Diễn đàn Tu viện Phật giáo Việt nam


HT.T.T.T: Trí vô phân biệt

Thảo luận về kinh điển Thiền.

Các điều hành viên: Sen Hong, Bất Nhị

HT.T.T.T: Trí vô phân biệt

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 2 11 Tháng 3, 2013 9:40 am

Hỏi : Chơn như Pháp tánh đồng một không hai, nếu mê lẽ ra đồng mê, ngộ lẽ ra đồng ngộ, tại sao Phật giác ngộ bản tánh, chúng sanh thì mờ tối, nhơn đâu do vậy?

Đáp : Từ đây về trước là phần bất tư nghì (không nghĩ bàn), không phải chỗ phàm phu đến. Biết tâm nên ngộ, mất tánh nên mê, duyên hiệp liền hiệp, nói không thể định, chỉ tin quả quyết gìn giữ tâm mình.
Kinh Duy Ma nói: “Không tự tánh, không tha tánh, pháp xưa không sanh, nay cũng không diệt, ngộ pháp này liền lìa hai bên vào trí vô phân biệt”.

Nếu người hiểu được nghĩa này, chỉ khi tu biết được pháp yếu giữ tâm là bậc nhất. Ở đây nói giữ tâm là cội gốc của Niết bàn, là yếu môn vào đạo, là tông của mười hai bộ Kinh, là Tổ của chư Phật ba đời.

GIẢNG

I. Hỏi : Chơn như Pháp tánh đồng một không hai, nếu mê lẽ ra đồng mê, ngộ lẽ ra đồng ngộ, tại sao Phật giác ngộ bản tánh, chúng sanh thì mờ tối, nhơn đâu do vậy?

Chổ này để giảng trạch, Đạo Phật nói chơn như bản tánh nó khác hơn Ấn giáo, vì Ấn giáo nói tất cả đều có tự ngã, từ tự ngã đó mà mình khéo tu thì trở về với Phạm Thiên, trở về với Phạm Thiên rồi thì đồng không có khác, như vậy nó thành ra một. Vì vậy ở đây nói: “Chơn như Pháp tánh đồng một không hai, nếu mê lẽ ra đồng mê, ngộ lẽ ra đồng ngộ, tại sao Phật giác ngộ bản tánh, chúng sanh thì mờ tối, nhơn đâu do vậy?” Tại sao đồng mà một bên giác, một bên mê vậy?


II. Đáp: Từ đây về trước là phần bất tư nghì (không nghĩ bàn), không phải chỗ phàm phu đến (vì chổ đó là chổ siêu thoát không phải dùng tâm phàm phu mà biết được). Biết tâm nên ngộ, mất tánh nên mê, duyên hiệp liền hiệp, nói không thể định, chỉ tin quả quyết gìn giữ tâm mình.

Ngài giải thích, chỗ đó dùng trí phàm mà hiểu mà nhận thì không được. Nếu người biết tâm thì người đó ngộ, người mất là người quên mất bản tánh thì người đó mê. Nếu duyên hiệp thì liền hiệp tức là chạy theo duyên, tâm tức là vọng tâm, duyên với sáu trần thì liền hiệp.

“Nói không thể định” là cái đó tùy theo duyên mà hiệp, hiệp thì mổi cái hiệp khác nhau. Hiệp với lành sanh cõi lành, hiệp với dữ sanh cõi ác không thể nào quyết định

“Chỉ tin quả quyết gìn giữ tâm mình”. Gìn giử tâm mình là cái số một trên hết không có cái gì bì được, biết gìn giữ tâm mình là không còn đi theo con đường sanh tử nữa.

III.Đây dẫn Kinh Duy Ma Cật nói:
“Không tự tánh, không tha tánh, pháp xưa không sanh, nay cũng không diệt, ngộ pháp này liền lìa hai bên vào trí vô phân biệt”.

