Diễn đàn Tu viện Phật giáo Việt nam


Thực Tập Chánh Niệm

Các kinh sách mới về Phật Giáo Nguyên Thủy (hệ pali).

Các điều hành viên: Sen Hong, Bất Nhị

Thực Tập Chánh Niệm

Gửi bàigửi bởi gioidinhhue » Thứ 5 01 Tháng 7, 2010 3:29 am

Trong đời sống hằng ngày, con nguời phải giao tiếp qua lại sinh hoạt với nhau, sáu căn luôn tiếp xúc với sáu trần tạo ra những ý thức lăng xăng dao động, phân biệt chấp trước. Tâm ý con người luôn có khuynh hướng bám víu, dính mắc vào các trần cảnh. Do vậy, luôn bị ngoại cảnh lôi kéo, phiêu lưu trong thế giới ảo tưởng của tương lai, hoặc hoài niệm về quá khứ, và hiện tại bị trói buộc trong sự thành bại, đắc thất, vui buồn, thị phi, nhân ngã, bỉ thử v.v… Vì không có khả năng tự chủ, cho nên con người luôn cảm thấy bất an, phiền muộn, khổ đau. Đôi khi cảm thấy cuộc sống dường như vô vị, không còn ý nghĩa, nhìn cuộc đời chỉ còn lại một màu đen tối, mặc dù xung quanh chúng ta mọi cảnh vật thật là dễ thương, mầu nhiệm, nhưng với tâm hồn đầy giao động bất an đã biến chúng trở thành những cảnh vật thừa thải, vô nghĩa. Như Đại thi hào Nguyễn Du đã từng nói:

“Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu

Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”.

Do tâm con người ôm ấp những sầu muộn khổ đau, vì vậy mà thế giới tươi đẹp, vô cùng mầu nhiệm của nhân loại bị khỏa lấp một cách đáng thương. Đạo Phật là con đường hướng dẫn con người trở về nhận diện lại thế giới an bình tịnh lạc, về với cội nguồn uyên nguyên của sự sống tràn đầy hạnh phúc nơi mỗi người. Con đường trở về trong đạo Phật thì có rất nhiều, nhưng tất cả không ra ngoài Giới, Định và Tuệ, đây con đường giải phóng những phiền muộn, khổ đau ra khỏi tâm. Trước tiên Đức Phật dạy chúng ta phải dùng sợi dây giới luật để buộc lấy lục căn, không cho chúng buông lung phóng túng theo ngoại cảnh, không bị cảnh trần lôi kéo sai sử như một tên nô lệ. Nhờ vậy, tâm được định tĩnh và trí tuệ phát sanh, thấy rõ mọi sự vật dưới ánh sáng duyên khởi, cho nên mọi vấn đề trong cuộc sống trở nên tốt đẹp, vui vẻ. Muốn thành tựu Giới-Định-Tuệ thì chúng ta phải cần tu tập chánh niệm (Sammàsàti), nghĩa là phải trở về với thực tại của cuộc sống một cách sáng suốt, ý thức sự có mặt của mình một cách trọn vẹn, tự chủ không vướng mắc, thì việc gì cũng có thể giải quyết được. Kinh Tứ Thập Nhị Chương Đức Phật dạy: “Chế tâm nhứt xứ, vô sự bất biện”.

Chánh niệm là cơ sở căn bản, là nền tảng giúp hành giả hoàn thành Giới-Định-Tuệ. Chánh niệm tỉnh giác có khả năng ngăn chận không cho các pháp bất thiện phát sinh, tăng trưởng và phát huy mọi công đức lành, giúp hành giả tiến bước trên lộ trình giác ngộ và giải thoát. Đức Phật dạy: “Này các Tỳ Kheo, Ta không thấy một pháp nào khác đem lại bất lợi lớn như là pháp dễ duôi này (thất niệm). Ta không thấy một pháp nào khác đem lại lợi ích lớn như là pháp không dễ duôi này (chánh niệm), quả thật lợi ích lớn”. Chính sự lợi ích như thế, cho nên trong kinh Di Giáo, Đức Phật cũng đã khẳng định vai trò quan trọng của sự chánh niệm hơn cả những bậc thiện tri thức, hơn cả thiện hộ trì: “Các Thầy Tỳ Kheo, cầu thiện tri thức, cầu thiện hộ trợ, không bằng không quên chánh niệm. Nếu có người không quên chánh niệm thì các giặc phiền não sẽ không vào được. Thế nên các Thầy thường phải nhiếp niệm tại tâm, nếu để mất niệm thì sẽ mất hết công đức” (bản dịch của Ngài Hoàn Quan). Một khi có mặt của sự chánh niệm tỉnh giác sẽ tạo cho hành giả môt phong cách tốt đẹp, ứng xử nhanh nhẹn, sáng suốt, dễ dàng thành tựu các oai nghi trong đời sống tu tập. Người nào sống có chánh niệm thì đó mới gọi là người biết sống. Sống trong chánh niệm tỉnh giác là sống có nghệ thuật. Nói theo Thiền Sư Nhất Hạnh thì đây gọi là nghệ thuật an trú trong giơ phút hiện tại, bây giờ và ở đây. Bởi vì sự sống không bao giờ có mặt trong quá khứ và cũng không có mặt ở vị lai, mà sự sống chỉ có mặt trong giờ phút hiện tại, không bị dính mắc, không sầu muộn, đầy an lạc và thảnh thơi.

