Diễn đàn Tu viện Phật giáo Việt nam


Chứng Đạo Ca I.(Vĩnh Gia Đại Sư)

Thảo luận về kinh điển Thiền.

Các điều hành viên: Sen Hong, Bất Nhị

Re: Chứng Đạo Ca (Vĩnh Gia Đại Sư)

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 5 19 Tháng 6, 2014 8:27 pm

Vĩnh Gia Chứng Ðạo Ca Sa-Môn Huyền Giác soạn

Chánh Văn:14

Bậc cao một quyết là xong hẳn,
Kẻ thấp càng nghe lại lắm ngờ.
Hay vứt trong lòng manh áo bẩn,
Sá gì tinh tiến hướng ngòai khoe ?

Giảng :

Thượng sĩ nhất quyết nhất thiết liễu,
Trung hạ đa văn đa bất tín.

Bậc thượng sĩ một khi quyết định là nhất định làm xong. Còn hàng trung căn hạ căn học nhiều mà cái không tin cũng là nhiều. Trung hạ là bậc trung bậc hạ căn học nhiều, “đa văn” là học nhiều, mà lòng tin nó không có đủ.

Đản tự hoài trung giải cấu y,
Thùy năng hướng ngoại khoa tinh tiến?

Chúng ta chỉ ngay ở trong lòng mình mà mở bỏ cái y nhớp, chớ ai hay hướng ra ngoài mà khoe mình tinh tiến. Câu này là câu quở người tu.

Mình tu là nhắm vào trong mình sửa, mình gạn lọc. Chớ không phải tu để cho bà con thấy thầy đó siêng quá, thầy đó tu cần mẫn quá. Nghĩa là tu là quay lại để gạn lọc chính mình, chớ không phải để cho người ngoài thấy mình tu hay. Vậy đó mà nhiều khi ở trong chùa cũng lẫn lộn có cái đó.

Khi nào một mình không có lễ lượt thì thầy ngủ tới sáng. Khi nào Phật tử tới tập tu thì thầy tu cần lắm, siêng lắm. Đó là không có mở cái cấu y ở trong lòng mình, chỉ mở những cái ở bên ngoài thôi. Vì vậy cho nên đây ngài bảo ai mà hay hướng ra ngoài khoe tinh tiến, mình phải mở bỏ cái y nhơ y nhớp của mình bỏ đi, chớ không phải hướng ra ngoài để khoe với người ta tôi tinh tiến tu hành./.

Bậc thượng sĩ một khi quyết định thì tất cả đều được rõ ràng, đều được kết liểu hết, tức là xong suôi hết. Còn trung căn, hạ căn được nghe nhiều, càng nghe nhiều thì lòng tin lại càng không được vững, tức càng nghi ngờ.

Tại sao vậy? Bởi vì người tâm trí sáng suốt biết thấy những cái gì đúng cái gì thật thì nhận liền hiểu liền, còn những bậc trung, bậc ha thì nghe không có phân biêt đâu là chánh đâu là tà, đâu là phải đâu là quấy, bởi vậy nên càng nghe càng không tin.

Đản tự hoài trung giải cấu y,
Thùy năng hướng ngoại khoa tinh tiến?

Chúng ta chỉ ngay ở trong tâm mình mà cởi áo nhơ bẩn của mình, chớ không thể, không nên hướng ra ngoài khoe rằng mình là người tu hay, tu giỏi. Chữ thùy là hay hướng ra ngoài khoe tu khoe giỏi. Nói như vậy để thấy rằng, ý của ngài Huyền Giác muốn nhắc chúng ta ai tu hành thì cũng đều nhắm thẳng vào nội tâm mình. Cái gì xấu, cái gì dỡ cái gì là mê muội chúng ta phải quét phải dọn cho sạch. Chớ đừng có hình thức bên ngoài khoe mình siêng tu, siêng học, mà rốt cuộc rồi chỉ là cái dáng để khoe người, chớ không phải là thực tâm tu.

Quí vị thấy ở thế gian cũng có lắm người như vậy, đi ra thì tỏ vẻ nghiêm trang tề chỉnh, mà về nhà thì tha hồ lăng xăng lộn xộn. Như vậy thì tu để cho thiên hạ thấy chớ không phải tu để dẹp cái xấu, cái dỡ của mình. Vì vậy mà ngài dùng câu chỉ hướng vào nội tâm mình mà cởi bỏ cái áo nhơ, tức tâm nhơ bẩn của mình mình phải cởi phải giặt giủ cho sạch, còn chuyện bên ngoài không quan tâm, không quan trọng. Đó để khuyến khích ai là người thực tu nên xét lại mình, trừ bỏ cái nhơ nhớp của mình chớ đừng dùng hình tướng bên ngoài để khoe khoang với thiên hạ tỏ ra ta là tu kỹ, tu hay.


CHÁNH VĂN :15

Mặc ai biếm, mặc ai gièm,
Châm lửa đốt trời nhọc xác thêm.
Ta nghe như uống cam lồ vậy,
Tan hết vào trong chẳng nghĩ bàn.


Giảng:

Tòng tha báng, nhiệm tha phi. Tòng là từ, hay là mặc tình; tha là người; báng là chê bay; nhiệm tha phi là mặc ai chê bai mình, phỉ báng mình, dèm xiểm mình. Cho nên “Tòng tha báng, nhiệm tha phi,” nghĩa là dù cho ai chê bai, ai phỉ báng mình, mình cũng không có phiền, không giận, không buồn.

Câu này quí vị và tăng ni chúng ta dễ chịu chưa? Mặc tình người ta chê bai, người ta phỉ báng mình, mình cũng không có bận lòng.

Bả hỏa thiêu thiên đồ tự bì. Tức cũng như người cầm cây đuốc mà đốt hư không vậy đó. Mà đốt chừng nào hư không cháy? Đốt mãi, đốt suốt đời mà hư không không có cháy. Nếu tâm chúng ta thanh thản tự tại không cố chấp, buồn giận thương ghét thì mặc người ta chê bai, người ta dèm xiễm, mình cũng thản nhiên tự tại coi như là hư không, kẻ dèm xiễm như người cầm đuốc mà đốt hư không vậy đó.

Quí vị tu vậy được chưa? Khó hay dễ? Còn mình không phải hư không mà là đóng bổi, vừa châm lữa thì nó cháy rần rần liền, nó không chịu yên, chịu lặng. Nên ngài khuyên chúng ta tu hành mặc người khen chê, dèm xiễm chúng ta vẫn thản nhiên tự tại, như người cầm lữa mà đốt hư không, không có dính gì, không có làm cho hư không phải cháy, phải nám gì hết.

Ngã văn kháp tự ẩm cam lồ,
Tiêu dung đốn nhập bất tư nghì.

Ngài nghe người chê bai phỉ báng, giống như được uống nước cam lồ. Nước cam lồ là nước gì? Nói Bồ-tát Quán Thế Âm cầm bình tịnh thủy, trong chứa nước cam lồ phải không. Cam là ngọt. Cam lồ là mát ngọt, nước đó vừa mát, mà vừa ngọt nữa. Như vậy khi chúng ta bị nóng bức mà uống được nước cam lồ thì nó mát mẻ, nó ngọt ngào, cho nên ngài mới dùng đó để thí dụ.

Dù cho ai chê bai, dù cho ai dèm xiễm đối với tâm ngài nó không dấy động, giống như người đó đang đốt hư không vậy. Ngài nghe những lời chê bai, dèm xiễm của người tợ như uống nước cam lồ, mát mẻ ngọt ngào.

Quí vị chịu cái đó không? Tu hành phải như vậy. Chớ còn cái này tu mà ở trong chùa, thỉnh thoảng người này nói qua, người kia nói lại cái giận; có khi giận bỏ ăn cơm, có khi xách gói đi..v.v… thì cái đó nghe giống như uống cái gì há? Uống cam lồ hay uống nước muối? Chúng ta phải làm sao mà tu nghe lời khen chê, phỉ báng, dèm pha chúng ta nghe như uống nước cam lồ. Rồi Tiêu dung đốn nhập bất tư nghì, nó đều tan biến vào chỗ không nghĩ bàn nổi. Tu như vậy mới đáng là tu.


Nói ở đây chúng tôi giải thích rộng cho quí vị thấy ý nghĩa này. Bởi vì chúng ta lâu nay, ai dèm xiễm, ai chê bai chúng ta chịu không nổi.

Tại sao chịu không nổi? Vì cho là nhục nhã mình, cho là làm khinh bỉ mình, đủ thứ hết. Nhưng giờ tôi đặt câu hỏi lại mình là cái gì? Quí vị chỉ dùm tôi cái mình coi? Cái gì là mình mà nhục nhã, mà khinh bỉ? Chắc thân này, phải không. Tứ đại nó đâu biết nhục nhã khinh bỉ gì nếu là thân. Như vậy cái gì? Cái tâm, mà tâm so sánh hơn thua, phải quấy; mà tâm đó nó thật không? Quí vị tìm coi tâm đang ở đâu?

