỉ là giấc mơ thôi, chớ nó không có thật.

Vì vậy mà mình sau khi được giác ngộ rồi thì cả đại thiên sa giới cũng không còn nữa. Bởi vì trong nhà Phật nói các cõi ở trong bầu hư không này nó vô số, dùng từ là tam thiên đại thiên thế giới đó nghĩa là nhiều vô kể. Vậy khi mình giác ngộ rồi tất cả thế giới cũng là không thật chớ đừng nói là lục thú không thật thôi. Đó là ý hết sức là rõ.

Ngài muốn chỉ, muốn hướng dẫn cho chúng ta tu, tu về Như Lai thiền thì tất cả hạnh đầy đủ trong đó. Chừng đó chúng ta mới thấy rõ sáu đường và tất cả cõi trong thế gian này đều là hư ảo không thật thì có cái gì đâu mà mắc kẹt. Đó là một đoạn.
Mấy chỗ này quí vị nghe đừng có vội sợ nghe.

Chánh Văn:

Không tội phước, không thêm bớt,
Tánh mình vắng lặng đừng hỏi bắt.
Bấy lâu gương bụi chửa từng lau,
Này lúc rõ phân cần dứt khoát
Giảng:


Vô tội phước, vô tổn ích, chỗ này có nhiều người nói mình tu mà không có tội, không có phước thì cái đó là trái đạo lý. Nhưng mà ở đây nói không tội không phước, và không tổn, không có lợi ích.
Tại sao? Đứng về tánh chân thật đó nó không có sanh diệt, không có sanh diệt thì làm sao có tội, làm sao có phước.

Nếu mình đi trong vòng luân hồi sanh diệt này thì có tội có phước không? Tội thật phước thật. Nhưng mà bước qua chỗ tánh chân thật đó thì nó không có tội, không có phước. Bởi vì nó đâu còn sanh diệt, nó cũng không tổn hại mà cũng không có lợi ích.


Tịch diệt tánh trung mạc vấn mịch. Là tánh tịch diệt của mình tánh lặng lẻ của mình không có nên tìm hỏi cái gì hết, nó là như nhiên sẳn như vậy chớ không phải do hình ảnh nào hay là những phương tiện nào tụ họp.


Tỉ lai trần kính vị tằng ma, “tỉ” là xưa, “lai” là nay. Từ xưa tới giờ cái gương dính bụi chúng ta chưa từng chùi. Nghĩa là cái gương chân thật của mình hay là cái gương tâm sáng của mình từ bao giờ chúng ta không có lau chùi bị bụi nó phủ.


Kim nhật phân minh tu phẫu tích.
Là ngày nay rõ ràng phân biệt chia chẻ cho mình hiểu, mình thấu được.
Như vậy, ý Ngài muốn nói rằng trên phương diện chân thật, ở đây gọi là tánh tịch diệt, thì nó không có tội, không có phước, không có lợi ích, không có tổn hại.

Nhưng mà chúng ta cái gương trong sáng của mình để bụi đóng nhiều quá rồi, phủ kín từ bao giờ rồi, chưa từng chùi. Cho nên hôm nay cần phải giải thích, cần phân biệt cho quí vị hiểu rõ, để quí vị ráng lau chùi gương của mình.

Gương quí vị đóng chừng bao nhiêu lớp bụi? Chắc nó dày cả tấc, cho nên nó tối mò. Ngồi lại cái bao nhiêu thứ bụi nó phủ lên, phủ lên không. Nên tội lắm quí vị mới tập ngồi thiền, ngồi một giờ hơn một giờ ra hỏi có yên được phút nào không thì đều lắc đầu không có yên. Tại vì nó phủ lâu quá rồi mới chùi sơ sơ làm sao mà nó sáng được. Cho nên phải chịu khó, phải nổ lực lau chùi cho nó sạch rồi tự nó sáng, chừng đó chúng ta khỏi có lo, khỏi có cần tìm kiếm cái gì.

***************************************************
HT. Thích Thanh Từ giảng
http://tvsungphuc.net/?option=com_content&task=view&id=723
Hình ảnh
*****************************************

(Còn tiếp...)