“Chánh niệm là đường sanh

Buông lung là ngỏ tử

Tinh cần là bất tử

Buông lung như thây ma”.

(Pháp cú 21)

Nội dung thực tập chánh niệm là quán sát mọi cử chỉ, hành động, tư tưởng, ngôn ngữ của mình, để biết được mình đang làm gì, đang nghĩ gì và đang nói gì. Nếu ngọn đèn chánh niệm thắp sáng thì mọi hành động, suy nghĩ và nói năng sẽ được trong sáng, lợi mình lợi người. Tinh thần chánh niệm này được Đức Phật dạy rất đầy đủ và rõ ràng trong bài kinh Tứ Niệm Xứ. Ở đây, chỉ xin trình bày sơ lược một ít kinh nghiệm về lợi ích của sự thực tập chánh niệm ở phạm vi của các oai nghi trong cuộc sống hằng ngày.

Trong đời sống hằng ngày hành giả cần phải duy trì sự chánh niệm tỉnh giác trong tất cả mọi oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi hay nói cách khác là thân đâu tâm đó. Chánh niệm giúp hành giả tự kiểm soát mọi động tác của mình. Khi bước chân đi, phải quan sát từng bước, ý thức rõ trong mỗi bước đi, không để tâm xao lãng vào việc khác. Nếu hành giả thực tập thiền hành trong Thiền đường hoặc một nơi vắng vẻ nào đó, thì cần theo dõi một cách chặt chẽ hơn, từ cách dỡ chân lên, rồi đặt chân xuống; chân phải dỡ lên đặt xuống, chân trái dỡ lên đặt xuống, mỗi bước, mỗi bước đều theo dõi và ý thức rất rõ, tâm luôn có mặt trong từng mỗi bước chân đi. Đi trong ý thức chánh niệm tỉnh giác như vậy thì hành giả có những bước đi thật nhẹ nhàng, khoan thai. Nếu đi trong thất niệm hành giả dễ rơi vào trạng thái vội vã, hấp tấp, mong đi cho nhanh đến. Đi mà hối hả thì người ta gọi là “đi như chó đạp lửa”, đi mà giống như chạy, đó là thái độ của người thiếu tỉnh giác; và đi như thế, hành giả biểu hiện cái tướng trạng vội vàng, bất an, cảm thấy rất mệt mỏi, sẽ không có sự an lạc trong lúc đi. Trong trường hợp như thế, hành giả nên dừng lại, rồi bắt đầu ý thức lại từng bước chân và bước cho thong thả, thảnh thơi và thật là vững chãi, hoặc đọc thầm câu: “Tôi biết tôi đang đi”, thì lập tức sự chánh niệm tỉnh giác sẽ có mặt lại ngay trong mỗi bước chân và sự an lạc cũng đồng thời hiện diện ngay tức khắc. Người đi có chánh niệm là người đang bước đi trên đất Phật, đang bước đi trong thế giới của Tịnh độ, ở ngay trần gian này, ngay tại đây và bây giờ, chứ không cần đợi sau khi chết sanh về Tịnh độ mới được đi trên đó. Như vua Trần Thái Tông cũng đã nói trong Khóa Hư Lục “Bộ bộ đạp trước thật địa”, nghĩa là mỗi bước chân của chúng ta đều đang dẫm trên mảnh đất thực tại.

“Mỗi bước chân đi vào tịnh độ

Mỗi cái nhìn thấy được pháp thân” .

Hoặc:

“Mỗi bước dẫm trên chốn Niết Bàn

Lướt dòng sanh tử chớ hề nan

Hư không dành bước trong ly niệm

Tịnh độ là đây chốn Niết Bàn”.

Hành giả tu tập chánh niệm sẽ tự kiểm soát được mình trong khi đứng, biết mình cần phải đứng như thế nào, chỗ nào nên đứng, chỗ nào không nên đứng và đứng cho ngay thẳng, đàng hoàng, không xuyên tới, ngã lui, đứng sao cho có oai nghi tế hạnh. Một khi đã an trú trong chánh niệm, hành giả luôn thể hiện một phong độ hết sức trầm tĩnh, khinh an. Dù đứng một mình hay đứng với bất cứ một ai, hoặc ở nơi vắng vẻ hay chỗ đông người, vẫn luôn gìn giữ tư thế tề chỉnh, đây là một nét đẹp độc đáo của con người tỉnh thức. Nếu không có sự hiện diện của chánh niệm, thì thân đứng đó mà tâm lại lang thang ở một nơi khác, chắc chắn hành giả sẽ không kiểm soát tư thế của mình đang đứng, cho nên có thể dẫn đến nguy cơ đứng không được đàng hoàng, thiếu oai nghi, khiến người khác nhìn thấy không sanh tâm hoan hỷ. Khi xưa, Ngài Xá Lợi Phất chỉ một lần nhìn thấy phong thái chánh niệm của Tôn giả Át Bê trong lúc hành khất, mà đã chuyển đổi cuộc đời của Ngài, từ giã con đường ngoài đạo trở về với chánh pháp của Đức Phật. Vì vậy, người biết tu tập chánh niệm là đã đủ làm cho mình an lạc hạnh phúc và làm cho mọi người cũng được an vui. Chứ không phải đợi có tiền của thật nhiều, có nhà lầu xe hơi, có quyền thế, có kẻ hầu người hạ mới có hạnh phúc đâu.