Tâm hay so sánh hơn thua, phải quấy nó ở chỗ nào, kiếm coi nó đang ở đâu? Kiếm thì nó mất tiêu, mà khi gặp duyên thì nó dấy, hết duyên thì nó tan thì cái đó thật không? Thí dụ như bong bóng nước, khi giọt nước mưa ở trên mái nhà rơi xuống nổi bong bóng, thì bong bóng đó nổi lên một chút thì tan. Rồi giọt mưa khác rơi xuống nổi bong bóng thì giọt mưa và nước ở dưới nó chạm nhau nổi bong bóng, thì bóng bóng đó là đợi duyên mà có, có rồi mất.


Cái giận, buồn, vui của mình có đợi duyên mà có không? Có khi nào không có buồn phiền ai hết mà quí vị tức giận không? Ai chọc ghẹo gì đó, rồi nghĩ người đó nói hơn, nói thua hoặc nói nhục nói xấu gì mình rồi mình mới nổi giận lên; khi nổi giận rồi thì một lát nó hết. Như vậy thì cái giận đó nó đợi duyên mới có, duyên qua rồi thì nó mất, vậy đâu có thật. Cái không thật mà mình chấp, mình cố giữ thì mình khổ.


Nhiều người ở thế gian này nghe người ta rầy, nghe người ta chê trách chịu không nổi, nói đó là phạm tới danh dự của tôi rồi đó; rồi phải tìm cách này, cách nọ để mà hơn thua. Như vậy thì chúng ta đang chạy theo cái gì? Chúng ta là một đống rác hay là hư không? Là đống rác khô, miễn một tàn lữa nhỏ xíu cũng cháy được nữa.

Nếu tâm chúng ta rỗng rang như hư không, không chấp nê, không hờn giận gì hết thì ai nói gì thì cứ nói, mình không buồn, không giận. Như vậy thì quí vị sẽ có lợi ích rất là lớn.


Như sớm mai, có đức bé hỏi tôi: “Thưa thầy, như bây giờ có người chọc mình, họ nói những lời nặng mình thì mình làm sao dằn được tâm tức giận được?” Quí vị nghĩ phải làm sao? Người ta nói nặng mình thì làm sao dằn tức giận xuống được?

Tôi chỉ cần nói: “Tụi con áp dụng lý nhân quả thì hết giận liền”. Bây giờ thầy hỏi, tụi con có người họ chưa từng quen biết mà gặp họ chửi vô mặt mình, thì lúc đó có nên giận không, có đáng giận không? Chắc ai cũng nói đáng giận. Mình không có chọc ghẹo gì mà mình chửi vô mặt mình thì đáng giận rồi, như vậy thì cái giận nó sẽ khởi liền và mình giận rồi mình làm dữ lại họ, hai cái đó thành một cuộc ấu đã hung dữ.


Bây giờ người ta chưa từng quen biết mình, mình chưa biết họ, họ cũng chưa biết mình, mà gặp mình họ chửi vô mặt mình. Giờ đặt câu hỏi có những người chưa từng biết mình, gặp họ mà trong lòng mình không có giận, không có tức họ, thì mình có dám chửi họ không? Chắc không ai dám chửi. Nghĩa là không có giận sẳn thì làm sao mà chửi được.

Bây giờ gặp mình mà người ta chửi mình tức là mình đã làm cái gì cho người ta ức trong lòng lắm rồi, nên gặp mình người ta chửi được.


Bây giờ người ta chửi mình mà mình chưa biết lý do thì lúc đó phải nói sao? “Thưa anh, thưa chị, không biết tôi có làm cái gì lầm lỗi mà anh chị chửi tôi?”. Nói như vậy thì họ kể ra, nếu mà họ nhớ hồi xưa mình làm cái gì lầm lỗi, bây giờ họ chửi mình thì mình xin lỗi họ; còn họ không nhớ đây tôi chửi lầm, lầm thì thôi tha thứ cho họ, cái huề.

Như vậy lữa sân họ vừa đốt mà gặp mình nguội lạnh như vậy thì chẳng khác nào đốt với hủ nước hay là với vũng nước nó không cháy được. Nếu họ vừa chửi mình cái nổi nóng lên cự lại họ, thì hai bên đều nổi nóng hết, lữa gặp lữa cháy rần rần.


Như vậy biết tu, Phật dạy không có cái quả nào mà chẳng có nhơn, từ nhơn rồi mới có quả. Bây giờ người ta giận mình, thì biết mình đã làm gì cho họ tức rồi họ mới giận, người ta thương mình bởi mình làm cái gì đó người ta mến thương. Bây giờ khi cái đó đến, mình hãy xét lại mình rồi đặt câu hỏi để người đó phân trần thì hai bên hết giận nhau, ngay đó là hết.

Nếu người ta vừa chửi mình, mình liền nổi nóng chửi lại thì sân hận oán thù chừng nào cạn, chừng nào hết? Chắc là liên tục luôn đời, tức trận này qua rồi trận khác tới, cứ như vậy.


Quí vị có ai can đảm làm việc này không? Khi có chửi mình, mình cho là oan ức với mình đó, thì quí vị chịu khó ngồi lại, hay đứng hỏi thưa chị tôi có làm gì lỗi mà chị chửi tôi, chị nói cho tôi biết để tôi xin lỗi? Người đó còn giận không? Nếu họ giận họ kể ra cái gì đó, mình xin lỗi cái rồi. Như vậy người ta là lữa thì mình phải là nước để dập tắt lữa, chớ người ta đã là lữa mình lữa thêm nữa thì cháy càng nhiều, rồi nó cháy lan tùm lum, không có gì dừng. Đó là giá trị của sự tu.


Bởi vậy với ngài Huyền Giác, ngài nói rằng nghe người ta kinh chê, gièm xiễm giống như mình được uống nước cam lồ nó mát ngọt, chớ không có khó chịu gì hết. Quí vị chịu câu đó không? Nghe ai mắng chửi nói tôi bửa nay được uống nước cam lồ, mình được vậy thì tu dễ biết mấy, tu tiến không thể nào mà người ta lường nổi. Rồi tất cả những cái đó đều tiêu dung hết đến chỗ không thể nghĩ bàn. Như vậy thì quí vị thấy lời khuyên, lời dạy của ngài không phải khuyên dạy bằng lời, mà chính ngài tự nhận rằng gặp những trường hợp đó ngài xử sự như vậy, chúng ta nên học và nên bắt chước theo. Đó là tu.

***************************************************
HT. Thích Thanh Từ giảng
http://tvsungphuc.net/?option=com_content&task=view&id=723
Hình ảnh
*****************************************

(Còn tiếp...)

**************
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Chứng Đạo Ca (Vĩnh Gia Đại Sư)

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 5 26 Tháng 6, 2014 12:26 pm

Vĩnh Gia Chứng Ðạo Ca Sa-Môn Huyền Giác soạn

Chánh Văn:16

Xét lời ác, ấy công đức,
Đó mới chính là thầy ta thực.
Chớ vì báng bổ nổi oán, thân,
Sao tỏ vô sanh, nêu nhẫn lực ?

Giảng:

Quán ác ngôn, thị công đức,
Ngài bảo rằng mình xét, mình phải quán chiếu lời nói ác của họ đó, lời nói dữ của họ đó nó là công đức cho mình.

Thử tắc thành ngô thiện tri thức.
Người chửi bới miếng nhiếc mình đó là thiện tri thức của mình.
Quí vị thấy dễ chịu không? Phải quán xét lời nói dữ, nói ác của người là công đức; người đó là thiện tri thức của mình.

Tôi giải thích rộng hai câu này cho quí vị thấy. Ở thế gian cũng như ở trong chùa, nghe người ta khen mình tu hay, mình tu giỏi, người tu chân chánh có buồn không? Có khi mình tu dỡ mà khen mình tu hay có buồn không? Đó là trường hợp đặc biệt, mình tu dỡ mà khen tu hay, mình có khi nào nói đừng nói bậy à, tôi dỡ lắm, dám nói vậy không? Hay nói thầy đó tu hay quá, thật là bậc đại tri thức của chúng con đó; nghe nói vậy thì hài lòng cười, mà thật tình là mình dỡ mình biết. Vậy thì quí vị nghĩ làm sao?


Người thế gian cũng vậy, gặp cái họ tán mình, họ khen mình thế này, thế kia, khen đủ thứ. Khi khen như vậy đó mình có giận không? Nói anh này là người trượng phu, anh này là một bậc danh nhân..v.v… nghe vậy mình có bụm miệng họ không, anh đừng nói bậy tôi không phải.

Dám bụm miệng họ không hay nói để cho họ nói rồi mình cười cười thôi, không biết trúng hay trật mà đều không có từ chối.


Ở ngoài cũng vậy, mấy bà mấy cô, có người gặp thì nói đây là những người thật là tâm đại từ, đại bi, giúp đở mọi người, thương mọi người, không có bao giờ bỏ ai này kia. Khen như vậy mà sự thật mình chưa làm gì đáng kể hết, mà người ta khen như vậy thì quí vị nghĩ làm sao? Giữa mọi người chúng ta có dám nói rằng, thôi chị đừng nói tôi không có làm việc đó đâu, có dám nói vậy không? Hay để cho họ khen ngon miệng? Chúng ta tất cả có cái bệnh đó.