**************
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Chứng Đạo Ca (Vĩnh Gia Đại Sư)

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 6 06 Tháng 6, 2014 8:00 am

Vĩnh Gia Chứng Ðạo Ca Sa-Môn Huyền Giác soạn

Chánh Văn:

Ai không niệm? Ai không sanh?
Ví thực không sanh không chẳng sanh.
Gọi người gỗ hỏi nguồn cơn ấy:
Cầu Phật ra công mấy thuở thành?


Giảng: Mấy câu này nghe nó cũng xót xa.


Thùy vô niệm? Thùy vô sanh?
Nhược thực vô sanh vô bất sanh.

Ai mà không niệm, ai mà không sanh. Cái gì không niệm, cái gì không sanh? Nếu thật sự không sanh tức là không bất sanh là có sanh rồi. Còn đây là cái không sanh tức có cái sanh ở bên kia đối đải. Đây là vô niệm thì còn cái có niệm đối đải.


Hoán thủ cơ quan mộc nhân vấn: là gọi người gổ hỏi thử việc này coi làm sao? Hỏi cái gì?


Cầu Phật thi công tảo vãn thành? Tức là cầu Phật ra công sớm hay muộn được thành. Nói cách khác tôi cố gắng tu cầu thành Phật chừng nào được thành? Giờ hỏi người gổ chừng nào nó trả lời?

Bởi vì chúng ta có cái nhìn hơi nông nổi, hơi cạn cợt. Làm cái gì chúng ta cũng đòi được biết kết quả, tu thì hỏi coi chừng nào thành Phật.
Nếu không dám hỏi thành Phật sợ tội thì hỏi tu chừng nào được định?

Bây giờ quí vị hỏi tu chừng nào được định tôi trả lời làm sao?

Tôi trả lời chừng nào hết vọng tưởng thì được định, chớ đâu có nói chừng nào được. Vì cái đó là việc của mình, mình làm mình biết người ngoài làm sao mà trả lời. Cho nên, ở đây nói rằng nếu mà hỏi mấy cái đó thì chỉ hỏi người gổ, chớ hỏi người thật thì họ cũng không làm gì được vì chuyện đó là chuyện của mình.

Vậy chúng ta tu là phải cố gắng dẹp bỏ tâm vọng tưởng điên đảo. Tâm vọng tưởng điên đảo sạch thì tự chúng ta sáng suốt, chớ khỏi cần cầu thành Phật mà Phật cũng vẫn đến. Nếu chúng ta không chịu cố gắng, không chịu dẹp bỏ, không chịu dùng trí tuệ đánh thức mê lầm của mình thì dầu có hỏi một trăm người cũng không ai đáp được việc đó, vì cái đó là cái của mình.


Chánh Văn:

Buông tứ đại, đừng mắt bắt,
Tịch diệt tánh trung tùy ẩm trác.
Muôn vật vô thường thảy thảy không,
Đấy chính Như Lai đại Viên Giác.



Giảng:

Chỗ này Ngài dạy mình tu để cho chóng đạt được kết quả.

Phóng tứ đại là buông thân tứ đại này, mạc bả tróc là chớ có nắm bắt nó. Chỉ một câu này quí vị thấy dễ làm hay khó làm? Coi như buông xả thân tứ đại hết quan trọng, rồi đừng có nắm đừng có giữ nó, thì:

Tịch diệt tánh trung tùy ẩm trác. Tức là trong cái tánh tịch diệt của mình tùy ăn, tùy uống chớ không có gì hết. Chỉ cần buông thân tứ đại đừng nắm bắt nó thì trong tánh tịch diệt tùy mà ứng dụng không có gì lo sợ hết.

Mình bây giờ tu nó cay đắng là tại vì mình trọng cái thân quá chừng. Quí vị có người nào coi thường thân không?

Ai cũng quí nó như vàng như ngọc. Mà quí nó như vàng như ngọc cho nên chạm đụng nó một cái thì tóe lữa liền.
Nên tham sân si mà tham cái thân, giữ cái thân là cái nguy số một. Mình tham giữ cái thân thì mọi phiền não khác theo đó mà nó dấy động lên.

