Diễn đàn Tu viện Phật giáo Việt nam


Pháp Hoa Tông (Phật giáo Trung Hoa trong PHPT)

Các kinh sách mới về Phật Giáo Phát triển (hệ Hán Tạng).

Các điều hành viên: Sen Hong, Bất Nhị

Pháp Hoa Tông (Phật giáo Trung Hoa trong PHPT)

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Chủ nhật 05 Tháng 1, 2014 5:20 pm

Phật Học Phổ Thông.V.53.3 Pháp Hoa Tông (Phật giáo Trung Hoa)

A- MỞ ĐỀ:

6.- Pháp Hoa Tông Hay Là Thiên Thai Tông

I.- Duyên Khởi Lập Tông

Thiên thai tông được khởi xướng từ Bắc tế. Do Ngài Huệ văn Thiền sư dựa vào bộ trí độ luận mà lập ra pháp Nhứt tâm quán.

Pháp quán này được truyền cho Ngài Nam Nhạc Huệ Tự Thiền sư. Ngài Huệ Tự lại truyền cho Ngài Trí Giả ở núi Thiên Thai.

Ngài Trí Giả là một bậc đại sư , y theo kinh Pháp Hoa, bổ túc thêm cho pháp nhứt tâm quán được hoàn bị và lập thành một tôn pháp có uy thế ở núi Thiên Thai. Do đó mới có tên là Thiên Thai Tông (hoặc gọi Pháp Hoa Tông).

Vị đại đệ tử của Ngài Trí Giả là Ngài Chương An Ðại sư ghi chép lại những lời của Thầy, làm ra nhiều bộ luận có giá trị, để làm cơ sở cho Thiên Thai tông, như bộ Pháp hoa huyền nghĩa, Pháp hoa văn cú, Ma ha chỉ quán.

Từ Ngài Chương An, giáo nghĩa của tôn này được hoằng truyền mãi cho các vị Ðại đệ tử, thứ tự như sau: Ngài Trí Oai, Ngài Huệ Oai, Ngài Huyền Minh Và Ngài Trạm Nhiên.


Ðến đời Ngài Trạm Nhiên, cũng gọi là kinh Khê tôn giả, giáo-lý và tôn chỉ của Thiên Thai tông lại được rộng truyền và thêm nhiều thanh thế, vì Ngài Trạm Nhiên là một vị cao tăng, học rộng, biết nhiều, bổ túc thêm các bộ luận căn bản của tôn được hoàn bị, tù Ngài Trạm Nhiên về sau, đời nào cũng có những vị đệ tử có tài đức truyền giáo nghĩa của tôn này.

Kinh sách của Thiên Thai tông rất nhiều, trong số này có thể lựa ra ba bộ sách lớn làm căn bản cho tôn này là:

Pháp hoa huyền nghĩa,
Pháp hoa văn cú,
Ma hoa chỉ quán.

Ngoài ra có thể thêm năm bộ nhỏ, tuy không quan trọng bằng ba bộ trên, nhưng củng rất cần thiết cho người tu học là:

Quán âm huyền nghĩa,
Quán âm nghĩa sớ,
Kim quang kim huyền nghĩa,
Kim cang minh văn cú và Quán kinh sớ.

Trích dẫn: Phật Học Phổ Thông tác giả Cố Sa môn Thích Thiện Hoa.(còn tiếp)

******************************************

Diễn đàn:

Xin chào các bạn, trước khi tham khảo kinh Pháp Hoa huyền nghĩa, diệu dụng của Đại Thừa, hay Phật giáo Pháp Triển thế nào.

Thiết nghĩ, chúng ta nên xem lại một lần cho biết về tiểu sử truyền thừa kinh Pháp Hoa.
Kế đến, một số cộng đồng thành viên học kinh Pháp Hoa, mà còn thiếu xót phần tiểu sử, tông phái, cội nguồn. Xin mời chia sẽ thêm.

Thân ái.
PT. Quảng Hòa.
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Pháp Hoa Tông (Phật giáo Trung Hoa trong PHPT)

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Chủ nhật 05 Tháng 1, 2014 5:27 pm

II.- Tôn Chỉ Và Giáo Lý Căn Bản

Cũng như các tôn phái khác trong Phật Giáo, Thiên thai tông không đi ra ngoài giáo-lý căn bản của đức Phật.
Ðó là: Chư pháp duy nhứt tâm. Cái công lớn nhất của Thiên thai tông là làm sáng tỏ giáo-lý trên bằng một phương-pháp diễn dịch rất là minh bạch tinh vi.