Như vậy tất cả lời khen đó, mình chưa xứng đáng mà họ khen mình là giỏi, là hay, đó là họ khen đúng lẽ thật hay không đúng lẽ thật?

Mình biết không đúng lẽ thật mà mình không can đảm cải chánh cái không đúng đó, thì mình chấp nhận hay không chấp nhận?

Chắc cũng chịu chịu một chút phải không. Như vậy thì lời khen đó là họ vuốt ve mình để rồi cầu cái này, nhờ cái kia. Khen mình lòng từ bi, lòng rộng rãi giúp người này, giúp người kia, rồi lâu lâu nói thưa chị tôi túng quá, chị giúp tôi cái gì đó, hay một số tiền nào đó. Lở người khen rồi bây giờ không lẽ trở lại eo hẹp với họ sao. Như vậy thì khen đó để làm gì? Khen cho thỏa mãn cái tâm danh của mình rồi họ lợi dụng.


Trong đạo cũng vậy, họ khen mình có đức có hạnh, mà thật tình đức hạnh mình chưa xứng đáng mà họ khen quá đó, thì tất nhiên để thử coi tâm ngã mạn của mình tới đâu. Nghe khen mà chịu tức là mình thích cao, cầu cao. Nghe khen mà lúc nào cũng từ chối, cho mình là người thua kém, mình là người ít công đức nhất, không dám bì với các vị lớn, không dám bì với các vị khác, thì ít ai can đảm nói, mà cứ lặng thinh chịu.


Người khen chúng ta nhiều khi khen để lợi dụng chúng ta, thì có khen chúng ta để tăng trưởng bản ngã cho chúng ta làm bản ngã tăng lên, thì đó là thiện tri thức hay ác tri thức?

Người làm cho mình tăng trưởng lòng xấu, tăng trưởng tâm danh lợi, tăng trưởng tâm ngã mạn, thì người đó là người hại mình chớ đâu phải giúp đở mình.

Vì vậy mà người đó không phải là thiện tri thức.
Còn người gặp mình nói ông thầy này tu lơ mơ mà giả bộ đạo mạo, tu lơ mơ mà giả bộ đạo mạo nghe khó chịu không? Thì thấy hơi khó chịu rồi, đó cũng như là lời ác làm cho mình khó chịu. Nhưng nghe lời đó rồi tự xét, ờ mình tu còn dỡ quá ông đó nói đúng đó, thì nhờ lời nói tu lơ mơ đó mà mình cố gắng tu hơn, tu thêm nữa, đó là thiện tri thức.

Cho nên nói: “Quán ác ngôn thị công đức, thử tắc thành ngô thiện tri thức”. Vì vậy mà lời ác đó là thiện tri thức của mình. Bây giờ quí Phật tử học câu này, rồi huynh đệ tới ái mà có câu gì nói nặng nhẹ mình, vổ vai nói ôi chị là thiện tri thức của tôi rồi. Cứ nói vậy thì người ta hết nói nữa chớ gì. Ai nói nặng, nói nhẹ mình, ai khinh bỉ mình, mình cứ vổ vai nói chị hay anh là thiện tri thức của tôi rồi; không có gì buồn phiền hết thì vậy có phải là tu hay không!

Tu hay là người chê mình, khinh miệt mình mà vẫn coi quí người đó vì người đó dám chỉ cái dỡ của mình, dám nói cái xấu của mình, thì mình nhờ vậy mà biết chừa bỏ, không phải thiện tri thức là gì?

Còn những người mình không có mà nói có, nói gạt, nói dối mình để mà tô điểm cho mình tăng bản ngã lên thì đâu có làm lợi gì cho mình, mà là hại. Cho nên hiểu điều này thì quí vị thấy người tu cần phải nhận kẻ nào can đảm chỉ lỗi mình là thiện tri thức của mình.
Người trong chùa, cũng như người ở thế gian ai dám chỉ lỗi, dám nói những cái xấu dỡ của mình thì phải kính trọng họ là thiện tri thức chớ không nên óan thù, mà người thế gian có mấy người được như vậy?

Quí vị kiểm coi có mấy người bị người ta khinh, người ta nói xấu, nói dỡ mà vui mừng coi như được thiện tri thức nhắc nhở? Mấy người được vậy, ai được vậy giơ tay tôi coi? Chưa ai dám chịu, cái hay vậy mà sao không dám chịu há. Cái đó là cái hay mà còn hơi dè dặt, không dám nhận.


Bất nhân san báng khởi oan thân,
Hà biểu vô sanh từ nhẫn lực?

Bất là chẳng. Chẳng nhân cái chê bai mà khởi tâm oán hay là thân. Tại sao vậy? Vì nếu khởi tâm oán hay là thân thì đâu có đủ (hà biểu là đâu có đủ) nêu rõ cái sức từ nhẫn vô sanh của mình. Lời này ngài nói rõ ràng rằng, nếu mình bị người ta chê bai mà khởi tâm giận hờn oán ghét, thì như vậy là mình không đủ tư cách làm người tu hành nhẫn nhục, tu hành từ bi.

Mình từ bi, nhẫn nhục thì có khen chê mình vẫn tự tại, vẫn thản nhiên. Nếu mình không được tự tại thản nhiên, thì đâu đủ tư cách tiêu biểu cho người đã có đủ đức nhẫn nhục lớn, có lòng từ bi lớn và có tâm vô sanh an lạc.

Như vậy người đã được tâm vô sanh và được đức từ bi, nhẫn nhục thì không còn oán hờn thù hận. Còn oán hờn thù hận thì chưa phải là người có lòng từ bi, có đức nhẫn nhục và tu hạnh vô sanh. Đối với người tu mà ai đó tự nói rằng người đó là người thù của tôi, thì chúng ta đánh giá làm sao? Người đó có phải là từ bi không? Nếu thấy có người thù thì chưa phải từ bi, chưa phải nhẫn nhục.


Vậy giới tăng ni chúng ta hiện tại có oán thù ai không? Nếu huynh đệ trong chùa không có oán thù, mà ai đó ở bên ngoài hoặc ở chùa khác họ làm nhiều cái phiền nhiễu mình, có oán thù họ không?

Đừng bao giờ khởi niệm, người đó là người thù của tôi. Còn nói là người thù của tôi thì chưa phải là từ bi. Từ bi không có oán thù, nhớ vậy đó. Có lòng từ bi thì không có oán thù, còn có oán thù thì không phải từ bi. Phật tử chúng ta tu cũng phải như vậy.


Người học đạo Phật, mà đạo Phật là đạo trí tuệ, đạo từ bi, mà chúng ta thù người này, óan người kia, hờn người nọ thì mình còn từ bi không? Không còn từ bi thì xứng đáng là Phật tử chưa?

Xét vậy thì quí Phật tử tự đánh giá mình, mình là người xứng đáng đệ tử Phật hay chưa xứng đáng đệ tử Phật?

Nếu chúng ta xứng đáng đệ tử Phật thì ai làm cái gì khó khăn, làm cái gì nhục nhã chúng ta, chúng ta cũng không thù không oán. Thôi bỏ đi, tha thứ đi, không hờn, không oán gì hết. Đó là đạo đức chân thật, đạo đức chân thật là ở chỗ này. Chớ còn nói tôi thù người này quá, tôi hận người kia quá thì chưa phải Phật tử thật, Phật tử đó hơi giả hiệu một chút, có cái tên, có lá phái, mà chưa thấm ở trong tâm. Nhớ vậy.


Vậy mà lâu lâu ở trong chùa cũng có hơi rầy rà một chút, có không? Khi rầy rà thì nói với nhau làm sao? Nói tôi không ưa chị, tôi không muốn thấy mặt chị, gì gì đó, hay là nói không ưa cô, không muốn thấy mặt cô.

Nói như vậy nghĩa là sao? Có thù oán không? Nếu không thù sao không muốn thấy mặt? Vì vậy mà chúng ta dè dặt từng lời nói, đạo đức không cho phép chúng ta nói những lời như vậy. Nghĩa là dù người đó mình dễ mến mấy đi nữa cũng là người tốt, dù người đó mình dễ ghét mấy đi nữa cũng là người tốt, không có oán, không có ghét ai hết, thì đó mới thật là người tu.


Ở trong quí sư của mình lâu lâu có oán ghét ai không? Thấy ông thầy đó dễ ghét quá, có cái đó không? Chúng ta không có ghét người nào, người nào cũng là huynh đệ với mình hết, đều là đồng đạo mà. Nếu họ làm sai mình thương để mà nhắc, chớ không phải giận để mà rầy. Hai lời đó, thương nhắc giận rầy, quí vị thấy khác nhau không? Có người nói, tại khó dạy quá cho nên giận tôi la nó, đó là để cho nó hết tật xấu, vậy đó là lòng từ bi, thật từ bi chưa? La riết rồi người ta gọi mình là thầy chùa lữa, chớ không thành cái gì hết.


