Diễn đàn Tu viện Phật giáo Việt nam


HT.T.T.T: Dụ tâm giống như hồ nước

Thảo luận về kinh điển Thiền.

Các điều hành viên: Sen Hong, Bất Nhị

HT.T.T.T: Dụ tâm giống như hồ nước

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 2 11 Tháng 3, 2013 9:38 am

Hỏi : Chúng sanh cùng Phật về chơn thể đã đồng, tại sao chư Phật không sanh không diệt, thọ vô lượng khoái lạc tự tại không ngại, chúng sanh chúng ta đọa trong sanh tử chịu các thứ khổ?

Đáp : Chư Phật mười phương ngộ đạt pháp tánh, đều tự nhiên chiếu sáng nơi nguồn tâm, vọng tưởng không sanh, chánh niệm không mất, tâm ngã sở diệt, nên được không thọ sanh tử. Không sanh tử nên rốt ráo vắng lặng, cho nên muôn cái vui đầy đủ.

Tất cả chúng sanh mê chơn tánh, không biết gốc tâm, các thứ vọng duyên, không tu chánh niệm nên tâm yêu ghét dấy khởi. Do yêu ghét nên hồ tâm bị bể chảy, hồ tâm bị bể chảy nên có sanh tử, có sanh tử thì các khổ đều hiện. Kinh Tâm Vương nói: “Chơn như Phật tánh lặn trong biển sáu thức thấy biết, chìm đắm sanh tử không được giải thoát”. Cố gắng lãnh hội chỗ ấy, giữ chơn tâm thì vọng niệm không sanh, tâm ngã sở diệt, tự nhiên cùng Phật bình đẳng không hai.

GIẢNG

Tại nói Phật có cái thể tánh đó, chúng ta cũng đồng có thể tánh đó. Cho nên đây mới đặt ra câu hỏi: cùng một thể tánh giống nhau tại sao Phật thì không sanh diệt được vô lượng khoái lạc tự tại không ngại, còn mình thì đọa trong sanh tử chịu khổ đủ thứ.

I. Ngài đáp :

Chư Phật muời phương ngộ đạt pháp tánh, đều tự nhiên chiếu sáng nơi nguồn tâm, vọng tưởng không sanh, chánh niệm không mất, tâm ngã sở diệt, nên được không thọ sanh tử. Không sanh tử nên rốt ráo vắng lặng, cho nên muôn cái vui đầy đủ.

Đó là nói về Phật, sở dĩ Phật được thông thả tự tại vô ngại, là vì sao? Là vì Đức Phật, Ngài tự nhiên chiếu sáng nơi nguồn tâm, vọng tưởng không sanh, chánh niệm không mất, tâm ngã sở diệt, nên được không thọ sanh tử. Như vậy Phật đã khéo chiếu sáng nguồn tâm cho nên vọng tưởng lặng chánh niệm hiện tiền, tâm ngã sở diệt vì vậy không sanh tử, không sanh tử nên rốt ráo vắng lặng nên muôn cái vui đầy đủ.

Khi hết sanh tử rồi thì tâm vắng lặng, rốt ráo tất cả cái vui hiện tiền, đó là chư Phật. Vậy điều kiện thành Phật là : thứ nhất là phải chiếu sáng nguồn tâm, rồi làm sao nữa? Vọng tưởng không sanh, vọng tưởng không sanh thì chánh niệm không mất, (chánh niệm là cái chơn thật hiện tiền), đó thì tâm ngã sở diệt là tâm chấp ngã sở nó hết, thì dòng sanh tử theo đó nó hết, mà dòng sanh tử hết rồi mọi cái đầy đủ. Còn chúng ta thì sao?

Tất cả chúng sanh mê chơn tánh, không biết gốc tâm, các thứ vọng duyên, không tu chánh niệm nên tâm yêu ghét dấy khởi. Do yêu ghét nên hồ tâm bị bể chảy, hồ tâm bị bể chảy nên có sanh tử, có sanh tử thì các khổ đều hiện.

II.

Giờ kiểm lại coi hồ tâm quí vị có chảy không? Nếu không bể thì rỉ, bởi vậy cho nên các khổ nó hiện tiền. Ở đây nói cái khổ của chúng sanh, tất cả chúng sanh mê chơn tâm, hỏi tất cả quí vị có mê chơn tâm không? Mê là quên, chớ không phải mê là mê say.

Mê chơn tâm tức là quên chơn tâm, tất cả có quên không? Từ sáng tới chiều quí vị có quên không? Quên chơn tâm. Có mà quên cũng như không có, từ quên chơn tâm nên không biết gốc tâm, không biết tâm là gốc của mình, các thứ vọng duyên rồi chạy theo các thứ vọng duyên, mà chạy theo các thứ vọng duyên thì không tu chánh niệm, bởi vì chánh niệm là nhớ lại chơn tâm, mà bây giờ mình chạy theo vọng duyên thì đâu có nhớ chơn tâm cho nên không tu chánh niệm, nên tâm yêu ghét dấy khởi, vì vậy mà tâm yêu ghét dấy khởi.