Sao gọi là Chư pháp duy nhứt tâm?
- Theo Thiên thai tông thì ngoại tâm không có các pháp , ngoài các pháp không có tâm.
Tâm tức là nhất thiết pháp, nhất thiết pháp ấy là tâm. Hai cái không phải là khác, nhưng cũng không phải là một. Tâm bao trùm tất cả. Tâm tức là chúng sanh, tâm cũng tức là Bồ tát, Phật. sinh tử cũng ở nơi tâm ấy.

Nhưng làm sao để nhận chân được những phương diện của tâm, mà mới nghe qua hình như là trái ngược, mâu thuẩn với nhau.
Muốn thấy được toàn diện của tâm, người quan sát phải đứng nhiều khía cạnh, nhiều quan điểm khác nhau mà nhìn:

Nếu chúng ta đứng về phương diện tuyệt đối mà xét sự vật (hay nói theo danh từ nhà Phật, đứng về phương diện chơn đế), thì thấy sự vật trong vũ trụ, không có một sự vật gì nó đứng vững một mình và tồn tại, mọi vật không có thể tự riêng biệt, mọi vật đều do nhân duyên mà thành. Cái có của sự vật là một cái có tạm bợ giả dối, có mà cũng như không . Ðứng về phương diện tuyệt đối mà xét thì không có một pháp nào là tuyệt đối cả. Cho nên gọi là không.

Nhưng nếu đứng về phương diện tương đối mà xét (hay nói theo danh từ nhà Phật, đứng về phương diện tục đế), thì không thể bảo mọi pháp là hoàn toàn không được. Trước mắt chúng tánh, đành rành có đủ mọi vật, và mỗi vật có một giới hạn, một đời sống riêng biệt, sao lại bảo là hoàn toàn không ? Cho nên đứng về phương diện đối đãi, thì mọi vật không thiếu một vật gì.

Ðứng về phương diện tuyệt đối, thì vạn pháp là không ?

- Ðứng về phương diện tương đối thì vạn pháp là có. Không và có đấy là hai phương diện của tâm. Lấy phương diện này mà bỏ phương diện kia, hay trái lại lấy phương diện kia mà bỏ phương diện này, đều là thiên chấp, thiếu sót.

Một giáo lý hoàn toàn là phải chấp nhận cả hai phương diện ấy. Ðó là trung đạo. Phải là trung đạo, mới có thể tuyên bố: Tâm là nhứt thiết pháp, nhứt thiết pháp là tâm; tâm là sanh tử luân hồi, mà cũng là Niết bàn tịch tịnh.

Như thế tâm có đầy đủ các tánh: thiện và ác, tịnh và bất tịnh, Phật và chúng sanh. Trong cõi sanh diệt vô thường, vẫn có cái lý bất sanh bất diệt; trong cỏi ta ba, vẫn có cảnh giới của Phật. Đó là ý nghĩa của câu pháp môn tánh cụ nghĩa là bản tánh bao giờ cũng có đủ các pháp, như lành và dữ, tịnh và bất tịnh...Do có đủ các pháp, nên hành động như thế nào thì kết quả như thế ấy. Muốn thành Phật, hay muốn làm chúng sanh thì tạo nhơn chúng sanh. Chúng sanh muốn thành Phật chỉ nhứt trừ ác nghiệp và chuyển lại tu thiện nghiệp

Và cũng vì có đủ các pháp, nên trong mỗi pháp giới là sáu loại phàm phu (Ðịa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh, Tu la, Nhơn, Thiên) và bốn thánh bậc (Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát và Phật).


Do chủ trương:
pháp môn tánh cụ, và mỗi pháp giới đều có đủ mười pháp giới, nên quan niệm tu hành của Thiên thai tông cũng lạc quan hơn các tôn phái khác. Ở trong pháp giới nào! dù tối tăm, khổ sở bao nhiêu cũng có thể tu hành và thành tựu được. Như thế không cần từ bỏ một cảnh giới này, cầu sanh vào một cảnh giới khác mới có thể tu hành và thành Phật.