Mình từ bi thì nói rầy bằng cái thương, chớ không phải bằng cái giận. Nhớ như vậy đó thì người tu mới xứng đáng là người tu. Bởi vậy ở đây, Ngài bảo mình không nên bởi những cái chê bai rồi sanh ra có oán, có thân. Nếu mình có oán, có thân thì không đủ tiêu biểu cho đức từ bi, nhẫn nhục của mình. Từ bi, nhẫn nhục thì không có sân; mà sân thì tiêu hết từ bi, nhẫn nhục. Quí vị nhớ, nhớ cho thật kỹ.

***************************************************
HT. Thích Thanh Từ giảng
http://tvsungphuc.net/?option=com_content&task=view&id=723
Hình ảnh
*****************************************

(Còn tiếp...)

**************
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Chứng Đạo Ca (Vĩnh Gia Đại Sư)

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 6 27 Tháng 6, 2014 7:15 pm

Vĩnh Gia Chứng Ðạo Ca Sa-Môn Huyền Giác soạn

Chánh Văn:17

Tông cũng thông, thuyết cũng thông,
Định huệ sáng tròn chẳng trệ không.
Nào phải mình ta riêng đạt đấy,
Hằng sa chư Phật thể chung đồng.


Giải:

Đây ngài nói cho chúng ta biết chỗ tu mà ngài đã đến.

Tông diệc thông, thuyết diệc thông, là tông cũng thông, thuyết cũng thông. Tại sao? Trong nhà Phật nói, tông là chỉ cho thiền nên gọi là thiền tông; thuyết là chỉ cho pháp nên gọi là thuyết pháp đó. Người tu thông suốt cả thiền, thông suốt cả chánh pháp của Phật, thông suốt cả hai nên gọi là tông thông thuyết thông.


Mà thông suốt được cả hai như vậy mới có, Định huệ viên minh bất trệ không. Tức là được định và huệ tròn sáng, không có kẹt, không có mắc ở nơi chỗ không. Không là chấp không hay kẹt nơi không.
Như vậy người tu trong đạo Phật phải thấu suốt được hai mặt, một là thấu suốt được thiền, hai là thấu suốt được giáo. Thông suốt giáo lý Phật và thông suốt đường lối tu thiền thì người như vậy đó mới tròn đầy cái định và cái huệ.

Thiền thì định, pháp thì huệ; hai cái tròn đủ đầy sáng thì mới không mắc kẹt, dính nơi chấp có chấp không, hay là dính nơi chỗ mà rơi vào không.


Phi đản ngã kim độc đạt liễu,
Hà sa chư Phật thể giai đồng.

Chẳng phải chỉ có mình tôi riêng đạt liễu. Liễu là rồi, là xong việc này. Mà hà sa chư Phật cái thể cũng đồng như vậy.
Ngài nói rằng chỗ tông thông, thuyết thông này đã được thông suốt rồi thì định và huệ tròn sáng không mắc kẹt, không có vướng cái gì hết. Không phải riêng ngài tu được như vậy, mà cả chư Phật đều đồng được như vậy hết.


Vậy nhìn lại người tu hiện giờ tông và thuyết thông chưa? Đó là một câu hỏi để rồi chúng ta nếu thấy còn thiếu, phải ráng cho đủ.

Tông là thiền, thuyết là giáo, cả hai thiền và giáo phải thông suốt. Cho nên tôi chủ trương thiền, giáo song hành đó, cả hai cái phải thông suốt hết. Như vậy thì định và huệ mình mới được tròn sáng. Nếu thông một bên, mà chưa thông bên kia thì chưa đầy đủ định huệ.


Thời của chúng ta bây giờ có hai cái tệ. Có người tu thì nói tôi chuyên tu thôi không cần học giáo lý, như chuyên tu thiền là thuộc về tông, mà không có giáo lý tức là thiếu về thuyết.

Hoặc có người chuyên học giáo lý mà không chịu tu thiền, cứ đem giáo lý nói mà không tu, như vậy thì có huệ mà không có định. Nếu mình chuyên tu được định thì không có huệ. Như vậy đạo Phật không cho phép mình nghiêng một bên mà phải có cả định, có cả huệ.

Định huệ được tròn sáng thì mới xứng đáng người tu theo Phật.


Vậy ngài nói tông thông, thuyết thông không phải là việc riêng của ngài, ngài được; mà hằng sa chư Phật cũng đều như vậy hết, các Ngài cũng đồng tông thông thuyết thông chớ không có Đức Phật nào mà chỉ có một bên. Cho nên từ chỗ thấy của ngài Huyền Giác, ngài thấy rõ người tu phải thông suốt về tông là thiền, và phải thông suốt về giáo lý là kinh.

Hai cái đó phải thông suốt đầy đủ, rồi tu đầy đủ thì chừng đó mới được trí tuệ tròn sáng. Không phải một người như vậy mà chư Phật từ trước tới giờ thành đạo cũng đều tông thuyết đều thông. Đó là ngài nói chung để cho tất cả chúng ta hiểu.

***************************************************
HT. Thích Thanh Từ giảng
http://tvsungphuc.net/?option=com_content&task=view&id=723
Hình ảnh
*****************************************

(Còn tiếp...)

**************
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Chứng Đạo Ca (Vĩnh Gia Đại Sư)

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 7 28 Tháng 6, 2014 4:32 pm

Vĩnh Gia Chứng Ðạo Ca Sa-Môn Huyền Giác soạn

Chánh Văn:18

Sư tử hống thuyết vơ uý,
Trăm thú nghe qua xé óc tủy .
Hương tượng chạy dài hết liệt uy,
Thiên long lặng ngóng lòng hoan hỉ
.

Giải:

Ngài nói con sư tử mà nó rống lên thì rống lên những lời không có sợ sệt, những lời tự tại. Tiếng rống con sư tử là tiếng rống tự tại, không sợ sệt, không e dè. Bởi vậy nên cả trăm con thú mà nghe tiếng rống đó thì đầu óc muốn ran muốn bể vậy đó, người ta nói muốn tét não ra. Tại sao vậy? Bởi vì những lời nói chân thật thì những người tầm thường hèn hạ họ không hiểu nổi, cho nên họ hoảng hốt, sợ sệt.


Chỗ này tôi dùng một hai thí dụ nhỏ cho quí vị thấy. Như tất cả chúng ta ngày nay, quí vị nghĩ có người nào mà không muốn được nghe, được biết những lẽ thật không? Ai cũng muốn nghe, cũng muốn biết được lẽ thật. Thế mà khi nói lẽ thật, quí vị chịu nghe không? Hay là hoảng sợ?


Thí dụ như tới ba mươi tết mà một vị tăng, vị ni nào lại mừng tuổi tôi, chúc mừng thầy năm nay chết sớm, nghe câu đó quí vị chịu không? Có mắng ông thầy đó điên không? Nhưng đó đâu phải là lời nói tội lỗi gì? Người nghe câu chúc chết sớm đó thì nên mừng hay nên sợ? Huynh tốt đó, huynh chúc vậy thì năm nay tôi tu rút.

Chết sớm phải tu rút chớ tu lơ mơ đâu được, như vậy là giúp cho mình. Còn người không hiểu biết nhiều, nghe chúc chết sớm cái hỏang nói ông này trù tôi nè, ông rủa tôi nè, nổi sanh hận lên.


Như vậy thì cũng một câu nói, mà người biết thì tốt lành, người không biết thì trở thành thù oán. Người trở thành thù oán nhiều hay ít? Chắc nhiều quá, đầu năm mà lại chúc anh chị năm nay chết sớm, thì chắc họ chửi liền, họ đuổi ra khỏi nhà. Gần như trăm người như một, chớ ít có người nào nghe nói chết sớm cái cười bảo phải rồi, được mừng, anh nhắc tôi đó năm nay tôi ráng tu nhiều, ít có người nói câu đó lắm phải không. Chớ còn đuổi ra khỏi nhà là thường.

Như vậy thì lời nói chân thật lợi ích, bởi vì Phật nói mạng sống bao lâu? Trong hơi thở mà anh này, chị này chúc mình tới một năm lận mà. Năm nay chết sớm thì cả mấy tháng nữa mới chết, thì như vậy cũng còn xa đó chớ, tại sao nổi giận.

Phật nói mạng sống trong hơi thở mà mình chịu, người ta chúc mình tới mấy tháng nữa mới chết mà lại giận. Tại sao vậy?

Bởi vì lời nói thật thì người ta lại sợ. Còn lời nói chúc anh chị năm mới sống bá niên trường thọ. Chịu không? Có mấy người được bá niên? Vậy chuyện đó là chúc rỗng, không có lẽ thật mà lại ưa. Còn người ta chúc thật chết sớm một chút, mà mình nghe chết sớm lại hoảng ráng mà tu thì như vậy hay biết mấy mà không chịu.


Quí vị thấy tiếng rống của sư tử không có sợ, mà cả trăm con thú ngoài sư tử ra nghe thì hoảng hốt hết. Lời nói thật của Phật nói đúng như thật, như sư tở rống vậy, mà các lời thú hoảng hốt.