Ngoài sự duy trì chánh niệm trong khi đi đứng của đời sống sinh hoạt hằng ngày, thì chánh niệm tỉnh giác cũng phải có mặt trong lúc ngồi nằm. Khi nằm nghỉ cũng phải duy trì sự tu tập, không được gián đoạn. Để chánh niệm dễ dàng có mặt thì hành giả nên nằm nghiêng bên tay phải, hai chân chồng lên nhau, trong thế kiết tường, tức là thế nằm của sư tử, nếu mỏi chúng ta có thể trở mình nằm ngữa và để hai chân chéo vào nhau. Khi nằm nên buông xả tất cả những suy nghĩ, thả lỏng các cơ bắp, tạo một sự thoải mái, toàn thân hoàn toàn yên nghỉ và ý thức sự có mặt của mình, biết mình đang nằm nghỉ, hoặc chúng ta có thể theo dõi hơi thở vào ra hay sự lên xuống phồng xẹp của bụng, không để cho tâm ý buông lung. Ý thức chánh niệm như vậy thì các chủng tử dục vọng không có điều kiện để phát sinh và hạt giống tỉnh thức được huân tập tăng trưởng, một cảm giác hỷ lạc xuất hiện, sức khoẻ nhanh chóng được hồi phục, thân thể sẽ được khoẻ mạnh, thần sắc tươi sáng.

“Không tham việc đã qua,

Không mong việc sắp đến,

Sống ngay trong hiện tại,

Do vậy sắc thù diệu”.




“Do mong việc sắp tới,

Do tham việc đã qua,

Nên kẻ ngu héo mòn,

Như lau xanh rời cành”

(Tương ưng I, 6 )

Sự thực tập chánh niệm qua các oai nghi đi-đứng-nằm-ngồi, thì ngồi là một tư thế tối ưu hơn hết. Một tư thế dễ dàng thực hiện sự có mặt của chánh niệm. Cho nên, trong nếp sống Thiền môn chư Tổ đã chế ra những thời khóa để ngồi tịnh tu, nhiếp phục tâm ý, không cho nó rong ruổi, chạy đông chạy tây. Khi ngồi công phu, có thể ngồi kiết già hoặc bán già gì cũng được, nhưng phải giữ lưng cho thẳng, toàn thân thư giản, theo dõi hơi thở, hơi thở vào, ra, dài, ngắn, mạnh hay yếu như thế nào ý thức rõ như thế ấy, “hơi thở vào tôi biết hơi thở vào, hơi thở ra tôi biết hơi thở ra. Hơi thở vào dài biết rằng hơi thở vào dài, hơi thở ra dài biết rằng hơi thở ra dài…”, theo dõi và ghi nhận như vậy, không để tâm chạy sang đối tượng khác. Nếu những hành giả đang hành trì phương pháp niệm Phật thì cũng có thể áp dụng phương pháp theo dõi hơi thở và phối hợp với câu niệm Phật. Như khi hít vào thầm niệm “Nam mô A Di Đà Phật”, thở ra thầm niệm “Nam mô A Di Đà Phật”, làm như vậy, không được xao lãng cho hết thời gian công phu. Trong tác phẩm Giảng Nghĩa Kinh Di Đà, Pháp sư Viên Anh nói: “Người niệm Phật nếu biết kết hợp với hơi thở thì sẽ được Tinh tấn bất thối chuyển”. Một hành giả muốn đạt được chí nguyện tu tập của mình thì không thể xem nhẹ thời khóa công phu tu tập. Trên con đường tầm cầu giác ngộ giải thoát hành giả có thể hy sinh lĩnh vực tri thức chứ không được quên lãng giờ giấc tu tập. Thuở xưa Đức Thế Tôn cũng trong tư thế ngồi tịnh tu mà thành tựu sự giác ngộ viên mãn, và đến khi thành đạo rồi Ngài vẫn luôn giữ gìn thời khóa hằng ngày của Ngài. Nói như thế, không có nghĩa là đợi đến khi nào chúng ta ngồi vào công phu, mới ý thức tu tập chánh niệm, còn những giờ khác thì mặc tình để tâm bay nhảy, thiếu sự kiểm soát, mà ngay cả khi ngồi chơi với huynh đệ, với bạn bè, hoặc ngồi làm việc ở cơ quan… đều cần phải thực tập chánh niệm.

“Bây giờ rõ mặt đôi ta,

Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao”.

Năng lực của sự ý thức chánh niệm sẽ giúp hành giả thật sự an lạc, ung dung trong suốt quá trình ngồi. Còn nguợc lại ngồi trong tâm trạng lăng xăng, dao động, bởi những ý niệm điên đảo vọng tưởng, thì không thể ngồi một cách bình yên, vững chãi, mặc dù nơi chúng ta đang ngồi rất yên ổn, rất thanh tịnh.