Trích dẫn: Phật Học Phổ Thông tác giả Cố Sa môn Thích Thiện Hoa.(còn tiếp)

******************************************
Diễn đàn:

I. Phần duyên khởi lập Tông, ở phần I.

Quí vị và các bạn đả có khái niệm về bộ Kinh Pháp Hoa, được thành lập bởi tông phái của Thiên Thai Tông (Trung Hoa) và có chủ trương lấy kinh lập Tông, riêng truyền bá sâu rộng qua Việt Nam, hiện tại cp chưa đủ tài liệu sao chép (phần này sẽ nói sau.) Tạm thời chúng ta chỉ biết nhiêu đây, nếu có cơ hội sẽ đi sâu vào kinh Hoa Nghiêm nơi xuất xứ và truyền thừa.
Tiếp đến là:

II.- Tôn Chỉ Và Giáo Lý Căn Bản Như thế nào, đây là cơ hội cho hai bạn Lưu Ly và Như Như hay Nippon khai triển tuệ năng cá nhân, giảng thuyết rộng và làm sáng tỏ về giáo lý căn bản này. Thật cảm ơn.
Xin lưu ý, các bạn chỉ viết ngắn gọn khoản nửa khổ giấy A4 thôi.
Ví dụ:
1. Tại sao gọi tâm là nhất thiết pháp, Hoặc Nhất thiết pháp là gì ?
2. Thế nào vạn pháp là không ?
3. Thế nào vạn pháp gọi là có ?

Thân ái.
PT. Quảng Hòa.
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Pháp Hoa Tông (Phật giáo Trung Hoa trong PHPT)

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 2 06 Tháng 1, 2014 12:47 pm

III.- Phương Pháp Tu Hành

Phần chủ trương của Thiên thai tông như đã trình bày ở trên, có phần lạc quan và dễ dàng: trong cảnh giới hiện tại có đủ cảnh giới phàm và thánh, muốn thành Phật, Bồ tát thì cứ gieo nhơn (tu hành) thành Phật, Bồ tát. Ðó là nói về lý thuyết. Nhưng trong thực hành không phải dễ dàng như thế.


Trước tiên, chúng ta phải nhận định hoàn cảnh thực tế của chúng sanh là một hoàn cảnh bị che phủ rất nhiều mê lầm, hay nói theo thuật ngữ nhà Phật thì là chướng hay hoặc. Dứt trừ được những 'chướng hay hoặc ấy là công việc chính của người tu hành.

Nhưng muốn dứt trừ những tên giặc nguy hiểm ấy, trước tiên phải tìm hiểu tướng trạng, hành tung, phạm vi họat động của chúng ta như thế nào đã. Những chướng ngại, mê lầm hay những hoặc nói trên nhiều vô số, nhưng có thể phân chia làm ba loại, từ cạn đến sâu, từ hẹp đến rộng.

Ðó là kiến tư hoặc,
trần sa hoặc và
vô minh hoặc.

3.- Vô minh hoặc: Chữ vô minh nghĩa chung là mê lầm. Mê lầm cũng có nhiều bậc cạn và sâu, hẹp và rộng, thô thiển và vi tế. Bên Nam Tông cũng dùng chữ vô minh, mà bên Bắc Tông cũng dùng chữ vô minh. Nhưng vô minh theo quan niệm của Nam Tông là sự mê lầm che lấp không cho chúng sanh thấy được cái cội gốc của đau khổ, phiền não, nguyên nhân của sanh tử luân hồi.

Còn theo nghĩa của Bắc Tông và đặc biệt của Thiên thai tông là sự mê lầm che lấp chơn lý thật tướng của Trung đạo. Vô minh hoặc ở đây có một nghĩa bao quát rộng rãi như thế, nên cũng gọi là giới ngoại đạo hoặc, nên cũng gọi là biệt hoặc.

Ðối vị với ba hoặc này, Thiên thai tông lập ra ba pháp quán là: Không quán, Giả quán và Trung quán.
***
**
*
Ba Pháp Quán: Ba pháp này nguyên Ngài Tuệ Văn rút từ những phẩm kệ trong bộ Trung luận của Ngài Long Thọ Bồ tát mà lập ra. Phẩm kệ ấy như sau:

•Nhân duyên sở sanh pháp; Ngã thuyết thức thị không; Diệc danh vi giả danh; Diệc thị trung đạo nghĩa.
•(Các pháp do danh duyên sanh, nên tánh bảo là không, mà cũng là giả danh, đó cũng là nghĩa lý của Trung đạo).

Ðối với Thiên thai tông thì ba pháp quán này là phần nòng cốt trong sự tu hành. Nếu không thực hành ba pháp quán này thì không làm sao thành tựu được. Ba pháp quán này, như trên đã nói; Không quán, Giả quán và Trung quán.

1.- Không quán: Không quán là đứng về phương diện chơn đế mà quan sát sự vật. Theo chơn đế thì các pháp là không, nhưng chúng sanh vì mê lầm không rõ, chấp là có thật. Do đó mà có kiến thức hoặc, và cứ mãi quay cuồng trong sanh tử luân hồi của tam giới. Nay phải dùng Không quán mà phá trừ sự mê lầm chấp trước trên, cắt đứt tất cả tình chấp (trừ kiến và tư hoặc) mới thoát khỏi sanh tử luân hồi.