Hương tượng bôn ba thất khước uy, tức là con voi lớn nghe tiếng rống của sư tử cũng hoảng hốt mà chạy.
Thiên long tịch thính sanh hân duyệt. Tức long thiên có thể lặng nghe tiếng rống của sư tử đó mà được vui vẻ.

Đây là nói lời chân thật của chánh pháp hay lời chân thật của Phật nói ra giống như tiếng sư tử rống, đã giống như sư tử rống nên các loài thú sợ. Cũng vậy chúng ta nghe lời Phật nói chân thật mà chúng ta nghe cũng hoảng hốt. Nếu mà ai hỏi huynh sống bao lâu thì nói tám mươi, chín mươi tuổi nghe không sợ chút nào hết.

Nói anh sống trong hơi thở thì giựt mình. Nghe nó lạ tai quá, khó chịu quá. Nhưng đó là lẽ thật, có ai thở khì ra không hít vô mà lại sống đâu?

Chỉ có hơi thở là định thời gian sống chết đúng như thật, còn cái tuổi không đúng. Ai mà bảo đảm mình tới tuổi nào, tới ngày nào, sơ sẩy một chút là chết rồi. Cho nên chỉ thở khì ra không hít lại là chết, nghe nó mỏng manh, nó tạm bợ hết sức, nhưng đó là một chân lý, một lẽ thật.


Những lời chân thật đó, những người yếu, người không can đảm nghe chịu không nổi. Nên nói rằng các loài thú khi nghe tiếng rống sư tử muốn xé óc, muốn bể đầu, cho nên ai nói câu gì nặng mình nói tôi nghe muốn bể óc. Tức những lời nói chịu không nổi, mà những lời nói đó là lời nói thật. Kể cả những người tu khá khá như con voi là ai? Là các sư, các ni ở chùa, tu khá khá hơn một chút mà nghe cái đó cũng còn không vui một chút nào hết, cũng còn sợ. Đâu năm nào quí Phật tử vô chúc tết quí thầy, quí cô, quì xuống thưa năm nay con chúc thầy sống được mười ngày, thử coi thầy có cười không? Hay là thầy sợ? Nói bậy.


Đó là lời nói để cho quí vị xét, hương tượng là chỉ cho mấy vị khá khá đó, người biết đạo lý mà còn phải sợ tiếng rống của sư tử. Chỉ thiên long tức các cõi trời và loài thiên long, thường thường người ta nói long thiên hộ pháp đồ đó, thì lặng lẽ nghe lời Phật nói mà sanh vui vẻ. Những người nào thấm nhuần đạo lý mà rất là cao siêu, rất là thấu đáo thì nghe những lời đó mới vui, mới thích. Chớ còn những hạng thường kia thì hoảng hốt hết. Đó là ngài nói lên cái giá trị chánh pháp của Phật nó cao siêu, người thường ít có thấm, ít thấu hiểu; cho tới bậc hơi khá khá cũng còn sợ thay.

***************************************************
HT. Thích Thanh Từ giảng
http://tvsungphuc.net/?option=com_content&task=view&id=723
Hình ảnh
*****************************************

(Còn tiếp...)

**************
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Chứng Đạo Ca (Vĩnh Gia Đại Sư)

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 3 01 Tháng 7, 2014 2:57 pm

Vĩnh Gia Chứng Ðạo Ca Sa-Môn Huyền Giác soạn

Chánh Văn:19

Chơi biển cả, dạo rừng thiêng,
Tìm thầy hỏi lấy đạo tham thiền.
Từ ngày rõ nẻo Tào Khê ấy,
Mới hay sống chết chẳng tương can.


Giải

Du giang hải, là dạo biển sông; thiệp sơn xuyên, là đi trong rừng trong suối
Tầm sư phỏng đạo vị tham thiền, là tìm thầy để hỏi đạo gọi đó là tham thiền. Tham thiền là gì?

Tham là tham vấn, thiền là thiền định hay thiền tông. Chúng ta đi chỗ này đến chỗ kia, qua sông leo suối để tìm thầy học đạo. Tìm thầy học đạo gọi đó là tham thiền.

Ở đây ngài không phải nói chung, mà muốn nói riêng cho ngài đã từng đi trên sông trên biển, từng lội suối trèo non để tìm thầy học đạo, gọi đó là đi tham thiền.


Tự tòng nhận đắc Tào Khê lộ, là từ khi nhận được con đường của Tào Khê. Đường Tào Khê là đường nào? Đường của Lục Tổ. Nhận được con đường của Lục Tổ chỉ dạy rồi thì:

Liễu tri sanh tử bất tương can
biết rõ sanh tử không còn vướng mắc nữa.
Như vậy ngài tán thán Lục Tổ. Sở dĩ ngài tầm sư học đạo nơi này nơi kia, qua sông xuống biển, lội suối trèo non để tìm kiếm thưa hỏi thì gọi là ngài đi tham thiền.
Nhưng từ khi nhận được lời chỉ dạy của Lục Tổ rồi thì ngay nơi đó đó ngài thấy rõ ràng sanh tử không còn vướng mắc gì nữa hết.


Quí vị thấy học đạo không có vướng mắc sanh tử, không vướng mắc sanh tử mà ngài có chết không? Câu này là câu tôi muốn hỏi cho tất cả quí vị chú ý. Ngài Huyền Giác có chết không? Nếu có chết thì sanh tử có vướng không? Nếu không vướng thì không có sanh tử, mà vướng là còn sanh tử. Bốn mươi ngoài tuổi ngài đã tịch rồi, thì còn sanh tử không! Đó là chỗ tôi muốn nói cho tất cả chú ý hiểu tường tận lý đạo.


Tôi lập lại, Lục Tổ bài thuyết pháp đầu tiên của ngài là khi ngộ được tâm ấn của Ngũ Tổ trong đêm nghe giảng kinh Kim Cang.
Rồi Ngũ Tổ bảo đi về phương Nam, thì Lục Tổ vội vả đi. Đi qua sông, rồi tìm đường về phương nam thì bị các sư trong chùa đuổi theo.

Hôm sau chúng trong chùa không thấy Ngũ Tổ mở cửa thất, mà đóng cửa cả ngày. Lấy làm lạ vô hỏi, tại sao Hoà Thượng đóng của thất, thì Tổ nói đã trao y bát đi về phương nam rồi.

Hồi xưa Thiền tông, ai được truyền y bát là người đó lãnh trách nhiệm để giáo hóa thay cho Tổ. Giờ đi về phương nam thì còn cái gì nữa mà trao cho người thứ hai, thứ ba, cho nên toàn chúng xôn xao về phương nam là ai. Bấy giờ mới xét lại, chỉ ngài Huệ Năng giả gạo ở dưới nhà bếp, đi kiếm coi còn ở dưới không. Đi kiếm thì ngài mất tiêu, vì ngài ở phương nam, liền đuổi theo.


Khi đuổi theo, có một người tướng đi tu cởi ngựa giỏi lắm, ông đi đầu hết nên tìm kịp ngài. Thấy vậy, Lục Tổ bỏ y bát ở ngoài, ngài chui vô bụi trốn.

Ông tướng đó hiệu là Huệ Minh, thấy y bát mừng quá chạy lại ôm lên nhưng nặng quá ôm không nổi, thì ông biết đây là vật phi thường không thể đem tâm phàm tục mà giành giựt được.

Nên ông để xuống và đổi tâm đuổi theo giành y bát, thành tâm kính mến học đạo, liền kêu:

“Hành giả, hành giả, tôi đến đây không phải vì y bát, mà vì pháp”.

Tổ ở trong bụi nghe nói vì pháp thì liền ra, nói:

“Nếu ông vì pháp thì hãy đứng yên lặng ta sẽ nói cho”.

Huệ Minh đứng yên lặng giây lâu, Lục Tổ nói:

“Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, cái gì là bản lai diện mục của Thượng Tọa Minh?”.

Ngay đó ông ngộ. Quí vị ngộ chưa? Tại sao mà người ta nghe câu đó người ta ngộ mà mình không ngộ?

Đó là một vấn đề. Tôi chỉ cho q v thấy, tại sao chỉ có một câu nói đơn giản vậy mà là một bài pháp? Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, cái gì là bản lai diện mục của Thượng Tọa Minh?


Nói như vậy thì quí vị khó hiểu. Bây giờ tôi nói lại khi quí vị ngồi chơi một mình, không nghĩ phải, không nghĩ quấy, không nghĩ hơn, không nghĩ thua thì lúc đó quí vị có biết?

Ngồi một mình không nghĩ cái gì hết, thì có biết không? Nếu không biết thì chim kêu sao nghe, gió thổi sao biết mát, rồi người đi sao mình thấy.
Như vậy thì mắt đang thấy, tai đang nghe, thân biết xúc chạm thì đang biết chớ đâu phải không biết. Nhưng mình quên cái biết thường trực đó gọi là bản lai diện mục củ mình đi, mà chỉ nhớ cái biết hơn thua, phải quấy, tốt xấu.

Nhớ cái biết đó hoài trong đầu mình, hết cái phải qua cái quấy, lăng xăng lăng xăng tối ngày mà cái thật của mình quên mất.