“Vậy nên những chốn thong dong

Ở không yên ổn, ngồi không vững vàng”.

Người nuôi dưỡng chánh niệm thì trong tất cả mọi oai nghi tự nhiên được thành tựu, đi-đứng-ngồi-nằm đều trở nên thư thái, đẹp đẽ, thể hiện một phong cách khả ái, an lạc, tràn đầy hạnh phúc. Trong tác phẩm Tâm Tĩnh Lặng, Thiền Sư Achan Chah nói rằng: “Tu hành đúng đắn là duy trì chánh niệm trong tất cả mọi hoàn cảnh”.

“Đi-đứng-nằm-ngồi trong chánh niệm

Vào ra cười nói tướng đoan nghiêm”.

Nếp sống của một hành giả Phật giáo, là nếp sống của thiền môn quy củ, cho nên trong mọi cử chỉ, động niệm đều phải thận trọng, tế nhị, không được thô tháo. Người thực tập thành tựu chánh niệm trong các oai nghi, cũng có nghĩa là giới luật được thành tựu. Giới luật được thành tựu thì Trí tuệ sẽ có mặt. Trong Trường Bộ kinh Đức Phật dạy: “Này Bà La Môn, trí tuệ được giới hạnh làm cho thanh tịnh, giới hạnh được trí tuệ làm cho trong sạch, ở đâu có giới hạnh ở đó có trí tuệ; ở đâu có trí tuệ ở đó có giới hạnh. Người có giới hạnh nhất định có trí tuệ, người có trí tuệ nhất định có giới hạnh. Trí tuệ và giới hạnh được xem như là tối thắng ở đời”. Một khi trí tuệ có mặt thì sầu-bi-khổ-ưu-não sẽ bị tiêu diệt, như ánh sáng xuất hiện thì màn đêm tăm tối sẽ bị tiêu tan. Đây là mục đích duy nhất của hành giả tu theo Đạo Phật hướng đến. Vì vậy, chánh niệm là yếu tố quan trọng nhất giúp hành giả thành tựu nếp sống phạm hạnh, một nếp sống an lạc giải thoát. Chúng ta có thể nói chánh niệm là linh hồn của một hành giả Phật giáo. Vì sống có chánh niệm mới thật là sống, mới nhận diện sâu sắc về thực tại của các pháp. Người không an trú trong chánh niệm cứ để tâm tiếc nuối quá khứ, hay mơ mộng hảo huyền ở tương lai, buông lung trong dục vọng, chấp thủ trần cảnh, không sống trong sự tịnh lạc của đương niệm, không thấy được bản chất của sự thật, thì những người đó không thể gọi là sống. Dù thân họ vẫn đang hoạt động, sáu căn vẫn tiếp xúc với sáu trần, nhưng tâm của họ không có mặt trong giây phút hiện tại, cho nên sự tiếp xúc ấy trở nên vô nghĩa, có mà cũng như không. Khổng Tử nói: “Tâm bất tại yên, thị nhi bất kiến, thính nhi bất văn, thực nhi bất chi kỳ vị”. Nghĩa là Tâm không có mặt trong giờ phút hiện tại, thì thấy mà không thấy, nghe mà không nghe, ăn mà không biết mùi vị”. Sống mà không ý thức được mình đang sống là nỗi bất hạnh lớn nhất của con người.

Tinh thần tu tập chánh niệm giúp đời sống tu tập của một hành giả được vững chãi, ít vấp phải những vụng về sai trái, giải phóng mọi phiền muộn lo âu. Người sống biết an trú trong giờ phút hiện tại, là người biết xây dựng cuộc đời mình, biết kiến tạo cho mình một hòn đảo bình an. Như lời Đức Thế Tôn dạy: “Này Ananda, vị Tỳ kheo quán thân nơi thân, nhiệt tâm tỉnh giác, chánh niệm nhiếp phục tham ưu ở đời, quán thọ nơi thọ…, quán tâm nơi tâm…, quán pháp nơi pháp… Này Ananda, như vậy là vị Tỳ Kheo tự làm ngọn đèn cho chính mình, không nương tựa một gì khác, dùng chánh pháp làm ngọn đèn, dùng chánh pháp làm nơi nương tựa, không nương tựa một gì khác. Những vị ấy, này Ananda, là những vị tối thượng trong Tỳ Kheo của Ta”.(Trường Bộ Kinh III, tr.101, bản dịch của HT. Minh Châu, 1972)

Con đường duy nhất ra khỏi sầu-bi-khổ-ưu-não của Phật giáo, đó là Giới-Định-Tuệ. Chìa khóa đưa đến thành tựu Giới-Định-Tuệ là sự nỗ lực tu tập chánh niệm tỉnh giác, thể nhập trí tuệ siêu việt, thấu rõ chân tướng của vạn pháp, thoát ly tham ái, chấp trước, diệt trừ các tâm lý tình cảm đắm nhiễm, đưa hành giả từ địa vị phàm phu tiến lên thánh giả, hoàn toàn tự tại giải thoát.

“Hãy nỗ lực tinh tấn

Như Lai bậc chỉ đường

Ai tu tập chánh niệm

Ắt thoát vòng ma vương”.