2.- Giả quán: Giả quán là đứng về phương diện tục đế mà quan sát sự vật. Các Phật tuy không và không sở đắc nhưng đứng về thế tục mà nhìn, thì thấy bản tánh vốn đủ các pháp , muôn hình vạn trạng, không thiếu một pháp nào. Giả quán này có thể dứt trừ được trần sa hoặc, vì hành giả biết rằng hoặc tuy nhiều như cát bụi, nhưng đều là giả cả, nên không lo sợ trước số nhiều ấy, và cứ tâm phát nguyện độ sanh khắp tất cả.

3.- Trung quán: Trung quán là đứng về phương diện trung đế để quan sát các pháp. Trung đế hay đệ nhất nghĩa đế là sự thật đúng đắn nhất, không gì hơn, sự thật trung chánh, tóm thâu bao gồm tất cả sự thật khác. Khi đứng về chơn đế hay tục đế mà quan sát sự vật thì không phải là không đạt đến sự thật; nhưng sự vật ấy mới chỉ được vén lên ở một khía cạnh nay hay một khía cạnh khác mà thôi. Và những sự thật ấy, nếu không có trung quán, thì trở thành mâu thuẩn, đối chọi nhau. Nhờ Trung quán mà nhìn cùng một lần cả hai khía cạnh Có và Không, mới nhận chân được rỏ ràng các pháp không phải chơn mà cũng không phải tục, tức chơn, tức tục, dung thông cả hai, không có chướng ngại. Pháp quán này sẽ trừ được vô minh hoặc một cách rốt ráo, cùng tột.
Ba pháp quán này có tể thực hành bằng nhiều lối

Hoặc quán theo thứ lớp, hết Không đến Giả đến Trung. Lối quán này gọi là quán ba đế về lối cách lịch, thứ đệ, hay về biệt tướng, hay biệt giáo.
Hoặc quán theo lối thông tướng. Theo lối sau nay thì quán một đế mà ba đế đều đủ, ba tức là một.

***
**
*

Thí dụ: quán pháp Không thời hết thãy đều Không; Giã, Trung cũng đều Không; quán pháp Giã, thời hết thảy đều Giả; Không , Trung cũng đều Giã; quán pháp Trung, thời hết thảy đều Trung; Không; Giả cũng đều Trung.

Hoặc quán theo lối Viên dung; nghĩa là đầy đủ, Dung nghĩa là dung hòa. Theo pháp quán này, thì dùng một tâm mà đồng thời tu ba pháp quán, nghĩa là trong một tâm niệm mà ba pháp quán đều đủ và không ngăn ngại nhau.

Quán như thế gọi là nhất tâm tam quán, một pháp quán của viên giáo. Nhất tâm tam giáo là pháp quán vi diệu nhất. Nhờ pháp quán này mà hành giả trực nhận được trong một lúc nhiều khía cạnh của tâm ( mà cũng tức là vạn pháp ), rõ ràng như khi chúng ta soi vào gương, mà vừa nhận thấy được ánh sáng của gương (dụ cho không), những bóng phản chiếu trong gương (dụ cho trung).

Ba thứ: ánh sáng, bóng phản chiếu và thể tánh của gương đều đầy đủ, đều thể hiện cùng một lúc mà vẫn viên dung, không trở ngại nhau. Cái lý ba đế viên dung là đức tánh sẵn có trong mười pháp giới, không một sự vật, một pháp gì, là không viên dung cả ba đế, cho nên thông thường gọi là: Một cảnh ba đế.
Hành giả khi quán thuần thục, sẽ đi đến kết luận sau đây:
Chân như, Tâm và Vật, quan hệ mật thiết như tánh ướt, nước và sóng. Chân như dụ cho tánh ướt, Tâm dụ cho nước , Vật dụ cho sóng. Ngoài tánh ướt không có nước; ngoài nước không có sóng. Ngoài chân như không có tâm, ngoài tâm không có vật. Chân như, Tâm và Vật không rời nhau, mà cũng không phải là một, mà cũng không khác.