Nhưng Lục Tổ bảo không nghĩ thiện, không nghĩ ác, tức là lúc đó không nghĩ hai bên, mà không nghĩ hai bên thì cái gì là bản lai diện mục của Thượng Tọa Minh?

Thì ông nhận ra lúc không nghĩ hai bên đó là cái biết chân thật hiện tiền. Quí vị có cái đó không, có người nào thiếu cái đó không? Mà sao không chịu nhớ cái đó. Đi kiếm cái gì đâu, kiếm Phật ở trên trời trên mây, cho nên nhà thiền gọi là cổng Phật đi tìm Phật, cởi trâu đi tìm trâu.


Như vậy thì quí vị xét kỷ coi, chúng ta tu thiền ngồi lại bỏ vọng tưởng là bỏ cái biết lăng xăng đó chớ gì.

Vọng tưởng lúc nào lặng quí vị biết không? Cái chân thật hiện tiền. Mà mình thôi trong đầu lung tung, lang tang, hết cái này tới cái kia, hết cái kia tới cái nọ. Nhiều cái đáng nghĩ nghĩ cũng được đi, cái tầm bậy cũng nghĩ nữa.

Có nghĩ bậy không? Như vậy mình bâng quơ, lăng xăng, lộn xộn, cho nên Phật chê là điên đảo đó không có gì hết. Lẻ ra, ngày nay làm việc gì thì nghĩ làm việc đó sao sao xong rồi từ đó yên không nghĩ gì hết khỏe cái đầu biết mấy. Nhưng vừa đi, vừa nghĩ tùm lum.


Có nhiều khi tôi nói, quí vị thấy người nào đi đường mà nói làm xàm một mình, quí vị gọi là người gì?

Người điên. Bây giờ trong đầu mình có nói làm xàm không? Cho tới đi tiểu, đi đại mà cũng còn nghĩ nữa, còn làm xàm ở trong hoài.

Đi ra ngoài, đi đâu cũng làm xàm một mình hà, nó không ra lời, mà nó ở trong này nè, nó nhỏ nhỏ ở trong ấy thì mình có điên không?

Bởi vậy Phật mới nói mình là điên đảo, sống trong điên đảo.


Quí vị tập bao giờ mà đi chỉ biết đi, rồi ăn cơm chỉ biết ăn cơm, làm việc chỉ biết làm việc thì quí vị thiền rồi. Mà thiền là gì? Là sống trở lại tâm thanh tịnh lặng lẽ của mình. Chữ thiền là tỉnh lự là dừng cái nghĩ suy chớ có gì đâu.


Vậy chuyện tu không phải là chuyện trên trời trên mây, mà tu là giải quyết cái thằng điên làm xàm của mình nó đi.
Thằng điên làm xàm nó cứ nói nhảm nhí trong đầu mình hoài đó, mình giải quyết nó để cho mình được tự chủ.

Khi cần nghĩ sẽ cho nghĩ, không cần thì thôi yên lặng. Được vậy đó là tu giỏi. Như vậy nói đi thiền, ngồi thiền, nói đứng gì cũng thiền hết.

Còn mình bây giờ ngồi thiền mà cũng còn ráng mà nghĩ nữa chớ, chuyện không cho nghĩ mà cứ nghĩ, chịu nổi không. Như vậy thì quí vị thấy chúng ta yếu đuối, lộn xộn làm sao đâu, không có tự chủ chút nào hết.

Nếu mình biết tu tự chủ là buông hết. Bây giờ quí vị buông hết những cái lăng xăng lộn xộn, thì cái đầu quí vị nhẹ không. Rồi cái nào cần nghĩ thì cho nghĩ năm phút, ba phút rồi việc đó thôi, dẹp sổ để yên lặng. Vậy đó là khéo tu. Còn mình bây giờ lộn xộn quá, cả ngày lộn xộn. Như tu ở trên chùa là thỉnh thơi, không có chuyện gì đó, mà cũng còn lộn xộn, chuyện của thế gian đâu đâu cũng chen vô, đủ thứ chuyện, tội nghiệp thay.


Còn ở ngoài chuyện của thế gian ở đâu đâu, tôi thấy thật là chúng ta cùng điên với nhau cả đám. Chuyện ở bên tây, bên Tàu ai chửi mắng ai mình cũng muốn nghe, kiếm nghe, nghe vô rồi tối ngồi lại nhớ. Vậy rồi cứ lộn xộn trong đầu hoài, có yên ổn lúc nào đâu.


Như vậy thì niệm Phật để làm chi? Để bỏ hết những loạn tưởng, dừng câu niệm Phật bỏ hết loạn tưởng, tâm mình nó yên định rồi mới thấy Phật. Niệm Phật cũng muốn được nhất tâm, tu thiền cũng muốn định mà cứ nhớ chuyện bậy bạ thế gian hoài thì chừng nào nhất tâm, chừng nào được định? Chừng nào? Không dám bỏ.

Bây giờ tôi nói rằng, chúng ta biết tu rồi có quyền nghĩ, nghĩ cái gì cần nghĩ, nghĩ xong rồi dẹp sổ không cho nó nghĩ nữa. Như vậy thì khỏe cái đầu, ngày nào đi đâu mình cũng thảnh thơi. Còn cái này đi đâu chuyện ở trên trời trên mây cũng nhớ, chuyện năm trên năm dưới cũng nhớ, cứ ôn tới ôn lui, tầm bậy tầm bạ mà cứ nhớ hoài, nó điên đảo vậy đó.


Như vậy quí vị hiểu cái tu chưa? Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, thì cái bản lai diện mục hiện tiền chớ gì. Hết sức đơn giản, hết sức dễ dàng, mà cụ thể mình đang có, cái mình đang có mà mình quên chạy theo cái lăng xăng lộn xộn đó.

Cái lăng xăng lộn xộn đó mình nuôi nó trong đầu hoài, rồi nói khó tu quá. Ai làm mình khó? Tại mình nuôi dưỡng cái thứ không ra gì đó phải không, lộn xộn lăng xăng.
Bây giờ mình lọc đi, cái gì cho nghĩ thì nghĩ. Thí dụ nghe kinh, nghe giảng thì cho theo dõi nghe đi, còn chuyện gì bên ngoài kệ họ bỏ qua.


Bây giờ chúng ta thì sao? Đang đi đường xe chạy suông sẻ mà thấy có hai ba người lúm xúm rầy lộm , chủi lộn muốn dừng lại nghe.

Nghe để làm gì chớ? Chuyện của họ chớ phải chuyện của mình đâu, mà mình đâu phải cảnh sát dừng lại bắt họ xử.
Vậy đó mà động tới thì dừng lại muốn nghe, muốn biết, muốn thấy, rồi đủ thứ chuyện, can thiệp vào chuyện thiên hạ quá chừng, quá đổi đi.

Chuyện của người ta nói thầm thầm nhau cũng ráng lắng tai nghe coi nói cái gì. Như vậy thì tất cả mình đều muốn gom vô trong cái đầu của mình, mà gom hết vô đó rồi ngồi thiền bỏ không được mới than tu khó quá. Bây giờ đừng đem vô nhiều thì tự nhiên bỏ ra dễ ợt chớ có gì khó.


Hiểu vậy thì quí vị mới thấy cái tu hết sức là đơn giản, mà Đức Phật đã thấy, rồi Ngài chỉ cho các Tổ. Các Tổ nhận được điều đó, các ngài đã sống tự tại, mình bây giờ tu cũng vậy thôi. Cho nên tu Thiền hay tu Tịnh gì cũng là phải dừng tâm loạn tưởng.

Niệm Phật mà không nhất tâm thì sao về Cực Lạc, mà nhất tâm thì hết loạn tưởng rồi, thì Cực lạc hiện tiền. Mình ngồi thiền cũng vậy, không nghĩ thiện, không nghĩ ác, tức là cái gì hai bên mình không được nghĩ, lặng hết tâm suy nghĩ thì đó là định. Như vậy cái chân thật của mình nó đầy đủ, không có thiếu chút nào hết.


Quí vị xét kỹ tu Phật khó hay dễ? Nếu khó thì tôi cũng thấy vô lý, chuyện đó của mình tại mình tập, bây giờ mình bỏ có gì đâu khó. Cũng như hồi đó tới giờ quí vị tập ăn mặn, bây giờ tập ăn chay lại bỏ ăn mặn chớ có gì đâu. Vậy đó mà cũng than khó.


Còn cái chuyện tìm Phật, nếu tìm Phật ở Ấn Độ hoặc ở đâu đâu thì xa khó. Còn Phật là ngay cái hiện tại của mình đây, hết nghĩ lăng xăng thì ông Phật thật của mình hiện ra, nên nói Phật tức tâm đó, ngay nơi tâm mình chớ đâu xa. Mà không dừng cái nghĩ lăng xăng thì ông Phật không hiện, bởi nhớ cái lăng xăng thì đâu có nhớ Phật. Quên hết lăng xăng đó là nhớ Phật. Như vậy ngồi định là để quên cái lăng xăng chớ gì đâu.


Rất là dễ mà chúng ta tu thấy thật là khó, là tại vì quá quen thói điên đảo rồi. Bây giờ muốn buông bỏ thói điên đảo hết sức khó, chớ còn thật không phải khó.