(Pháp Cú 276)

Đây là con đường rất thiết thực, rất là người, không van xin, không chờ đợi một đấng thần linh hay thượng đế nào ban bố cho chúng ta sự giải thoát chấm dứt khổ đâu, mà bằng sự nỗ lực tu tập của chính mình ngay trong hiện tại và tại đây. Sự giải thoát ấy có thật ngay trong giây phút hiện tại, một đời sống tràn đầy an lạc và hạnh phúc. Con đường này không luận nam phụ lão ấu, kẻ ngu người trí, màu da chủng tộc, ai cũng có thể tu tập được; chỉ cần trở về với giây phút hiện tại, thắp sáng chánh niệm tỉnh giác: Khi đi “tôi biết tôi đang đi”, khi ngồi “tôi biết tôi đang ngồi”, khi đứng “tôi biết tôi đang đứng”, khi nằm tôi biết tôi đang nằm”, khi nghe chim hót “tôi biết tôi đang nghe chim hót”, khi nhìn hoa nở “tôi biết đang nhìn hoa nở”… chỉ chừng ấy thôi không cần phải thêm bớt gì cả, các pháp đang diễn ra như thế nào, ý thức rõ ràng như thế ấy, không hoan hỷ tán thành, không chán ghét đả phá, hãy để cho “trong cái thấy, sẽ chỉ là cái thấy; trong cái nghe, sẽ chỉ là cái nghe; trong cái thọ, tưởng sẽ chỉ là cái thọ, tưởng; trong cái thức tri, sẽ chỉ là cái thức tri. Như vậy là đoạn tận khổ đau”. (Tiểu Bộ kinh I, tr. 398, bản dịch của HT.Minh Châu, 1982).

Đây là một đạo lộ thật sinh động, đơn giản, nhẹ nhàng, tịnh hóa ba nghiệp, hướng nhân loại đến phương trời tươi sáng, an lành, hạnh phúc, luôn được Đức Phật dạy cho hàng đệ tử của Ngài :

“Hãy tinh tấn, chánh niệm, giữ giới luật,

Nhiếp thúc ý chí, bảo hộ tự tâm.

Ai tinh tấn trong pháp và luật này

Sẽ diệt sanh tử, chấm dứt khổ đau”.

http://kyvientrungnghia.com/vi/thuvien/ ... nhniem.htm
Hết thẩy là khảo nghiệm,

Coi thử mình ra sao,

Ðối cảnh lầm không biết,

Phải luyện lại từ đầu.

Hòa Thượng Tuyên Hóa

http://www.dharmasite.net/
gioidinhhue
Cảm ơn, Thành viên Moderator (Xin thông báo BQT)
 
Bài viết: 953
Ngày tham gia: Thứ 5 03 Tháng 9, 2009 3:27 pm

Re: Thực Tập Chánh Niệm

Gửi bàigửi bởi gioidinhhue » Thứ 5 01 Tháng 7, 2010 3:36 am

CHÁNH NIỆM – TRÁI TIM CỦA THIỀN TẬP




THÍCH NHUẬN HẢI

Trong truyền thống tu tập của đạo Phật thì Thiền đóng vai trò then chốt . Thực tập Thiền có công năng giúp ta khôi phục trọn vẹn con người của ta, giúp ta trở thành tươi mát, định tĩnh, an lạc và chăm chú để ta có thể nhìn sâu vào bản thân và hoàn cảnh để thấy được thực tại của bản thân mình và hoàn cảnh . Chính nhờ cái thấy ấy mà giúp ta vượt thoát khổ đau và ràng buộc . Một khi chúng ta trở nên một con người có an lạc và hạnh phúc hơn, chúng ta sẽ không còn làm đau khổ kẻ khác bằng cách cư xử và nói năng vụng về sai trái nữa ,mà chúng ta bắt đầu chuyển hoá được hoàn cảnh xung quanh và giúp những người xung quanh được an lạc, hạnh phúc như ta. Thiền tập có công năng giúp trị liệu và chuyển hoá những khổ đau bất an ở trong ta .

Để có thể thực tập quán chiếu và nhìn sâu vào tự thân và hoàn cảnh xung quanh mình, chúng ta phải biết cách thức tu tập để khôi phục lại sự toàn vẹn của con người mình, biết cách thức để làm cho mình trở thành tươi mát, định tĩnh và chăm chú. Phương cách và nguồn năng lượng được sử dụng để làm công việc này là Chánh niệm. Chánh niệm (Right mindfulness) là một trong tám chi phần quan trọng của Bát chánh đạo . Chánh niệm tức là sự ý thức, sụ có mặt của tâm ý một cách trọn vẹn, tự chủ và sáng tỏ ngay trong mỗi giây phút của hiện tại, bây giờ và ở đây . Chánh niệm là khả năng giúp cho ta ý thức được những gì đang có mặt, đang xảy ra trong ta và quanh ta . Năng lượng của chánh niệm được ví như là ngồn điện năng chiếu rọi ánh sáng lên trên đối tượng thiền quán : như chiếu rọi vào một trí giác sai lầm, một cảm thọ bất an, một động tác, một phản ứng hoặc là một hiện tượng sinh lý hay vật lý, và làm cho đối tượng ấy trở nên sáng tỏ, tươi đẹp và linh động . Chánh niệm có khả năng giúp ta nhìn sâu và thấy rõ được tự tánh và gốc rễ của đối tượng mà ta quán chiếu . Thực tập chánh niệm không phải chỉ trong lúc ngồi thiền mà phải thực tập thường xuyên trong đời sống hàng ngày, trong lúc đi, đứng, nằm và ngồi ta đều phải ý thức rõ và làm chủ về mỗi động tác, mỗi cử chỉ và tâm ý của ta, không để cho bất cứ một hành động, một lời nói và ý nghĩa nào đi ra khỏi sự kiểm soát và giác tỉnh của tâm ý . Mọi động tác ngôn ngữ và tư duy đều đặt nó dưới ánh sáng của chánh niệm .