Trích dẫn: Phật Học Phổ Thông tác giả Cố Sa môn Thích Thiện Hoa.(còn tiếp)

******************************************
Diễn đàn:

I. Phần duyên khởi lập Tông, ở phần I.

Quí vị và các bạn đả có khái niệm về bộ Kinh Pháp Hoa, được thành lập bởi tông phái của Thiên Thai Tông (Trung Hoa) và có chủ trương lấy kinh lập Tông, riêng truyền bá sâu rộng qua Việt Nam, hiện tại cp chưa đủ tài liệu sao chép (phần này sẽ nói sau.) Tạm thời chúng ta chỉ biết nhiêu đây, nếu có cơ hội sẽ đi sâu vào kinh Hoa Nghiêm nơi xuất xứ và truyền thừa. Và tiểu sử người thành lập Thiên Thai Tông là ai...[url=http://www.phattu.com/showthread.php/34539-Pháp-Hoa-Tông-(Phật-giáo-Trung-Hoa-trong-PHPT)?p=71367#post71367]Xem[/url]

Tiếp đến là:

II.- Tôn Chỉ Và Giáo Lý Căn Bản

Dung hòa lý tướng tuyệt đối và tương đối. Nếu dung hòa theo lý chân đế (đó là lý nhân duyên) tất cả điều nương tựa với nhau. Không phải là thật tướng của vật. Nên gọi là Pháp Không.
Về Tương đối (Tục đế) thì tất cả điều có nhân, có quả.
Tôn chỉ hiểu và hành cả hai pháp không thiếu, không dư nên gọi là Trung đạo.
Thiên thai tông thì ngoại tâm không có các pháp , ngoài các pháp không có tâm.
Tâm tức là nhất thiết pháp, nhất thiết pháp ấy là tâm.

Vì vậy, Hành giả Thiên Thai Tông, Hay Pháp Hoa Tông lấy trung đạo là tôn, nếu tâm xấu thì trong luân hồi lục đạo, còn tu hành tin tấn sẽ vào bốn cõi thánh đó là Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát và Phật.

Và trong mười pháp giới, hay hành giả ở trong 10 hoàn cảnh (xấu/tốt) điều tu được cả. Mới thật sự là trung đạo. Nhất quán của Pháp hoa kinh. Là vậy, tôi nghĩ vậy. Bạn nào thấy thì giảng thêm cho mọi người biết, thật cảm ơn.

III.- Phương Pháp Tu Hành


1. Xin cho biết vì sao gọi là...:

kiến tư hoặc,
trần sa hoặc và
vô minh hoặc.

2. Thế nào về ba pháp quán ?

3. Trong bài có giải về Không quán, giả quán và trung quán quá ngắn gọn. Vậy làm cách nào để hiểu rõ đường lối thực hành này ?

Thân ái.
PT. Quảng Hòa.
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Pháp Hoa Tông (Phật giáo Trung Hoa trong PHPT)

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 3 07 Tháng 1, 2014 8:53 am

1. Xin cho biết vì sao gọi là...:

kiến tư hoặc,
trần sa hoặc và
vô minh hoặc.

Theo sách tham khảo của Tỳ Kheo Thích Phước Thái vấn/đáp:

Kiến Tư hoặc Và Trần sa hoặc khác nhau thế nào?

Hỏi: Kiến hoặc, tư hoặc và trần sa hoặc, ba thứ hoặc nầy giống nhau và khác nhau như thế nào?

Đáp:
Ba thứ nầy có điểm giống nhau và cũng có những điểm khác nhau. Giống nhau ở chỗ, ba thứ nầy đều là vô minh phiền não, đều có tác dụng làm cho chúng sanh mãi bị trầm luân trong sanh tử. Tuy nhiên, chúng cũng có những điểm khác nhau. Trước hết xin nói sự khác biệt giữa kiến hoặc và tư hoặc, rồi sau mới nói đến khác biệt với trần sa hoặc.

Kiến hoặc là gì? Kiến hoặc là những thứ mê lầm thuộc về Lý. Chúng gồm có 5 thứ: thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ và giới cấm thủ. Còn tư hoặc là những thứ mê lầm thuộc về Sự. Chúng cũng gồm có 5 thứ: tham, sân, si, mạn, nghi. Gọi chung 10 thứ nầy là 10 thứ căn bản phiền não. Vì chúng là cội gốc gây ra bao nhiêu sự khổ đau mà con người luôn luôn hứng chịu. Mười thứ nầy, tuy cũng là gốc phiền não, nhưng cường độ sâu, cạn, hay mạnh, yếu của chúng có khác nhau. Nhà Duy thức chia chúng ra làm hai loại: “ngũ độn sử và ngũ lợi sử”.