Trong Kinh Duy Ma Cật nói: Cái chơn tâm đó nó không có tự tánh, không có tha tánh tức là không có tánh mình, không có tánh người.
Pháp xưa không sanh là thời gian trước không có, nay cũng không diệt là hiện giờ cũng không mất, ngộ pháp này liền lìa hai bên là không mắc kẹt ở hai bên, đó là đi vào trí vô phân biệt, trí vô phân biệt là chơn tâm chớ không gì hết.

Nói đến chơn tâm là nói đến trí vô phân biệt. Trí vô phân biệt là không biết gì hết phải không? Nếu không biết gì hết thì sao gọi là trí? Trí vô phân biệt với trí thế gian biết rành rẽ thứ này, thứ nọ, thứ kia thì hai cái trí đó có khác nhau không? Nếu trí thế gian biết cái này, cái nọ, cái kia rành rẽ, phân tích mạch lạc thì nói người đó có trí.

Còn cái trí vô phân biệt này là sao? Không phân biệt sao gọi là trí? Đó là cái phải dè dặt, chớ nhiều khi thế gian lấy cái giỏi phân biệt cho đó là trí, ai giảng trạch phân biệt rành rẽ thì cho người đó có trí đó, trí khôn ngoan, nếu lù khù thì nói người đó ngu.

Nhưng trí vô phân biệt có lù khù không? Sao không, như các Tổ nói như ngây như ngu đó, người tu sống với cái trí vô phân biệt như ngây như ngu. Như ngây như ngu là trí hay là ngu? Trí chỗ nào? Lấy cái gì mà gọi nó là trí?

IV.

Khi xưa giảng tôi cũng hay dẫn, hồi xưa sư ông tôi giảng Kinh có kể câu chuyện thế này: “Một ông Hòa Thượng rất là đạo đức ở Quảng Nghĩa, Ngài tu có thể là đã được định rất thanh tịnh, nhưng mà Ngài quên hết trơn, cái gì ngài cũng quên. Hôm đó có người mời đi đám, hồi xưa đâu có xe cộ, thì hai thầy trò Hoà Thượng với chú thị giả đi, đi ngang qua cái suối nước cũng hơi sâu tới ngực, liền thoát quần áo ra để lội qua. Lội qua khỏi rồi thì Ngài đi tự nhiên, chú thị giả gọi: Hòa Thượng mặc đồ vô.

Mặc đồ hả, Ngài đứng lại mặc đồ.

Vậy như ngây như ngu không? Đối với hiện tại như ngây như ngu, người ngoài nói là ngu quá rồi. Nhưng lúc đó sắp tới mùa an cư, thì chư tăng mới lập chổ an cư kiết hạ ở chùa dưới chân núi, tới ngày sắp an cư thỉnh Hòa Thượng tới dự. Rồi họ hỏi: Bạch Hòa Thượng mùa này an cư ở vùng này có cái gì trở ngại không?

Ngài nói: Để một chút ta trả lời.

Ngài vô trong mùng, ngài sổ mùng xuống ngồi thiền. Thiền một hồi ra ngài nói: Sắp có lũ lớn, giờ muốn yên thì các ông phải đắp bờ lên mấy tấc ở chung quanh thì không bị ngập.

Chư tăng lúc đó thấy mùa nắng khô rang không có gì hết, họ giữ ngươi sợ ông thầy nói không có sự thật nên họ không tin. Quả nhiên qua tháng năm mưa tràn ngập hết trơn, chừng đó họ mới thấy. Như vậy trí hay là ngu?.

V.

Cái trí của thế gian chỉ giỏi phân biệt cái hiện có trước mắt, còn cái trí của người xuất thế cần biết cái gì sắp tới và cái gì đã qua người ta biết, biết cho nên mới gọi là trí. Nhưng biết những cái đó người thế gian không biết, cho nên cái người thế gian biết thì các ngài không cần biết, còn cái các ngài biết người thế gian không biết.

VI.