Bây giờ buông nó đi, không có nắm giữ nó nữa, sống với tánh tịch diệt sẳn của mình đó, tùy đi đứng nằm ngồi ăn uống một cách tự nhiên bằng cái tánh lặng lẻ thanh tịnh của mình, thì đó là cái chỗ quan yếu của sự tu.


Chư hành vô thường nhất thiết không, là tất cả cái hành động, tất cả những cái gì mà chúng ta đã làm, tất cả những cái đó đều là vô thường. Mà vô thường thì nó thật hay là không? Bây giờ quí vị thấy ai đó tỏ vẻ mến thương mình thì đó là cái hạnh người ta mến thương tốt.

Nhưng mà hạnh mến thương đó đang lúc này họ mến thương, mai kia mình có cái gì xấu hơi tệ tệ một chút thì người ta còn mến thương không?

Hết liền. Đừng nói mai kia, như mới giờ trước mình ăn nói nhỏ nhẹ hòa nhả người ta mến thương. Giờ sau ai lại chọc tức mình nổi giận la ó om sòm thì người ta còn mến thương không?

Như vậy tất cả hạnh đó đều là vô thường, mà đã là vô thường thì nó không có thật, nên tất cả đều là không.

Thương ghét buồn giận gì..v.v… đều là vô thường, nó không có thật. Bây giờ giả sử ai đó có cái gì mà họ buồn mình, họ lại chửi vài ba câu. Mình nhớ những lời chửi là vô thường, tất cả là không, thôi chửi thì chửi vài ba câu rồi đi mất. Nếu người ta chửi vài ba câu mà nổi nóng mình cự lại cái nó còn, chẳng những nó còn mà nó còn tăng nữa chớ không có giảm.

Như vậy thì từ cái mê thấy thật cho nên rồi chúng ta cứ tạo nghiệp. Bây giờ chúng ta tỉnh sáng thấy các hạnh là vô thường, tất cả đều trở về không thì

Tức thị Như Lai đại viên giác là liền đó chính là đại viên giác của Như Lai. “Tức thị” là liền đó.


Thấy ở trên không chấp cái thân mà mình sống với cái hạnh tịch diệt. Rồi dưới đây thấy các hạnh vô thường nó là không, thì như vậy là mình đang sống với đại viên giác của mình, tánh Phật của mình chớ không gì lạ hết.

Vậy chúng ta muốn thấy Phật muốn gần Phật khó hay dễ? Như trở bàn tay hà. Tại sao như trở bàn tay? Nghĩa là thấy tất cả các pháp là vô thường, nó là không thật; rồi mình thấy các pháp thường thật; thì hai cái thấy đó đổi có khó không? Có tốn bao nhiêu công không?

Chỉ cần đổi cái thấy cái được hà, mà không chịu đổi mới lạ vậy chớ. Đổi thì từ mê trở thành giác, không đổi thì cứ mê mãi mãi.


Như vậy từ thấy các pháp không thật, cho nên chúng ta mới thành người giác người tỉnh, còn nếu thấy nó thật thì chúng ta cứ trong mê. Cũng như trong giấc ngủ mà chúng ta thấy cảnh mộng mà còn biết đây là cảnh thật, nhận cảnh mộng hoặc vui hoặc buồn là thật thì lúc đó tỉnh chưa?

Chỉ lúc nào nói à cái này mộng rồi thì lúc đó mình mới là người tỉnh, mà tỉnh rồi thì cơn mộng hết.

Dễ quá. Bởi vậy cho nên đạo lý chân thật rất là khó hiểu, nhưng hiểu rồi thì thấy nó không phải là khó, chúng ta có thể làm được chớ không phải không làm được.

***************************************************
HT. Thích Thanh Từ giảng
http://tvsungphuc.net/?option=com_content&task=view&id=723
Hình ảnh
*****************************************

(Còn tiếp...)

**************
[/quote]
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Chứng Đạo Ca (Vĩnh Gia Đại Sư)

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Chủ nhật 08 Tháng 6, 2014 10:10 am

Vĩnh Gia Chứng Ðạo Ca Sa-Môn Huyền Giác soạn

Chánh Văn:

Quyết định thuyết, biểu chân Tăng,
Hữu nhân bất khẳng nhiệm tình trưng.
Trực tiệt căn nguyên Phật sở ấn,
Trích diệt tầm chi ngã bất năng!
Giảng:

Đây Ngài nói nghe thật là thiết tha.