Đối với 5 món: tham, sân, si, mạn, nghi, hành tướng của chúng rất sâu và mạnh, nên gọi chúng là độn (chậm lụt và khó trừ). Ngược lại, 5 thứ kia: thân kiến, biên kiến… thì hành tướng của chúng yếu hơn, nên gọi là lợi sử. Sử có nghĩa là sai khiến, chúng sai khiến người ta phải làm theo mệnh lệnh của chúng. Đối với 5 thứ trước, hành giả phải tu đến địa vị “Tu đạo” mới trừ được. Còn 5 món sau, vì tánh cách mê lý cạn cợt, nên hành giả tu hành đến địa vị “Kiến đạo” (thấy rõ chân lý và tin chắc lý nhân quả) thì trừ được chúng.

Nói chung, hai thứ nầy, khác nhau về cường độ mạnh yếu và hành tướng chậm lụt cũng như nhạy bén có sai khác. Và khi đoạn trừ, cũng có sự khác nhau ở địa vị tu chứng. Đó là đại khái sự khác nhau giữa Kiến, Tư hoặc là như thế.

Còn đối với trần sa hoặc thì có khác. Bởi trần sa hoặc không phải là thứ phiền não của các vị A la hán. Vì những vị A la hán đã đoạn hết kiến, Tư hoặc, nhưng các ngài bị chướng ngại ở nơi hoặc lậu (phiền não) của chúng sanh. Nghĩa là các ngài thấy phiền não của chúng sanh nhiều như là cát bụi (trần sa). Do đó, các ngài không dám ra độ sanh như các vị Bồ tát. Như vậy, sự khác biệt giữa kiến, Tư hoặc và trần sa hoặc là như thế.
************************


Riêng về ''Vô minh hoặc'' rất là sâu sắc hơn, Quí vị tạm thời xem bài học ở phần III. Phương pháp tu hành. Hy vọng các bạn nào biết thêm thì chia sẽ nơi đây, thật cảm ơn. CP.
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Pháp Hoa Tông (Phật giáo Trung Hoa trong PHPT)

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 6 10 Tháng 1, 2014 7:55 am

IV.- Quả Vị Tu Chứng

Như trên đã nói, do sự khám phá của Nhất tâm tam quán, Thiên thai tông có một quan niệm lạc quan về sụ tu chứng.

Thật vây, khi đã nhận rõ chân-như nằm ngay trong sự vật, phàm, thánh không hai, uế độ tức tịnh độ, thì hành giả không cần phải cầu sanh ở một cảnh giới thanh tịnh nào khác mới tu hành được, cũng không cần phải tu hành lâu đời, lâu kiếp mới thành Phật được. Ngay trong hiện tiền, nếu hiểu rõ được nghĩa lý của Trung đạo và khởi công tu luyện thì cũng là Phật rồi. Ấy là ý nghĩa của Thiên thai tông đã đề xướng trong chủ trương Lục tức Phật.

1.- Lục tức Phật, gồm có: Lý tức Phật, danh tự tức Phật, quán hạnh tức Phật, Tương trợ tức Phật, Phần chứng tức Phật, Cứu kính tức Phật.

a) Lý tức Phật: Lý tức là nghĩa lý. Hiễu rõ được nghĩa lý của Ðức-Phật đã dạy trong câu Chúng sanh vốn đủ Phật tánh , cùng các đức Như Lai không hai không khác; hay trong câu: Hết thảy chúng sanh đều là Phật; hiểu rõ được lý ấy tức là Phật.

b) Danh tự tức Phật: Danh tự ở đây tức là những kinh điển, hay những lời thuyết pháp mà mình đã học hay đã nghe được, và đã hiểu được thông suốt rằng: Hết thảy các pháp đều là Phật pháp . Danh tự tức Phật nghĩa là lãnh hội được lý tánh của vũ trụ, vạn hữu qua kinh điển, văn tự tức là Phật.

c) Quán hạnh tức Phật:
Quán hạnh là quán tưởng. Hạnh là tu hành, hành động; nói một cách tổng quát: quán hạnh tức Phật nghĩa là thực hành đúng theo lời Phật dạy tức là Phật.

d) Tương trợ tức Phật:
Chữ tương trợ ở đây có nghĩa là trong lúc mình tu hành, tuy chưa có thể thực chứng được lý tánh , nhưng tâm mình đã được yên lặng, nơi lý đã mường tượng như tuồng đã chứng được, nên gọi là tương trợ tức Phật. đến đây tức là Phật thập tín, thuộc về nội phàm (phàm phu trong nội giáo).

e) Phần chứng tức Phật: Theo Thiên thai tông, thì vô minh như là tấm màn dày đặc, gồm có 41 lớp; mỗi khi nhờ công phu tu hành, phá được một lớp, tức là chứng được một phần Trung đạo. Ðó là ý nghĩa của phần chứng tức Phật. Đến đây tức là đã lên đến các bậc Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, Thập địa và Ðẵng giác.

f) Cứu cánh tức Phật: Cứu cánh tức là đạt đến bực cuối cùng, chứng được chổ mầu nhiệm cực điểm, nghĩa là đến bực Diệu giác, Chủng trí đều viên mãn. Ðến đây tức là đến bực Diệu giác hay Phật.