III.

Giờ xét trong nội tâm quí vị có thương có ghét không? Có người nào không có không? Coi bộ trăm người như một đều có lẫn thương lẫn ghét ở trong này. Vậy theo cái gì mà có thương ghét? Là theo vọng tưởng, bởi theo vọng tưởng theo ngoại duyên nên có thương có ghét, mà có thương có ghét là do yêu ghét nên hồ tâm bị bể chảy.

Hồ tâm bể chảy là vì thương vì ghét đó, cái hồ tâm này vừa là dụ vừa là pháp, tâm là pháp mà hồ là dụ. Dụ tâm mình giống như một hồ nước trong, yên lặng không sóng không gió, cái hồ nước trong yên lặng không sóng mà vì chúng ta dấy cái niệm yêu ghét, mà từ dấy niệm yêu ghét nên làm bể cái hồ nước trong yên lặng đó.

Mà hồ tâm bị bể chảy rồi thì sao? Hồ tâm bị bể chảy nên có sanh tử, có sanh tử thì các khổ đều hiện đủ thứ khổ hết. Quí vị kiểm xem có đúng không? Tất cả chúng ta hiện giờ khổ sở than thở đủ thứ điều, đủ thứ phiền muộn đều từ cái thương ghét mà ra làm cho hồ tâm nó bể nó chảy.

IV.

Người mình thương cái bị đi chổ khác cái buồn, người mình ghét bắt nằm gầm một bên hoài nổi tức, như vậy hồ tâm mình nó bể chảy hoài ngừng đâu được, miển hồ tâm bị bể chảy là bị khổ, vì cái mình không ưa mà phải đối mặt, cái mình thương mà phải cách xa thì tự nhiên phải khổ, mà người lớn người nhỏ tất cả mọi người đều có cái thương cái ghét. Cha mẹ thì thương con, vì thương con nên ai làm khổ con mình cái mình ghét, mình giận. Con thì thương cha mẹ, rồi thương những người chung quanh..v.v…từ cái đó mà tâm thương ghét nó nặng nề, tâm thương ghét nặng nề thì cái tâm vọng tưởng nó tràn trề.

Khi nào quí vị nhớ tới người mình ghét mà họ đang hiện diện trước mắt, tới giờ ngũ mà nằm nhớ lại lúc đó ngũ có ngon không? Nhớ lời này của họ, cái tật kia của họ, có những cái thói mình không ưa đó rồi ôn lại mình ngũ không được.

Người mình rất là thương lại xa cách, lâu lâu được cái thơ của họ gởi về đọc nhớ thương, cái trưa ngũ được không? Cũng không được luôn. Vậy hồ tâm mình chảy tại cái thương, cái ghét đó. Muốn hồ tâm được hàn gắn lại đừng chảy thì làm sao? Thì bớt cái thương cái ghét đi, cái thương ghét bớt được thì hồ tâm không chảy, hồ tâm không chảy thì sẽ nước trong, sẽ yên lặn thì đó là sanh tử dừng, tu là tu chổ đó đó.

V.

Quí vị thấy lời dạy của Tổ quá là thiết yếu, quá là thực tế rõ ràng như vậy. Cho nên tất cả cái khổ chúng ta đừng kêu trời trách đất, nên kêu trời trách đất không hay là kêu trách ai? Trách cái ông vọng tưởng này, tại ông vọng tưởng làm tôi khổ, ai biết trách vậy là biết trách đúng sự thật, còn ai mà trách trời trách đất là không biết sự thật.

Tất cả cái khổ gốc từ ông vọng tưởng mà ra hết, nên ngồi lại trách tại vọng tưởng mà mi làm ta khổ, chớ không phải ông trời ông đất nào làm ta khổ hết. Như vậy chúng ta mới thấy cái gốc để chúng ta dẹp, cái gốc để chúng ta tu, còn không thì chúng ta tu ngọn ngành thôi.


Niệm Phật thì siêng lắm chuổi này qua chuổi nọ, mà thương đầy bụng, ghét cũng đầy bụng thì hết khổ không? Ngồi thiền ba bốn tiếng đồng hồ mà còn thương còn ghét nhiều hết khổ không? Cái hết khổ là dứt được cái tâm vọng tưởng, tâm vọng tưởng dứt thì yêu ghét dứt, yêu ghét dứt thì hồ tâm không chảy, đó là cái chổ trở về cái không sanh tử. Còn nếu mình đi trong cái yêu ghét thì nhất định còn sanh tử.

VI.