Quyết định thuyết, biểu chân Tăng,
tức là quyết định nói để rõ một người tăng chân thật.

Hữu nhân bất khẳng nhiệm tình trưng,
là có người không chấp nhận mặc tình mà hỏi. Nói cách khác tôi nói thật, tôi nói quyết định như vậy bây giờ các ông không tin thì cứ hỏi.

Trực tiệt căn nguyên Phật sở ấn, Trích diệt tầm chi nhã bất năng! là chỉ thẳng cái cội nguồn mà Đức Phật đã ấn chứng, còn vạch lá tìm cành việc đó tôi không có thể làm được.
Ngài nói một cách thiết tha. Bởi vì tôi là người tu, tôi nói quyết định với quí vị rằng điều đó như vậy là như vậy, chớ tôi không có thể nào nói khác. Nếu quí vị không bằng lòng thì cứ hỏi. Ở đây tôi chỉ thẳng cội nguồn mà Đức Phật đã ấn chứng cho các đồ đệ, chớ tôi không nói những phần chi tiết, những cái nhỏ nhặt để mất thời gian quí báu của quí vị. Đó là tinh thần của Ngài.

Chánh Văn:


Ma ni châu, nhân bất thức,
Như Lai tạng lý thân thâu đắc:
Lục ban thần dụng không bất không,
Nhất lỏa viên quang sắc phi sắc.


Giảng:

Ma ni châu, nhân bất thức, nghĩa là mỗi người có hạt châu ma ni tức ma ni châu mà không có tự biết. Hạt châu đó ở đâu?

Như Lai tạng lý thân thâu đắc: là ở trong kho Như Lai của mình đó, tự mình nhận ra chớ không ở đâu hết. Nghĩa là mỗi chúng ta đều có hạt châu ma ni ở sẳn trong kho Như Lai của mình mà mình không biết nhận. Khi nhận được thì sao?

Lục ban thần dụng không bất không, tức là sáu thứ thần dụng không mà không phải không.

Nhất lỏa viên quang sắc phi sắc,
là một đóa trong sáng tròn đầy sắc mà không phải sắc.
Như vậy ở bốn câu này Ngài bảo với chúng ta rằng ở mỗi người đều có hạt châu ma ni. Vậy thì ở đây ai cũng có hạt châu ma ni hết. Nếu có hạt châu ma ni thì quí vị giàu hay nghèo? Đâu có ai mà bần cùng đâu, ai cũng giàu hết. Có hạt châu ma ni, thì Ngài hỏi hạt châu đó ở chỗ nào? Thì đây ở trong kho Như Lai ngay đó mà lấy chớ không đâu hết. Mình có kho Như lai này chứa hạt ma ni, thì cứ trong kho Như Lai tàng mình lấy ra chớ không gì hết. Nếu mình lấy rồi thì sáu thứ thần dụng tức lục thông đó thấy như nó không mà không phải không, nó có diệu dụng không thể lường. Rồi chỉ một viên ma ni đó mà nó sáng ngời sắc mà không phải sắc, không phải hình sắc.


Như vậy là Ngài muốn chỉ thẳng cho chúng ta biết ở nơi mỗi người đã có hòn ngọc quí mà chúng ta phớt lờ bỏ qua rồi phải lang thang khổ sở chịu nghèo chịu đói. Tại sao? Bởi vì chúng ta quên của báu của mình cho nên rồi phải nghèo khổ. Nếu quí vị nhớ chắc là hết nghèo. Hết nghèo phải không? Hết nghèo về trí tuệ chớ không phải hết nghèo về tiền của. Đừng nghe nói hết nghèo rồi ai cũng nói mình có hạt châu bây giờ cứ vay tiền đả đời đi, sau chừng nào tôi khui được ra tôi trả. Không phải vậy, mà mình có hạt châu mà hạt châu đó là của mình chớ không ai lãnh được hết mà mình chưa khui ra. Bây giờ mình ráng quên hết những cái lặt vặt, những cái tạm bợ ở ngoài rồi một ngày nào đó hạt châu của mình được hiển hiện, nó sáng ngời cho mình. Chừng đó mình mới có đầy đủ lục thông, mà lục thông đó có đủ nhưng mà nó không phải là không mà cũng không phải là có. Tại sao? Vì nó là cái dụng, nó không phải là cái thật, cái dụng huyền biến chớ không phải là cái thật. Rồi mình cũng có một viên minh châu sáng, thấy sáng ngời nhưng nó là sắc mà không phải là sắc. Cái sắc là người ta cứ thấy cái sáng ở bên ngoài, những cái chiếu soi bên ngoài, đây là cái sáng sẳn ở nơi mình, ở bên trong cho nên không phải ở đâu mà mình tìm được.