Chúng ta nên nhớ rằng Lục tức Phật này có phân biệt Lý và Sự khác nhau. Về lý thì mới bắt đầu bước lên bực thứ nhất và vị đã đến từng bực thứ sáu, đều bình đẳng như nhau, không hơn không kém, vì thể tánh vẫn là một và mọi chúng sanh đều là Phật. cái Lý này đem lại cho hành giả và sự phấn khởi, trên đường tu hành, không sanh lòng chán nãn, không buồn trách mình chậm thành đạo quả mà thối tâm.

Nhưng về sự thì vị thứ cao thấp đều có trật tự, kẻ mới tu hành và vị đã chứng quả Phật, không thể như nhau và ngang nhau được. Người tu hành hiểu rõ như thế mới không sanh lòng tăng thượng mạn, tự xưng là Phật là Thánh trên bước đường tu hành của mình.

Về Sự thì chỉ những vị đã đạt đến bực thứ sáu, tức là bực Cứu-cánh, mới đúng danh nghĩa là Phật, vì chỉ có Phật mới có đủ ba Trí, ba Ðức.

2.- Ba trí: Ba trí tức là Nhất-thiết -trí, Ðạo-chủng-trí và Nhất-thiết-chủng-trí.

Nhất thiết trí: Trí này rõ biết hết thảy các pháp đều không sanh; biết rỏ danh, tướng các pháp của nội tâm và ngoại cảnh, biết rõ không có ngã và ngã-sở. Trí này các bậc tu theo Nam Tông, sau khi đã chứng quả đều có được. Còn theo Thiên Thai tông thì do tu Không quán mà có được.

Ðạo chủng trí: Trí này rỏ biết nhất thiết pháp đều là Có nhưng có một cách giả dối, do nhân duyên hòa hợp mà thành. Cái trí ở trên (nhất thiết trí) chỉ thông suốt được các pháp không sanh. Chứ không phân biệt được các pháp do duyên khởi. Vì không rỏ được nguyên nhân sanh-khởi, các pháp như thế, nên không thể dùng đạo pháp của các Ðức-Phật để phát khởi các giống lành cho hết thảy chúng sanh, và không dám phát nguyện rộng lớn cứu độ chúng sanh. Vậy phải có Ðạo-chủng-trí này mới phá tan được trần-sa-hoặc, có tâm dũng-mãnh để cứu độ chúng sanh. Trí này chỉ có các bậc Bồ Tát, A La Hán mới có được, và do Giả-quán mà thành.

Nhất thiết chủng trí: Trí này rõ biết được hết thảy pháp đều là trung đạo, biết được đạo pháp của các Ðức-Phật và hết thảy nhơn chủng (chủng-tử khi tạo nhơn) của các loại chúng sanh, phá tan được vô-minh hoặc, thông-suốt thật-tướng của các pháp. Trí này tức là trí của Phật, do thành tựu Trung-quán mà có.

Chứng được ba trí trên này là nhờ tu ba pháp quán: không, giả, trung. Vì ba pháp quán này có cách-lịch, viên-dung khác nhau, nên khi chứng được ba trí cũng có thứ lớp và không thứ lớp khác nhau. Ba trí có thứ lớp, nghĩa là thành-tựu tuần-tự từ Nhất-thiết-trí, đến Ðạo-chủng trí, cuối cùng đến Nhất-thiết-chủng trí.

3.- Ba đức: Kết quả tu chứng của Thiên-thai tông, không phải chỉ có được ba Trí mà còn được ba Ðức nữa. Chữ Ðức ở đây không phải hiểu theo nghĩa thông-thường ở trên thế-gian, mà là Ðức của cảnh-giới Niết-bàn, nghĩa là có đầy đủ thường, lạc, ngã, tịnh. Ba đức ấy là:

a). Ðức Pháp thân: Pháp tức là khuôn phép đúng với chơn-tướng của vũ-trụ. Các Ðức-Phật nhờ nương theo khuôn phép ấy mà tu hành thành Phật, thể chứng được chơn-tướng vũ-trụ, cho nên gọi là pháp-thân.

b). Ðức Bát nhã: Tức là cái sáng-suốt về thỉ-giác của Phật, rõ biết các Pháp không sanh không diệt, vắng-lặng siêu-hình, một mực bình-đẳng, không thêm không bớt.

c) Ðức Giải thoát: Giải là không bị ràng buộc; Thoát và không vượt ra ngoài, là tự tại vô ngại. Ở đây muốn nói các Ðức-Phật đã lìa bỏ các phiền-não nghiệp-chướng ràng buộc, chứng được cảnh-giới đại tự-tại, Giải-thoát vậy.