Nếu Phật dạy mình phải đi ra khỏi biển bao nhiêu trăm cây số, tìm đảo nào có Phật lên đó tu mới được, thì nói mình không phương tiện làm sao đi, xa tìm không được. Còn cái này, ngay nơi mình có sẳn. Có ai mà ngồi một giờ, nữa giờ không suy nghĩ cá gì hết, mà vẫn biết rõ ràng không?


Mình ngồi không suy nghĩ thì vẫn biết, chớ không biết đâu nhưng tại trong đầu lăng xăng nên quên hết những cái biết hiện tại. Giờ trở về cái biết hiện tại là bỏ cái lăng xăng thôi chớ không gì hết, mà cái biết hiện tại là biết Phật nên tâm tức Phật, Phật tức tướng là vậy đó, quí vị hiểu được ý đó.


Như vậy thì chúng ta khi nhận được đường của Tổ Tào Khê là Lục Tổ đó, tức không nghĩ thiện, không nghĩ ác, thì Liễu tri sanh tử bất tương can tức không nghĩ thiện, không nghĩ ác thì việc sanh tử có dính dáng gì với mình không?


Chỗ này tôi nói thêm cho quí vị hiểu. Mỗi khi sám hối, tôi hồi xưa thì quen sám hối bản chữ Hán, tới sám hối chót nói tột cùng là:

Tội tánh bổn không do tâm tạo,
Tâm nhược diệt thời tội diệt vong.
Tội vong tâm diệt lưỡng câu không,
Thị tắc danh vi chơn sám hối.


Tội tánh bổn không là tánh tội nó là không. Nhưng tại sao có?

Vì do tâm mình tạo. Tâm mình nghĩ xấu nghĩ ác rồi mới làm xấu làm ác, nói xấu nói ác thì thành tội. Như vậy tội tự nó có sẳn không?

Nó không có, mà có từ tâm mình ra. Muốn hết tội thì trước phải hết cái gì?

Hết cái tâm, hết tâm xấu tâm ác đó. Vậy đó mà bây giờ Phật tử mình cứ ba mươi, rằm đi tới chùa sám hối, quì lạy đã rồi về nói bửa nay hết rồi, tội lỗi tháng này tôi sám hối rồi phải không.
Mà tâm ác không sám hối chút nào hết, không bỏ chút nào hết, thì hết tội được không?

Tâm là gốc của tội, là đầu mối của tội mà mình không chừa cái đó, đi bỏ cái ngọn thì làm sao bỏ được.
Như vậy tội không có thật, mà gốc từ tâm mình.
Nếu tâm mình dứt được niệm thiện, niệm ác, không còn những niệm nghĩ đó nữa thì tội còn không?

Tâm mình dứt được thì tội mình cũng theo đó mà hết. Cho nên nói tội hết, tâm cũng không rồi, thì đó mới thật chơn sám hối. Bởi vì còn khởi niệm tốt xấu hơn thua là còn tạo nghiệp, tạo nghiệp thì thành tội. Giờ dứt tâm nghĩ phải nghĩ quấy, hơn thua thì đâu còn tạo nghiệp, thì tội từ đâu mà ra, làm sao mà có, như vậy mới thật là hết tội.


Quí vị thấy dễ tu chưa? Gốc ở chỗ mình, chớ không phải gốc ở ngoài. Mà cứ đổ thừa tại người này, tại người kia mà tôi khổ. Phải tại người ta không? Hay là tại mình?

Mình sanh chuyện, nghĩ thế này, nghĩ thế nọ, rồi người ta nghĩ không giống mình nên mình tức. Cho nên ở thế gian này, nói thẳng là chúng ta điên đảo quá, điên đảo rồi đổ thừa nhau, cải lộn rùm với nhau hoài đó. Người nào cũng không chịu cái điên đảo của mình, cứ đổ trút qua người khác, vậy đó mà cả ngày bất an.


Bây giờ mình biết rõ tội là do tâm mình nghĩ xấu, nghĩ ác. Giờ lặng được tâm xấu ác rồi thì tội theo đó hết chớ gì. Chớ còn sám hối bao nhiêu, mà tâm xấu ác còn thì không bao giờ hết tội. Nếu tâm xấu ác hết rồi thì tội theo đó mà hết. Tội hết, tâm hết đó mới thật là chơn sám hối. Sám hối vậy mới thật hoàn toàn giải thoát.


Quí vị nghe rõ thì mới thấy cái hay, cái quí của sự tu. Sự tu đây là tu chân thật, chớ không phải là tu tưởng tượng. Chúng ta tu hay tưởng tượng quá hà. Quí vị nghĩ tưởng tượng làm sao?

Ba má chết thỉnh thầy về cầu siêu, cầu siêu cái tưởng tượng thầy cầu siêu thì ba má được về Cực Lạc. Tu đó tu tưởng tượng, chớ thật tình người đứng cầu siêu chưa chắc người đó tin nữa, không tin mình đưa nổi người đó về Cực Lạc đâu.

Vì chính ông thầy tụng có biết Cực lạc là chỗ nào đâu mà đưa, ông chưa từng biết mà bảo ông đưa thì đưa làm sao đây.

Như bây giờ quí vị muốn xuống đò đi đâu đó, mà chỗ đó ông lái đò không biết thì làm sao đưa tới. Bây giờ thầy cầu siêu cho ba mẹ mình về Cực Lạc, mà thầy chưa biết Cực Lạc ở đâu, nghe Phật nói tưởng tượng vậy thôi, rồi mình hài lòng như vậy.

Cho nên cái này mà là cái thật, chúng ta tu dẹp được cái xấu dỡ của mình là cái gốc của tội lỗi, mà xấu dỡ hết thì tội lỗi theo đó hết chớ gì, đó là sự thật. Không tội lỗi thì đi chỗ lành, chỗ tốt khỏi cần đưa đẩy gì hết.


Tôi nói vậy thì quí vị hiểu rõ ý nghĩa, còn mình tưởng tượng thầy tụng như vậy thì ba má mình về Cực Lạc, đó là tu trong tưởng tượng chớ thiếu thực tế. Đó là một việc không phải tôi không đi tụng đám rồi nói như vậy, tại lẽ thật nó như vậy thì phải tôi nói, chớ không để Phật tử chúng ta cứ lầm lẫn làm những việc không có lẽ thật.

Nếu chúng ta thấu suốt được con đường của Lục Tổ, thì mình rõ biết sanh tử không còn can thiệp, không còn dính dáng gì mình nữa hết.

***************************************************
HT. Thích Thanh Từ giảng
http://tvsungphuc.net/?option=com_content&task=view&id=723
Hình ảnh
*****************************************

(Còn tiếp...)

**************
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Chứng Đạo Ca (Vĩnh Gia Đại Sư)

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 7 05 Tháng 7, 2014 3:24 pm

Vĩnh Gia Chứng Ðạo Ca Sa-Môn Huyền Giác soạn

Chánh Văn:20

Đi cũng thiền, ngồi cũng thiền,
Nói im động tịnh thảy an nhiên.
Phỏng gặp gươm đao thường nhẹ hững
Ví nhằm thuốc độc vẫn bồng tênh


Giảng:

Bốn câu này ngài nói:
Đi cũng thiền, ngồi cũng thiền.
Nói nín động tịnh cái thể vẫn an nhiên.


Giả như gặp đao bén, đao nhọn cũng thường tự nhiên, không có dính dáng.
Giả như mình uống lầm thuốc độc mình cũng vẫn tự tại, thảnh thơi chớ không có gì sợ sệt hết.

Vậy bốn câu nói, hồi xưa tôi cũng hơi khó hiểu. Tôi nghĩ ngồi thiền mới là thiền, còn đi làm sao thiền được. Mà nói đi cũng thiền, ngồi cũng thiền. Rồi nói nín động tịnh thể an nhiên, thì khi nói nín động tịnh là nó lăng xăng rồi đâu có thiền, mà nói an nhiên.

Nhưng thật ra như khi nảy tôi nói, đi mà mình chỉ biết đi, trong đầu không có cái gì lăng xăng lộn xộn, thì đi đó là thiền. Đi mà trong đầu không nghĩ bậy, nghĩ bạ vơ vẫn cái gì hết, đi đó là thiền rồi. Ngồi mà tâm mình nó lặng lẽ, không dấy động, đó là thiền. Ngồi để tâm lặng lẽ không dấy động, đi để tâm lặng lẽ không dấy động thì cũng như nhau.

Cái trọng tâm là tâm lặng lẽ không dấy động, còn mình đi thì nghĩ tứ tung thành ra không có thiền. Nhiều khi nói thiền hành tức là đi, mà đi chừng năm ba bước thì nghĩ chuyện hôm qua hôm kia, ba bốn bước nghĩ hôm kia hôm qua, cứ nghĩ tới nghĩ lui hoài, chuyện không đáng cũng nghĩ như vậy có thiền chưa? Đi thiền mà không phải thiền.