Bởi vậy tôi thấm câu mà Đức Phật khi thành Phật giác ngộ xong rồi ở dưới cội bồ đề, bảy ngày đầu Ngài không thuyết pháp. Ngày xưa đọc tới đó tôi hơi buồn, Phật nguyện ra đời để độ sanh mà tại sao khi đắc đạo rồi Ngài không đi thuyết liền, đợi tới trời Phạm Thiên xuống cầu thỉnh sau đó Ngài mới đi, buồn không? Vậy thì tại cầu Ngài mới làm, chớ không phải tự ý Ngài muốn, mình thấy có cái gì hơi buồn buồn.

Nhưng sau này đọc lại một lần nữa tôi thấy quá là hay, sở dĩ Phật nói rằng Ngài không muốn đi thuyết pháp liền là bởi vì cái thấy của Ngài nó siêu thoát, nó vượt hẳn thế gian, đem cái thấy của Ngài nói người tâm không hiểu, người ta không hiểu làm sao mà nói, vì vậy Ngài không muốn nói.

Rồi tới chừng trời Phạm Thiên cầu khẩn Ngài nói: à thôi bây giờ cũng phải tùy phương tiện, lập phương tiện mà nói chớ thật ra không nói được cái gì Ngài thấy Ngài biết. Bởi vậy quí vị mới thấy, khi Ngài đi thuyết pháp bốn mươi chín năm đó hay là bốn mươi bốn năm đó đều nói đủ hết, mà cuối cùng Ngài nói:

Ngài chưa từng nói một câu, để chứng minh rằng đó là phương tiện độ sanh, chớ nói không đến lẽ thật Ngài thấy. Giờ nói cái gần nhất, Phật nhìn con người chúng ta giống như cái đãy da hôi thối, mà nói thế gian thì người ta muốn cái gì, muốn mình đẹp, muốn mình sạch, muốn mình được quí được trọng mà Phật nói đãy da hôi thối thì ngược với họ hết trơn, không có gần, nói ngược lại, nên người ta nói Phật bi quan.

Rồi thế gian ai cũng muốn sống cho lâu mà Phật lại nói: coi chừng vị ác thần đang chực các ông đó, lúc nào, bất cứ lúc nào cũng có thể chực giết các ông. Ac thần là ai? Là vô thường. Như vậy cái vô thường ở sát bên cạnh đó coi chừng, mà thật có người đang đi vui cười một lát ngã ra chết thì có phải nó chực sẳn hay không mà chúng ta thì cứ nghĩ mình sống dai.

Cái nghĩ là cái ảo tưởng không có lẽ thật, còn cái bất thường sẳn sàng chết bất cứ lúc nào đó là lẽ thật, mà mình không biết. Thí dụ lên ngồi trên chiếc xe, mình nghĩ ngồi tới chổ, ai ngờ đụng một cái ngoẻ cổ chết, thì như vậy cái tưởng mình có sự thật đâu, còn cái bất thường nó xảy ra bao nhiêu chuyện, nó không lường trước được.

VII.

Vậy cái chết là cái không cố định sớm muộn bao giờ hết đó, còn cái mình tưởng là tưởng tám mươi tuổi, chín mươi tuổi, một trăm tuổi mới chết không hà, mình tưởng vậy, đó là cái ảo tưởng không có lẽ thật. Còn cái lẽ thật là cái bất thường cái sẳn sàng bất cứ lúc nào sơ sảy chết, lẽ thật như vậy thì nói nghe buồn quá.

Tất cả cái thấy của Phật đem ra trình bày, người ta thấy như lạc lối, lạc lỏng vậy đó, bởi vậy nên ngài phải nói cách này cách kia.

Thí dụ như tu mà sợ nhập Niết bàn cái không còn gì hết cái buồn thì nói thôi về Cực Lạc đi ở bên đó vui lắm, sanh ra có hoa sen, chim hát đủ thứ hết, đó là nguồn an ủi để người ta tu. Vậy tất cả cái Phật nói đều là phương tiện, chớ không phải là cứu kính, rồi mình cứ lấy cái này chấp cho đúng cái kia rồi đem ra đố kỵ nhau là trật hết. Hiểu tất cả lời Phật dạy là phương tiện để độ sanh, chớ không phải là chân lý cứu kính do Đức Phật thấy.