V.- Kết Luận

Bốn phần trình bày trên này về Thiên-thai tông (duyên khởi lập tôn, tôn-chỉ và giáo-lý căn-bản, phương pháp tu hành, và quả vị tu chứng) tuy không nói lên được một cách tỉ-mỉ về mọi khía cạnh của tôn, nhưng thiết tưởng cũng đem lại cho quý vị độc giả một ý-niệm tổng-quát về Thiên-thai tông, một tôn đặc biệt thành lập ở Trung Hoa và đã lan tràn ảnh hưởng sang các nước Mông-Cổ, Nhật-Bản, Cao-Ly, Việt-Nam.

Ðiểm đặc sắc của tôn này chính là ở pháp "nhất tâm tam quán". Nhờ ba pháp quán này mà hành-giả nhận chân được một cách rõ ràng ba khía cạnh của vũ-trụ vạn-hữu: Vật, Tâm, và Chân như. Ba thứ ấy dụ cho sóng, nước và tánh ướt, mà nước cũng là tánh ướt. Nếu góp cả ba phương-diện mà xét, thì ba phương-diện có thể quy về một; nếu đứng về một phương-diện mà xét, thì vẫn có thể thấy cả ba. Ðó là ý-nghĩa sâu sắc của Thiên-thai tông mà cũng tức là lý-nghĩa chung của Viên-giáo.

Mong rằng quý độc-giả sẽ nghiền-ngẫm cho thấu đáo, để nhận rõ được cái lẽ tam tức nhứt, nhức tức tam ấy. Và như thế tức cũng đi dần vào pháp nhứt tâm tam quán rồi đó. (Cố Sa môn Thích Thiện Hoa)
*******************

Diễn đàn ghi chú:

1. Tôn chỉ giáo lý căn bản của Thiên Thai Tông: Lấy kinh Pháp Hoa làm tôn. Thuộc Viên-giáo.
Và 'Nhất Niệm tam thiên' trong 10 pháp giới (Lục đạo luân hồi + Tứ Thánh 'Thanh văn, Duyên giác, Bồ Tát, Phật'.)

2. Thực hành Pháp: Nhất tâm tam Quán. (Không quán, giả quán và trung đạo quán.)

3.Về Huệ học: Hành giả có 3 trí (Nhất-thiết -trí, Ðạo-chủng-trí và Nhất-thiết-chủng-trí.) và 3 Đức (Đức Pháp thân, Đức Bát Nhã và Đức giải thoát.)

Tóm lại: sau khi hành giả đọc bài Thiên Thai Tông hay Pháp Hoa Tông của cố Sa môn Thích Thiện Hoa.
và tạo cho mình một cá thể riêng trong 'Văn Tư và Tu' thì mới không uổng công bỏ thời gian học Phật.

Về văn thì có rất nhiều thuật ngữ Phật học Hán-Việt, Quí vị nên chịu khó tra từ điển một chút.

Về Tư (Tư duy) của bài văn này diễn tả về Tông phái, pháp môn tu hành chớ không phải là kinh. và cũng không có đường lối hướng dẫn. Phải làm gì trước cho người mới bắt đầu học Phật, và làm gì sau cho người đang tu hành. Quí vị muốn tìm hiểu thêm, nên vào chùa tìm Thầy hỏi thì dể hơn là tự tìm hiểu trong diễn đàn hay trên mạng Internet.

Về Tu (học).
Nhất niệm tam thiên thì tương xứng với người giữ giới và thực hành theo giới luật. Hoặc tương xứng với thiền chỉ.

Nhất tâm tam quán tương xứng với thiền quán.

Ba Trí và Ba Đức = Tu Huệ.

Như vậy, khi chúng ta học kinh Đại Thừa có khác về văn tự với kinh Nguyên Thủy nhưng không có khác về cách hành Pháp thành tựu là (Giới Định Huệ). (hêt).

Pt. Quảng Hòa, viết ngày 10-01-2014.
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland


Quay về Tổng quan về Bắc Tông Phật Giáo

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến2 khách

cron