Người thực tập chánh niệm là người luôn làm chủ mình, không để cho tâm ý tán thất trôi lăn theo những loạn tưởng và bị lôi kéo bởi những âm thanh sắc tướng bên ngoài . Đức Phật sở dĩ được tôn xưng là một bậc "Điều ngự Trượng phu" bởi vì Ngài đã nắm được chủ quyền về thân tâm của Ngài và hoàn cảnh xung quanh một cách vững chãi và thường xuyên . Ngài luôn an trú trong chánh niệm, trong sự tỉnh thức trọn vẹn .

Thực tập chánh niệm giúp ta trở thành một con người tự chủ và tự do như là Đức Phật . Chánh niệm giúp ta tiếp xúc với sự sống, giúp ta sống sâu sắc và trọn vẹn mỗi giây phút, giúp ta thực tập quán chiếu để nhìn sâu, để thấy và để hiểu . Hoa trái của sự thực tập chánh niệm quán chiếu đó là sự kiến đạo, sự giác ngộ và giải thoát . Trong quá trình thực tập, những sợi dây ràng buộc (triền sử) từ từ được tháo mở, những nội kết khổ đau như sợ hãi, hận thù, giận dữ, nghi kỵ, đam mê v.v… từ từ được chuyển hoá, biên giới của sự chia cắt phân biệt từ từ được mở tung : và mối liên hệ giữa ta và người trở nên dễ dàng, sự an lạc và niềm vui sống tự nhiên xuất hiện, hành giả sẽ cảm thấy mình như một đoá hoa đang từ từ hé nở . Nguồn an lạc của thiền tập rất mầu nhiệm là thế .

Thực tập thiền là làm lắng yên và ngưng tất cả vọng niệm, loạn tưởng để cho tâm ý của chúng ta trở nên định tĩnh sáng tỏ . Sự thực tập và biểu hiện cụ thể của thiền đó là đời sống có ý thức và có năng lượng của chánh niệm . Khi đang làm gì ta có ý thức trọn vẹn về công việc ta đang làm, khi có ý thức, có tự chủ và có sự trầm tĩnh tức là chúng ta đang có chánh niệm, có sự tự chủ . Ngược lại, lúc làm mà chúng ta không biết là ta đang làm, lúc đi mà không biết mình đang đi v.v…tức là ta đang ở trong tình trạng thất niệm quên lãng vì tâm ý không có mặt một cách trọn vẹn với giây phút đang là . Chánh niệm là một nguồn năng lượng rất sáng đẹp và quý báu ; nếu không biết thực tập, không biết sống trọn vẹn với nguồn năng lượng ấy với mỗi phút giây hiện tại thì chúng ta sẽ không thể nào tạo nên nguồn an lạc, vững chãi và hạnh phúc chân thật được .

Chánh niệm là trái tim thiền tập trong đạo Phật, là nguồn năng lượng quán chiếu không thể thiếu của một thiền giả . Thực tập chánh niệm đưa đến định lực và tuệ giác . Thành tựu được định lực thì ta sẽ thành tựu được tuệ giác, và nhờ tuệ giác mà ta thấy được chân tướng của sự vật và của cuộc đời . Ta có thể xây dựng đời sống an vui và hạnh phúc cho chính mình và mọi người xung quanh .
(Nguyệt san Giác Ngộ số 49 )
Hết thẩy là khảo nghiệm,

Coi thử mình ra sao,

Ðối cảnh lầm không biết,

Phải luyện lại từ đầu.

Hòa Thượng Tuyên Hóa

http://www.dharmasite.net/
gioidinhhue
Cảm ơn, Thành viên Moderator (Xin thông báo BQT)
 
Bài viết: 953
Ngày tham gia: Thứ 5 03 Tháng 9, 2009 3:27 pm

Re: Thực Tập Chánh Niệm

Gửi bàigửi bởi laitutran247 » Thứ 4 21 Tháng 7, 2010 12:44 am

1. Tu tập Chánh niệm khi tọa thiền
Tọa thiền là một pháp tu rất quan trọng, không thể thiếu được trong việc tu tập Chánh niệm. Xưa nay, có rất nhiều hành giả chứng quả giải thoát trong khi đang tọa thiền. Đức Phật Bổn Sư của chúng ta đã chứng quả trong khi đang ngồi thiền quán. Vậy trong khi tọa thiền ta phải tu tập Chánh niệm như thế nào? Điều đó được Hòa thượng Mahasi Sayadaw hướng dẫn rất kỹ trong đoạn trích sau đây:

Lúc thực tập bạn có thể ngồi kiết già, hay bán già hoặc ngồi hai chân không chồng lên nhau. Nếu thấy ngồi dưới sàn nhà khó định tâm hay làm bạn khó chịu, bạn có thể ngồi trên ghế. Tóm lại, bạn có thể ngồi cách nào miễn thấy thoải mái là được.