Chúng ta hiểu cho thấu đáo rồi thì cái quan trọng là chúng ta phải làm sao thấy được sự thật để mà tu, nên “trí vô phân biệt” này là cái trí biết siêu thoát hơn tất cả các trần tục, mà không phải suy lý như mình. Mình do suy lý phân biệt nên gọi là “trí phân biệt”, còn ngài không có suy lý, tự thấy rõ ràng, biết rõ ràng, thấy như vậy , biết như vậy.

VIII.

Như nói luân hồi thì Ngài thấy chúng sanh bị nghiệp dẫn đi, cũng như con bò, con dê người ta cột xỏ mũi dẫn đi thấy rõ như vậy rồi nói tôi thấy đó, người đó làm như vậy bị đi đường như vậy rõ ràng như vậy không có gì suy lý hết.

Còn thế gian người ta suy lý hoặc thế này, hoặc thế nọ, hoặc thế kia thì khi còn suy lý thì chưa phải cứu kính, còn Ngài thấy lẽ thật như vậy thì nói như vậy thôi. Nên cái thấy của Ngài, Ngài nói thì trình độ của người không tới, không hiểu nổi nên Ngài chần chừ không muốn nói, hiểu như vậy thì mới thấy cái ý nghĩa.

Sau bộ Kinh Hoa nghiêm nói trong sáu, bảy ngày đó Ngài lên tuốt cung trời Đao Lợi, cung trời Dạ Ma Ngài thuyết pháp ở trên đó, thành ra hai cái nhìn, cái nhìn này là của hệ Hoa nghiêm, còn cái nhìn trước là của hệ A Hàm.

Đó là tôi nói cho quí vị phân biệt “trí phân biệt” của thế gian và “trí vô phân biệt” của Phật, của Bồ tát. Hai cái nó khác nhau, nhưng cái nào cũng có đặc biệt, cái kia thì phân biệt rành cái thế gian gọi là trí, còn đây là biết rõ tất cả đúng như thật mà trái lại thế gian nên gọi là “trí vô phân biệt”.

XI.

Nếu người hiểu được nghĩa này, chỉ khi tu biết được pháp yếu giữ tâm là bậc nhất. Ngài cứ nói đi nói lại chữ giữ tâm không biết mấy chục lần, nghĩa là nếu mình biết được vậy thì cái pháp yếu là phải giữ tâm đó là hơn hết.

Ở đây nói giữ tâm là cội gốc của Niết bàn, là yếu môn vào đạo, là tông của mười hai bộ kinh, là tổ của chư Phật ba đời. Như vậy giữ tâm là đủ hết. Giữ tâm là cội gốc Niết bàn là một. Giữ tâm là yếu môn vào đạo là hai. Giữ tâm là tông của mười hai bộ kinh là ba. Giữ tâm là tổ của chư Phật ba đời là bốn. Vậy giữ tâm là gốc của tất cả pháp, của tất cả lối tu. Bởi nói vậy cho nên nghi, đặt câu hỏi.
*************
Nguồn: Luận Tối Thượng Thừa Giảng giải (Tập 2).
HT Thích Thanh Từ giảng tại TVTL Đà Lạt

Lời HT. Tôi viết hồi ở Pháp Lạc thất năm 1969. Quyển luận Tối thượng Thừa này tôi soạn trước khi thành lập thiền viện Chân Không. Thiền viện Chân Không ra đời năm 1970, mà quyển này in năm 1969, thì đó những chuẩn bị của tôi để khi bắt đầu vào mở thiền viện thì tôi đã có những tư liệu hướng dẫn tăng ni tu.
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Quay về Chuyên đề Thiền Tông

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến1 khách