***************************************************
HT. Thích Thanh Từ giảng
http://tvsungphuc.net/?option=com_content&task=view&id=723
Hình ảnh
*****************************************

(Còn tiếp...)

**************
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Chứng Đạo Ca (Vĩnh Gia Đại Sư)

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 3 10 Tháng 6, 2014 4:35 pm

Vĩnh Gia Chứng Ðạo Ca Sa-Môn Huyền Giác soạn

Chánh Văn:

Tịnh ngũ nhãn, đắc ngũ lực,
Duy chứng nải tri nan khả trắc.
Kính lý khán hình kiến bất nan,
Thủy trung tróc nguyệt tranh nan đắc.


Giảng:

Mấy lời dạy này thật là thiết tha.

Tịnh ngũ nhãn, đắc ngũ lực, là nếu mình được năm con mắt trong sạch thì mình cũng được năm cái lực, ngũ căn ngũ lực đó được đầy đủ. Mà cái này

Duy chứng nải tri nan khả trắc tức là chỉ người nào chứng được thì người đó biết chớ khó mà lường nổi. Cái đó tu đến nơi tự chứng tự biết chớ không có thể nào lường được những cái kỳ đặc đó.

Kính lý khán hình kiến bất nan
, là trong cái gương để nhìn hình mình thì thấy không khó.

Thủy trung tróc nguyệt tranh nan đắc, là còn trong nước mà nắm bắt cái mặt trăng thì điều đó thật là khó được.


Như vậy mình đưa cái gương để nhìn mặt mình trong gương dễ hay khó?

Nó rất là dễ, cái gương trước mặt thì ảnh mình nó hiện trong gương, chuyện đó rất là dễ.

Chớ còn thấy mặt trăng dưới hồ dưới giếng mình muốn nắm vớt nó lên dễ hay khó? Như vậy thì cái đó là khó, còn cái kia là dễ.

Vậy chúng ta tu ứng dụng phương tiện để tu hành, như mình ngồi lại mình tu thì khi mình ngồi lại tu mình thấy được những niệm, những vọng tưởng của mình mình bỏ thì dễ hay khó?


Dễ. Thấy nó biết nó là bóng. Niệm khởi vọng tưởng mình thấy phải bóng không?

Nó là bóng chớ có gì đâu, dấy lên rồi mất, dấy lên rồi mất, nó không có thật. Cho nên những cái đó là dễ thấy dễ biết.

Còn cảnh trần ở ngoài nó không thật giống như mặt trăng ở đáy giếng, nó không thật mà cứ nắm bắt nó hoài chừng nào bắt được? Chừng nào nắm được?

Nhưng mà bây giờ thế gian thấy ngược lại nó thật hết trơn, cảnh trần nó thật, đồng tiền là thật, của cải là thật, cái gì cũng thật hết, mà nói nó như là mặt trăng ở dưới đáy nước thì không ai tin.

Nhưng mà nó thật thì quí vị nghĩ nếu nó thật thì nó còn mãi, nhưng nó còn mãi không?

Thân mình không thật thì những cái mình được cũng là không thật. Cái không thật mà mình cứ ngở là thật thì không bao giờ mình tỉnh nổi.
Bởi vậy cái không thật biết rõ là không thật thì đó là người tỉnh.

Như vậy quí vị nghĩ người thấy cảnh trần không thật và người thấy cảnh trần thật, hai người đó mặt mũi có đổi khác nhau nhiều ít? Có khác không?