Tất cả chúng ta tu nếu có ai nói họ được đắc quả gì đó, chúng ta lại hỏi: “Thưa thầy, nghe nói thầy đắc quả rồi, thầy coi con tu chừng nào sẽ được hết sanh tử”, thì ông thầy đó sẽ nói làm sao? Ông thầy đó nói rằng muốn biết hết sanh tử thì nhìn lại tâm yêu ghét của chú còn không?

Nếu tâm yêu ghét còn thì còn sanh tử khỏi hỏi ai hết, như vậy khỏi coi bói, khỏi đồng bóng, khỏi tất cả mà chỉ nhìn lại tâm mình, khỏi nghe nói ai hay, ai lạ mà đi tìm, khỏi cần chính mình là người thấy rõ mình hơn ai hết, cho nên mình nói mình trúng hơn, người khác nói mình không trúng đâu, nếu họ nói trúng là họ vuốt cho mình vui thôi.

Cho nên ông thầy coi tay, coi tướng, bói gì đó cũng là một lối học nói vuốt người ta giỏi thì người đó hay. Người đó tuổi tác xấu tốt gì không biết, lại coi cái mở miệng nói: “a anh là người ngay thẳng trung trực rồi” cái vui liền. Khen cái đó trước, vui rồi nói lâu lâu có một hai cái dỡ cũng không làm sao. Chớ vô cái nói ông là người không ra gì thì tức nhiên người ta bỏ đi. Vậy cái thuật của người coi tay coi tướng là biết nắm bắt những cái gì người ta thích, rồi nói vuốt một hồi cái bao nhiêu tiền cũng móc ra thưởng hết.

Trúng trật gì không biết mà nói cho mình vui, mình ưa thì thưởng, đó là một cái thuật nó không có hay. Cho nên chúng ta là ông thầy coi mình chín chắn hơn ai hết, như vậy khỏi hỏi tu bao lâu nữa để mà hết khổ, tu bao lâu nữa được Niết bàn, khỏi hỏi ai hết cứ nhìn coi hồ tâm mình nước có rỉ chảy hay không. Nước rỉ chảy là lo trét, lo đóng lại, còn không rỉ chảy thì yên lòng vậy thôi, đó là một lẽ thật. Tất cả chúng ta là người biết tu, phải nhìn lẽ thật đó đừng lệ thuộc ai ở bên ngoài.

VII.

Đây dẫn kinh :

Kinh Tâm Vương nói: “Chơn như Phật tánh lặn trong biển sáu thức thấy biết, chìm đắm sanh tử không được giải thoát”.

Nói cái chơn như Phật tánh nó lặn trong biển sáu thức, sáu thức là nhãn, nhĩ, tỹ, thiệt, thân, ý; bởi nó lặn trong đó mà người ta không biết, không thấy cho nên chìm đắm sanh tử, không được giải thoát. Lặn trong đó mà mình thấy cái nổi mà không thấy cái chìm. Ngay trong sáu thức có chơn như Phật tánh ẩn ở trong đó, lặn ở trong đó mà mình thấy thì thấy sáu thức thôi, thấy nhãn thức, nhĩ thức, tỹ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, bởi sáu thức duyên sáu trần rồi mình cứ lấy cái đó làm gốc, cho sáu thức đó là mình, còn chơn như Phật tánh là ông chủ thật của mình mình không biết.

Vậy mình là người bội bạc nhất giống như con ông trưởng giả bội bạc, bỏ cha bỏ mẹ mà đi vậy. Bỏ cha bỏ mẹ đi rồi sau hối hận khổ quá, hối hận mới trở về. Mình ở đây ngày nay cạo đầu ở chùa tu đó là chú cùng tử thức tỉnh rồi, thấy đi khổ quá rồi, bây giờ mới bắt đầu trở về, trở về mà chưa dám nhìn cha, chỉ xin đi hốt phân bậy bạ thôi, đó là một lẽ thật. Bởi vậy nên chúng ta hiểu cho thấu đáo rồi mới thấy con đường tu không phải là chuyện xa vời trên trời trên mây ở đâu đâu, mà nó thực tế vô cùng vô tận.

VIII.

Bây giờ tôi hỏi một câu mà tất cả quí vị thử trả lời coi: Một phút chúng ta ngồi chơi thấy trời thấy mây thấy cảnh vật mà không có một niệm nào để phân biệt trời mây cảnh vật thì lúc đó có ta hay không? Có ta mà tại sao nói tôi nghĩ tôi tính, thì cái nghĩ tính đó đâu phải là tôi. Nếu cái khi không nghĩ gì hết, vẩn thấy vẩn nghe là thật mình thì cái suy nghĩ không phải là mình, mà quí vị nghiệm cái không suy nghĩ mà biết đó, nó có chia nhiều thứ không? Nó không có nhiều, còn cái suy nghĩ biết đó nó có nhiều thứ nhiều loại lắm, cái này sanh cái kia diệt mới giận đó rồi ai chọc gì cười, cười đó rồi ai nói gì đó tức cái giận, nó luôn luôn đổi thay như chong chóng mà nhận cái đó là mình.