Hãy chú tâm vào bụng. Nên nhớ là chú tâm, chứ không phải chú mắt vào bụng. Chú tâm vào bụng bạn sẽ thấy được chuyển động phồng xẹp của bụng. Nếu không thấy rõ được chuyển động của bụng, bạn có thể đặt hai tay lên bụng để “cảm giác” sự phồng xẹp. Một lúc sau, bạn sẽ nhận rõ sự chuyển động vào ra của hơi thở. Bạn hãy ghi nhận sự phồng lên khi hít vào và xẹp xuống khi thở ra. Mọi chuyển động của bụng đều phải được ghi nhận. Từ bài tập này bạn biết được cách chuyển động của bụng. Bạn không cần để ý đến hình thức của bụng mà chỉ cần theo dõi cảm giác, sức ép do chuyển động của bụng tạo nên mà thôi.

Đối với những người mới tập thiền, đây là phương pháp rất có hiệu quả để phát triển khả năng chú ý, định tâm và tuệ giác. Càng thực tập lâu càng thấy sự chuyển động rõ ràng hơn. Khi tuệ giác phát triển trọn vẹn thì ta sẽ nhận thức được những diễn tiến liên tục của tiến trình tâm-sinh-lý qua mỗi giác quan. Vì là người sơ cơ hành thiền, sự chú ý và khả năng định tâm còn yếu nên bạn sẽ thấy khó giữ tâm trên những chuyển động phồng xẹp liên tục. Do đó bạn có thể nghĩ rằng: ‘Ta chẳng biết cách giữ tâm trên mọi chuyển động phồng xẹp này’. Bạn cần nhớ rõ đây là một tiến trình học hỏi vì vậy hãy yên tâm tiếp tục hành thiền. Chuyển động phồng xẹp của bụng luôn luôn hiện hữu, vì vậy ta không cần tìm kiếm chúng. Thực ra, những thiền sinh mới chỉ cần đơn thuần chú tâm trên hai chuyển động phồng xẹp mà thôi nên sự thực tập cũng không khó khăn lắm. Bạn hãy tiếp tục thực tập bài tập này bằng cách chú tâm vào chuyển động phồng xẹp. Đừng bao giờ lập đi lập lại ra lời những chữ phồng xẹp, chỉ cần niệm thầm mà thôi. Niệm thầm sẽ giúp bạn dễ chú tâm vào đề mục. Nhưng nếu niệm thầm cản trở sự chú tâm của bạn, thì bạn chỉ ghi nhận sự chuyển động của bụng mà không cần niệm thầm cũng được. Nên thở đều đặn tự nhiên tránh thở dài hay ngắn quá. Nhiều thiền sinh muốn thấy rõ sự phồng xẹp nên hay thở dài hoặc thở nhanh, làm như thế sẽ khiến bạn mệt.

Trong khi thực tập quan sát sự phồng xẹp của bụng, những tư tưởng khác sẽ phát sinh làm bạn quên mất sự chú tâm. Tư tưởng, ham muốn, ý nghĩ, tưởng tượng, v.v... sẽ xuất hiện giữa những “phồng xẹp”. Bạn không nên bỏ qua những phóng tâm hay vọng tưởng này mà phải ghi nhận từng phóng tâm một khi chúng phát sinh.

Vì phải liên tục thiền trong một khoảng thời gian khá dài với một tư thế ngồi hay nằm nên bạn sẽ cảm thấy mệt và thấy mỏi tay chân. Trong trường hợp này, bạn hãy chú tâm vào nơi mỏi mệt và ghi nhận: “mỏi-mệt, mỏi-mệt, mỏi-mệt””. Hãy ghi nhận một cách tự nhiên, không mau quá cũng không chậm quá. Cảm giác mệt mỏi sẽ dần dần giảm đi và cuối cùng hết hẳn. Nếu sự mệt mỏi kéo dài đến độ không chịu đựng nổi, lúc bấy giờ bạn hãy thay đổi tư thế. Mỗi một chi tiết chuyển động nhỏ đều phải được ghi nhận một cách trung thực và thứ tự.