Cũng như nhau, bởi vậy trong nhà Phật mới nói:

Như nhau dọc mũi ngang mày,
Lòng phàm lòng Thánh khác nhau muôn trùng.

Cũng mày ngang mũi dọc ai cũng như ai, nhưng tâm phàm thấy cảnh gì cũng thiệt cũng mê

và tâm Thánh thấy biết nó không thật không dính, thì hai cái đó nó khác muôn trùng.

Như vậy thì phàm và Thánh có thay đổi cái gì không?

Về thân thì không đổi cái gì đổi hết. Người ta cứ lầm mấy ông tu gần thành Thánh có hào quang đồ đó nghĩa là như vậy mới là Thánh, còn thường thì không ai Thánh hết.

Rồi thấy những người được người ta tán tụng khen ngợi, đạo đức cao sâu gì gì, lại mình không thấy hào quang, ông này không phải đâu, không phải Thánh đâu, chờ hào quang thấy mới cho là Thánh.

Nhưng không phải. Thánh là tâm của người ta thấy đúng như thật rồi không vướng, không mắc không bị lôi kéo, không có bị nhiễm theo.

Còn phàm thì thấy những cái giả cho là thật rồi vướng mắc, rồi dính dấp đủ thứ hết.


Cũng như bây giờ quí vị thấy chúng ta đi đường có những người ngồi gần mình trên một chiếc xe đò. Thấy người đó cũng mặt mày như mình nhưng mà ngồi một hồi cái thì ai lơ là cái họ lén họ móc.

Còn người mình thật thà ngồi đó mà mình không móc thì như vậy hai người cũng như nhau nhưng mà tâm của họ làm sao?

Người thấy của người ta mà mình không có lưu tâm, không có để ý thì mình là người tốt. Còn người thấy mà tìm cách móc moi là người xấu thôi, nó có khác gì đâu. Lên ngồi thấy giống nhau hệt ai cũng là người khách như nhau nhưng mà nó khác trong tâm niệm.


Người tu chúng ta cũng vậy, không phải thành Phật là liền có hào quang sáng rở, mà chỉ dứt được tâm mê lầm. Tâm mê lầm mình dứt được thì đó là thành bậc giác ngộ.

Mà dứt được tâm mê lầm, ai dứt cho mình?

Bây giờ quí vị thấy tôi thí dụ thấy tiền, thấy của cải chúng ta ham. Bây giờ muốn hết cái ham đó ai làm cho mình hết?

Nếu mà muốn hết cái ham thì mình phải tự chừa bỏ, cho đó là cái xấu mình bỏ thì nó hết, chớ đâu có ai làm cho mình hết được.

Như vậy thì cái tu chính là mình chuyển đổi tâm tánh mình. Mình chuyển đổi được nó thì mình thành người tốt, chuyển đổi được nó cao thì thành bậc hiền, cao nữa là bậc Thánh, cũng mình làm hết trơn chớ không ai làm thế cho mình.


Việc đó là một lẻ thật. Vậy mà người tu của mình ít chịu tìm kiếm lẻ thật đó, mà hay tìm ở nơi khác, ở đâu đâu.


Cho nên ở đây nói rằng chúng ta nhìn vào gương thấy mặt thì chuyện đó dễ, nhưng chúng ta đưa tay vớt bóng trăng dưới nước thì thật là khó.

Cái dễ mà không chịu làm, cái khó mà thích làm. Phải không?


Cứ nghĩ phải làm cho giàu, làm cho hơn người này, người kia, mà làm cả đời không hơn người ta rồi làm sao?

Ngã đùng ra chết cái hết. Rất là khó, khó mà chúng ta lại ham làm.

***************************************************
HT. Thích Thanh Từ giảng
http://tvsungphuc.net/?option=com_content&task=view&id=723
Hình ảnh
*****************************************

(Còn tiếp...)

**************
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Chứng Đạo Ca (Vĩnh Gia Đại Sư)

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 4 11 Tháng 6, 2014 2:10 pm

Vĩnh Gia Chứng Ðạo Ca Sa-Môn Huyền Giác soạn

Chánh Văn:11

Thường độc hành, thường độc bộ,
Đạt giả đồng du Niết-bàn lộ.
Điệu cổ thần thanh phong tự cao,
Mạo tụy cốt cương nhân bất cố.