Còn mình không chú ý đi thiền hành gì hết, đi làm đi tới đi lui, nhưng mà không để cái đầu mình nó lăng xăng lộn xộn, buông xả thảnh thơi, đi biết mình đang đi, thì đó là đi thiền. Rồi ngồi chỉ biết đang ngồi, tâm không có lộn xộn, không nghĩ trước nghĩ sau..v.v… thì đó là thiền. Ngồi trước bàn Phật cũng thiền, ngồi trên võng cũng thiền phải không, chớ đâu phải ngồi nghiêm chỉnh mới thiền. Nhiều khi ngồi nghiêm chỉnh trước bàn Phật mà cái đầu nó chạy tứ tung, xứ này xứ nọ, có thiền được không? Bởi vậy nên mình biết trọng tâm thiền là tâm lặng lẽ.


Cho nên định nghĩa chữ thiền một lần nữa cho quí vị nhớ. Thiền là đúng là thiền na theo âm chữ Phạn, Trung Hoa dịch là tịnh lự. Tịnh là lặng, lự là suy gẫm. Lặng những cái suy gẫm mình gọi là thiền chớ có gì đâu. Như vậy đi mà không suy nghĩ lăng xăng thì đi không thiền là gì! Rồi ngồi mà không suy nghĩ lăng xăng thì ngồi đó là thiền.

Nhưng tại vì mình quá ư là lôi thôi, tôi có thể nói một từ mà quí vị hơi khó chịu một chút là tại mình điên lậm quá. Chúng ta điên lậm quá, nên cứ làm xàm hoài, không thể nào kềm được. Bắt buộc phải đến trước bàn Phật mặc áo nghiêm chỉnh rồi ngồi kiết già kềm cho nó đở lộn xộn.

Tại điên nặng, bệnh nặng nên thuốc cũng hơi nặng một chút, cho nó đau chân mà phải cố gắng kềm nó mới từ từ dịu. Chớ còn nếu để thường thường nói đi cũng thiền, mà đi cứ nghĩ hoài thì chừng nào thành thiền.


Vì vậy mà bắt buộc phải ngồi nữa giờ, một giờ nghiêm chỉnh, thì giả sử ở ngoài nữa giờ đó mình nghĩ một trăm lần, còn mình ngồi mình kềm nghĩ tám chục lần đở hơn một chút. Rồi lần lần còn năm chục, lần lần còn bốn chục, ba chục thì đó là giãm từ từ.

Giãm cái đó thì gọi là giãm cái gì? Quí vị dùng từ cho xứng đáng coi. Giãm vọng tưởng là nói nhẹ đó, chớ đúng ra nói giãm điên loạn của mình. Giờ đó là giờ ngồi tu mà chuyện đâu đâu cũng nghĩ thì không phải điên loạn là gì! Những điên loạn nó từ từ giãm bớt. Đó như vậy mới hiểu được ý nghĩ ngồi thiền, ý nghĩa tu thiền, chớ không thì chúng ta tu mà không biết rõ ý nghĩa của nó.


Trong nhà thiền thường nói đi đứng nằm ngồi gì cũng thiền hết, là tại chỗ đó đó. Cho nên nói:
Ngữ mặc động tịnh thể an nhiên. Ngữ là nói, mặc là nín. Khi động, khi tịnh thì tâm mình nó cũng an nhiên tự tại. Thí dụ quí Phật tử ở nhà những người nào thợ may, thì cứ ngồi nhắm thẳng đường may mà may thì đó là động, nhưng mà tâm mình vẫn an. Thợ mộc đang bào, đang đục mà tâm không nghĩ gì hết, đó cũng là an. Như vậy dù có động, dù có tịnh cái thể nó vẫn an ổn, không có gì hết, chớ không phải ngồi yên mới được an.

Dù gặp đao bén, đao nhọn mình vẫn thản nhiên không sợ. Giả sử gặp thuốc độc hay bị thuốc độc mình cũng vẫn thảnh thơi nhàn hạ, không có gì mà bực bội khổ đau. Như vậy cái tu của mình tới cảnh bình thường tâm mình lặng, trong cảnh rất hiểm nguy tâm mình cũng lặng, được như vậy đó là mới tự tại, mới giải thoát.

Bây giờ bước đầu, trong cảnh bình thường mà lặng là phước lắm rồi. Cho nên quí vị thấy giờ ngồi thiền ở trên chùa, phải vô ngồi yên, rồi không được ai động cái gì hết. Ngồi cho lặng để tập cho nó yên lần lần. Chừng nào quí vị giỏi rồi đi ra đường thiên hạ làm gì thì làm, nói gì thì nói, mình cũng không thèm dính thì đó rất hay. Cho tới gặp những lúc tai họa tới ầm ầm trên đầu mình, mình cũng vẫn tự tại, thì đó là thành công viên mãn. Đó là tới cái chỗ này, cho nên ngài nói:



Túng ngộ phong đao thường thản thản,
Giả nhiêu độc dược dã nhàn nhàn.

Dù cho gặp đao bén mình cũng vẫn coi nó rất là thường, giả sử như bị thuốc độc mình cũng đếm xỉa gì hết, tự tại, vì vậy mà sống chết tự tại. Vì tất cả đao bén, thuốc độc là cái tử, đem cái chết đến cho mình, mà mình đã sanh tử tự nhiên, sanh tử là trò chơi, thì hai cái đó mình hết sợ.

Bây giờ mình nói sanh tử là thật, sống là thật; sống là thật sống, chết là thật chết. Nhưng thật ra có cái sống thật, chết thật không? Bởi vì hiểu được lý luân hồi của đạo Phật thì sanh tức rồi tử, mà tử tức là sẽ sanh. Như vậy tử có thật tử đâu, mà sanh có thật sanh đâu. Sanh rồi đi tới cái tử, tử rồi trở lại sanh, chớ đâu phải dứt. Như vậy sanh cũng không thật sanh, tử cũng không thật tử, chỉ là vòng lẩn quẩn chớ nó không có gì thật hết, mà chúng ta sợ. Sợ mà khỏi không?


Có người nào không sợ chết không, kể cả người tu? Chắc ai cũng sợ chết hết. Mà có khỏi chết không? Ai cũng chết hết. Cái không khỏi mà sợ thì sáng suốt chưa? Nếu mình sợ vì người người kia chết, người nọ chết mà mình khỏi chết hay người này khỏi chết, thì mình sợ để tránh, mình tìm cách tránh. Nhưng rồi ai cũng chết, kẻ đi sớm, người đi muộn thôi, mà phải chết thì sợ sao được mà sợ. Thôi thì mình tự tại, sống vui sống, chết vui chết, tự tại thảnh thơi, khỏe biết mấy, ra đi mà không hồi hộp, không lo âu gì hết.


Còn chúng ta bây giờ gần chết thì than thở đủ điều, đó là vì tưởng rằng chỉ có mình chết thôi, người khác không chết. Mình đi trước thì bà con đi sau chớ gì. Có người nhìn lại những người sống rồi khổ rơi nước mắt, có gì đâu mình đi trước thời gian rồi người ta cũng đuổi theo, cùng đi với nhau hết trơn, có người nào ở lại mà sợ. Hiểu vậy rồi mình cười trong cái sống, cái chết chớ mình không có sợ, đó là đạo lý thật. Đạo lý thật đó chúng ta hiểu thấu rồi thì chúng ta sống mới an nhàn tự tại. Nếu chúng ta không hiểu, không thấu rồi thì thấy nó như cái gì xa lạ với chúng ta.


Như vậy thì quí vị hiểu tu thiền chưa, mà biết tu thiền của Tổ chưa! Xin đừng nghĩ thiện, nghĩ ác cái rồi, dễ biết mấy. Chuyện đó quí vị kiểm lại coi ai có quyền cho mình không nghĩ thiện, không nghĩ ác?

Mình trọn quyền, nên mình có quyền làm Phật. Mình có quyền mà mình còn dung dưỡng nó thì tội tại ai? Cũng tại mình. Mình có quyền nghĩ, mình cũng có quyền không nghĩ. Giờ nó nghĩ đó cứ để nó nghĩ hoài không cho nó ngưng nghĩ, không bắt nó ngưng nghĩ thì lỗi đó tại mình chớ tại ai. Như vậy thì đừng trách thiên hạ, mà trách mình đi. Mình chưa ưng làm Phật, vậy mà cứ lạy Phật, Phật cho con được đời đời gặp Phật để tu để được thành Phật. Cần gì đời đời, ngay bây giờ đừng thèm nghĩ bậy bạ cái rồi hà, khỏi đời đời chi cho xa xôi.

Cho nên thiền đó là thiền đốn ngộ, đốn ngộ tức là nhanh, mà khả năng mình không giỏi thì nó không nhanh. Người nào đủ khả năng nghe hiểu rồi buông được hết, không cho nghĩ thì nó dừng ngay thì nhanh trở bàn tay chớ không gì lạ hết. Đó là lẽ thật của sự tu./.
***************************************************
HT. Thích Thanh Từ giảng
http://tvsungphuc.net/?option=com_content&task=view&id=723
Hình ảnh
*****************************************

(Còn tiếp...)

**************
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Trang trước

Quay về Chuyên đề Thiền Tông

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến1 khách

cron