Còn cái thường xuyên không bao giờ vắng mặt ở mình mà mình lại quên, bởi vậy cái từ chơn như, Phật tánh lặn trong biển sáu thức rất là thấm, rất là sâu mà chúng ta quên, chỉ thấy cái nổi thôi, còn cái lặn không thấy.

Nổi là gì? Là duyên theo cảnh, cảnh này đẹp xấu đó là nổi, duyên người người này dễ thương hay khó thương..v.v… cứ theo cái nổi đó mà chạy suốt ngày từ sớm mai cho tới chiều, tới chiều bắt ngồi vài tiếng đồng hồ bảo dừng lại không cho chạy theo cái nổi đó nữa, mà nó chịu dừng không? Ngồi lại mà thỉnh thoảng nó cũng lén nó chạy ra, như vậy mới thấy rằng chúng ta dỡ quá làm chủ chưa được trọn.

Chừng nào đi đứng nằm ngồi hoàn toàn nhớ ông chủ, không quên thì lúc khỏi bắt ngồi thiền. Vì tu là trở về chơn thật của chính mình, mà chơn thật của chính mình nó sẳn, chớ không phải ở đâu lại, không phải tìm nơi nào, nên chúng ta phải thấy cho tường tận, nhận cho rõ ràng đừng có bao giờ mê lầm.

IX.

Nếu ở đây tất cả quí vị người nào cũng có một hai phút không suy nghĩ chớ, nói ngồi thiền không suy nghĩ cũng đành đi, mà nói ngồi chơi hoặc đang đi bổng dưng mình không suy nghĩ gì hết, thấy người thấy cảnh cứ thấy vậy thôi mà không suy nghĩ gì hết, thì như vậy không nghĩ không có nghĩa là thiếu mình. Vậy những cái nghĩ là cái nổi, còn cái không nghĩ là cái chìm. Chìm là sẳn, còn nổi là sanh là diệt.

Chúng ta phải thấy cho rõ biết đúng như thật thì sự tu không phải là khó, tại vì chúng ta chạy theo những hư dối bên ngoài rồi tự mình chuốc khổ, rồi mình thấy như sự tu hành nó khó khăn. Thật ra không có cái khó, chỉ là cái quên; mê là quên, chỉ vì quên mình theo vật thành ra khó, chớ nếu nhớ lại mình thì không có cái gì là khó hết.

Cho nên ở đây ngài dẫn trong Kinh để mà dạy chúng ta :

“Chơn như Phật tánh lặn trong biển sáu thức thấy biết (cái thấy biết của sáu thức đó), chìm đắm sanh tử không được giải thoát”. Cố gắng lãnh hội chỗ ấy, giữ chơn tâm thì vọng niệm không sanh, tâm ngã sở diệt, tự nhiên cùng Phật bình đẳng không hai.

X.

Câu trên thật là chí lý, giữ chơn tâm thì vọng niệm không sanh. Tâm ngã sở diệt, ngã sở là chấp người chấp mình chấp cảnh nó hết, lúc đó mình tự nhiên cùng Phật bình đẳng, Phật, cái chơn như hay cái chơn tâm bất sanh bất diệt, thì chúng ta cũng có cái chơn tâm bất sanh bất diệt là bình đẳng như Phật đâu có khác. Vậy giử chơn tâm là điều tối thiết yếu, mà giữa Phật và chúng sanh ai cũng có, nên Phật mới nói: “Ta là Phật đã thành, các ông là Phật sẽ thành”. Ai cũng có khả năng thành Phật mà vì chúng ta không biết giữ chơn tâm cho nên rồi làm chúng sanh. Hỏi tại sao chúng ta làm chúng sanh khổ sở thì mình nói sao? Vì chạy theo vọng tưởng của sáu thức cho nên làm chúng sanh. Biết trở lại gìn giữ chơn tâm thì đồng với chư Phật không khác.
*************
Nguồn: Luận Tối Thượng Thừa Giảng giải (Tập 2).
HT Thích Thanh Từ giảng tại TVTL Đà Lạt

Lời HT. Tôi viết hồi ở Pháp Lạc thất năm 1969. Quyển luận Tối thượng Thừa này tôi soạn trước khi thành lập thiền viện Chân Không. Thiền viện Chân Không ra đời năm 1970, mà quyển này in năm 1969, thì đó những chuẩn bị của tôi để khi bắt đầu vào mở thiền viện thì tôi đã có những tư liệu hướng dẫn tăng ni tu.
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Quay về Chuyên đề Thiền Tông

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến2 khách

cron