Giảng :

Ở đây Ngài nói cái tư cách mà để hiển lộ con người đạt đạo.

Thường độc hành, thường độc bộ, tức là thường đi một mình, thường đứng một mình. Chẳng lẻ hành, rồi bộ cũng là bước đi. Cho nên đi một mình, đứng một mình.

Đạt giả đồng du Niết-bàn lộ, tức người mà thấu suốt rồi thì đồng đi trên con đường Niết-bàn.
Ở đây tôi muốn nói cho quí vị hiểu kỹ chỗ này. Chúng ta tu là việc của mình chớ không phải của mọi người. Phải không?

Mình bỏ phiền não là việc làm của mình, còn người khác bỏ phiền não cũng là việc làm của họ, chớ không phải mình bỏ phiền não nhờ người khác mình mới bỏ được.

Như vậy thì việc làm đó là việc làm riêng của mỗi người. Mỗi người làm được như vậy, phiền não bỏ sạch thì đi đứng nằm ngồi mình cũng thảnh thơi nhẹ nhàng, tâm không vướng không bận không dính kẹt thì đó là chúng ta cùng đi trên con đường Niết-bàn.

Như vậy Niết-bàn là gì?

Niết-bàn là vô sanh, không còn có cái gì sanh diệt nữa. Tâm chúng ta biết đi, biết đứng, biết nằm, biết ngồi mà không dính mắc cái gì thì cái biết đó có sanh có diệt không?

Ai cũng có quyền được cái đó hết. Không phải ngồi thiền chúng ta mới tu, mà chính khi đi đứng nằm ngồi chúng ta vẫn không để cho cái tâm chạy theo trần cảnh, không để tâm vướng mắc trần cảnh thì đó là chúng ta đang đi trên con đường Niết-bàn.

Quí vị được đi đường Niết-bàn mất bước rồi? Có bước nào chưa? Chắc chưa. Bây giờ bắt đầu đi, bắt đầu đi từng bước, chớ chẳng lẻ tu ai cũng mong đạt đến Niết-bàn mà không chịu bước bước nào chừng nào đạt đến?

Nên chúng ta phải bắt đầu từng bước, mỗi người đi độc hành độc bộ. Nhưng mà ai được như vậy thì cùng đi một con đường như nhau. Đó là đường Niết-bàn.

Điệu cổ thần thanh phong tự cao, là cái dáng dấp rất là thanh cao, đẹp đẻ.

Mạo tụy cốt cương nhân bất cố, là xương cứng thân gầy người không đói.
Ở đây hai câu, câu thứ nhất Điệu cổ thần thanh phong tự cao đối với tinh thần chúng ta là con người rất là thanh nhã cao thượng, không có cái gì làm cho chúng ta phải kẹt, làm cho chúng ta phải nhiễm.

Nhưng mà xương cứng mà thân gầy người ta không có đoái tới. Bởi vì thế này người tu không phải trọng ở cái thân, mà phải trọng ở tinh thần cao thượng, sáng suốt.

Do trọng tinh thần cao thượng sáng suốt nên đối với sự trau giồi ăn mặc..v.v… người ta không có quan trọng.

Thấy con người thì tiều tụy, thân gầy xương cứng không ai thèm quan tâm tới. Nhưng mà cái tinh thần cao thượng thanh bai của người ta rất là quí báu.

Như vậy người đời nhìn người qua hình dáng nhiều hơn là cái tư thái, cái tinh thần của họ. Tư cách thái độ xử sự cao cả mình ít biết. Như vậy người nào mà tu hành mà được đi con đường Niết-bàn thì con người đó tinh thần họ rất là sảng khoái, rất là cao thượng, nhưng mà thân họ hơi gầy và chỉ là một cái thân bày xương.

Gầy thì xương bày ra cho nên đây nói xương cứng mà thân gầy, người ta không có quan tâm. Chỉ quan tâm người nào thân thể coi nó sung túc thấy dễ coi thì chịu hơn, thấy người thân gầy kia thì coi thường. Đó là cái lời Ngài muốn nhắc cho chúng ta rõ biết.

***************************************************
HT. Thích Thanh Từ giảng
http://tvsungphuc.net/?option=com_content&task=view&id=723
Hình ảnh
*****************************************

(Còn tiếp...)

**************
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Chứng Đạo Ca (Vĩnh Gia Đại Sư)

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 2 16 Tháng 6, 2014 1:49 pm

Vĩnh Gia Chứng Ðạo Ca Sa-Môn Huyền Giác soạn

Chánh Văn:12

Cùng Thích tử, khẩu xưng bần,
Thực thị thân bần đạo bất bần.
Bần tắc thân thường phi lũ hạt,
Đạo tắc tâm tàng vô giá trân.


Giảng :

Cùng Thích tử, khẩu xưng bần, là người Thích Tử gọi là bần tăng. Có ai gọi là phú tăng không? Nói chuyện bần tăng muốn xin điều đó, muốn nhờ việc đó, thì khẩu xưng bần. Nhưng thật có bần chưa?

Thực thị thân bần đạo bất bần, là thực tình thân thì nghèo thật nhưng mà đạo không có nghèo. Nghèo ngoài thân chớ không nghèo trong đạo hay là ngược lại thân thì đơn giản thiếu thốn, chớ cái đạo nó dư thừa.

Bần tắc thân thường phi lũ hạt, là nghèo vì thân thường mặc áo vá, áo nhuộm.

Đạo tắc tâm tàng vô giá trân, là đạo thì trong tâm chứa được hạt châu vô giá. Như vậy thì ngoài thấy họ nghèo nhưng tâm ở trong họ chứa của báu phi thường.


Chánh Văn :13


Vô giá trân, dụng vô tận,
Lợi vật ứng cơ chung bất tận.
Tam thân, tứ trí thể trung viên,
Bát giải, lục thông tâm địa ấn.

Giảng:

Nói đoạn sau thì tôi nhắc đoạn trước. Bây giờ Thích tử mình nói xưng bần mà thân cũng không bần. Đó là cái trái với người xưa một chút. Người ta nói:

Cùng Thích tử, khẩu xưng bần,
Thực thị thân bần đạo bất bần,

Bây giờ thân không bần, không biết đạo làm sao à? Như vậy thân phú thì đạo làm sao? Đạo bần. Đó chỗ này tôi xin nhắc để rồi quí vị thấy nghĩa là người thời nay nó hơi có cái lẫn lộn vậy đó. Cho nên đây là những lời của người xưa nhắc nhở dạy bảo người Thích tử thì lúc nào cũng thấy mình là nghèo nên xưng là bần tăng. Nhưng thân thì thấy bần mà đạo thì không bần, còn nếu ngược lại thân không bần thì đạo phải bần. Đó là điều phải ráng giữ.

Đây câu sau nói:
Vô giá trân, dụng vô tận,
Nói rằng trong cái kho tâm nó chứa đựng được hạt châu vô giá. Bởi hạt châu vô giá nên dụng hoài không hết.

Lợi vật ứng cơ chung bất tận.
Tam thân, tứ trí thể trung viên,
Bát giải, lục thông tâm địa ấn.

Làm lợi cho vật, làm lợi cho người đều tùy duyên mà không bao giờ hết. Nào là tam thân, tứ trí trong cái thể đó nó tròn đủ. Nào là bát giải là bát giải thoát, và lục thần thông ngay trong cái tâm địa đó sẳn sàng không có thiếu một món nào.

Như vậy người tu tuy rằng thấy nghèo, thấy thân thể bần cùng gầy ốm nhưng mà đạo người ta vẫn sung mãn. Nhờ đạo sung mãn cho nên cần cái gì, được cái gì thì nó đều được như ý chớ không có thiếu thốn.

***************************************************
HT. Thích Thanh Từ giảng
http://tvsungphuc.net/?option=com_content&task=view&id=723
Hình ảnh
*****************************************

(Còn tiếp...)

**************
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Trang kế tiếp

Quay về Chuyên đề Thiền Tông

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến2 khách

cron