Khi thiền của bạn tiến triển, bạn sẽ có những cảm giác đau đớn khó chịu. Bạn có cảm giác khó thở, nghèn nghẹn, có khi như bị kim chích, thấy nhột nhạt như có côn trùng bò trên thân mình. Bạn cũng có thể thấy ngứa ngáy, đau đớn như bị con gì cắn, bị rét run. Khi bạn ngưng thiền thì những cảm giác trên biến mất ngay. Khi bạn tiếp tục thiền trở lại và cứ mỗi khi bắt đầu định tâm thì những cảm giác khó chịu trên lại xuất hiện. Những cảm giác này không có gì đáng lo ngại. Đây không phải là dấu hiệu của bệnh hoạn mà chỉ là những cảm giác bình thường vẫn hiện diện trong cơ thể ta nhưng chúng bị che lấp vì tâm ta đang mãi bận rộn với những đối tượng trước mắt. Khi thiền tiến triển, tâm ta trở nên bén nhọn, tinh tế, nên dễ dàng nhận thấy những cảm giác này, khi mức độ thiền tiến triển hơn bạn sẽ vượt qua tất cả những chướng ngại này. Nếu tiếp tục và kiên trì thiền bạn sẽ không còn gặp những cảm giác khó chịu này nữa. Nếu bạn thiếu can đảm, thiếu quyết tâm và gián đoạn một thời gian thì bạn sẽ chạm trán với chúng lần nữa mỗi khi thiền của bạn tiến triển. Nhưng nếu gặp những cảm giác khó chịu này mà bạn vẫn quyết tâm và kiên trì tiếp tục hành thiền thì bạn sẽ chinh phục được chúng và bạn sẽ không bao giờ gặp những cảm giác khó chịu này nữa trong lúc hành thiền...

2. Tu tập chánh niệm khi thiền hành
Thiền hành là một pháp tu tập rất quan trọng và cần thiết. Trong những khóa tu nhiều ngày, thời gian dành cho việc thiền hành rất nhiều. Thiền hành giúp cơ thể được quân bình và khỏe mạnh. Xưa nay, đã có nhiều hành giả giác ngộ giải thoát trong khi thiền hành. Vậy chánh niệm được tu tập như thế nào trong khi thiền hành. Điều này được Hòa thượng Silananda chỉ dẫn rất kỹ trong đoạn trích sau đây:
“Khi thay đổi tư thế ngồi sang tư thế đứng để chuẩn bị đi kinh hành, bạn phải luôn luôn cố gắng giữ tâm chánh niệm liên tục. Khi thực hành Thiền Minh Sát, điều quan trọng là phải luôn luôn chú tâm ghi nhận với chánh niệm.”

3. Tu tập Chánh niệm khi nghe giảng
Người xưa có câu: “Không thầy đố mày làm nên”. Qua câu tục ngữ ấy ta thấy việc nghe giảng có tầm quan trọng rất lớn. Chính nhờ nghe giảng mà kiến thức của ta sẽ ngày càng sâu rộng. Qua bài giảng, giảng sư sẽ cung cấp cho ta rất nhiều thông tin, rất nhiều kiến thức và trao chìa khoá để ta đi sâu vào những lĩnh vực mà ta cần nghiên cứu. Nhưng có nhiều người, vì thất niệm nên khi nghe giảng mà tâm hồn họ trôi nổi tận đâu đâu, họ thả hồn nhớ lại những chuyện đời xửa đời xưa, hoặc lo lắng suy tính những chuyện trong tương lai mà quên rằng họ đang nghe giảng. Do đó, tuy nghe giảng cả buổi mà họ chẳng tiếp thu được bao nhiêu kiến thức. Nếu nghe giảng như vậy thì thật phí thời gian vô ích. Muốn cho việc nghe giảng đạt kết quả tốt thì ta cần phải tu tập chánh niệm trong khi nghe giảng. Lúc ấy, ta phải giữ cho tâm theo sát những lời giảng để hiểu rõ nghĩa lý trong những lời giảng ấy. Đôi lúc tâm ta chạy đi nơi khác, nhờ chánh niệm, ta sẽ nhận ra ngay và nhẹ nhàng kéo nó trở về với bài giảng. Có lúc, tâm cảm thấy chán không muốn nghe giảng nữa, ta cũng phải chánh niệm ghi nhận cảm giác chán nản ấy. Khi ta dùng chánh niệm rọi vào tâm chán nản ấy thì nó sẽ từ từ tan biến và ta sẽ nhẹ nhàng đưa tâm trở về theo dõi bài giảng. Đôi khi đang nghe giảng thì cơn buồn ngủ ập đến. Nó làm tâm trí ta mê mờ không còn ghi nhận được gì nữa và mắt ta nặng trĩu như muốn sụp xuống. Mặc dù ta lấy hết sức căng con mắt lên nhưng vẫn không sao thắng được cơn buồn ngủ. Thế là cứ vài phút chúng ta lại gật đầu một lần như thể khen giảng sư giảng hay quá. Trong trường hợp này, chúng ta phải dùng chánh niệm rọi thẳng vào cơn buồn ngủ. Khi được chánh niệm rọi vào thì cơn buồn ngủ như kẻ trộm bị người ta phát hiện ra sẽ co giò mà chạy. Lúc ấy, tâm ta sẽ tỉnh táo trở lại và tiếp tục theo sát bài giảng. Như vậy, nếu ta biết thực tập trong khi nghe giảng thì kết quả mà ta thu được sẽ rất cao, ta có thể nắm bắt hầu hết mọi kiến thức mà giáo sư truyền trao trong buổi giảng đó.

4. Tu tập chánh niệm khi ôn bài và nghiên cứu
Sau khi nghe giảng, muốn cho kiến thức của buổi giảng ấy in sâu vào tâm trí thì ta phải ôn lại. Việc ôn bài lại và nghiên cứu là một công việc chiếm rất nhiều thời gian. Theo những giáo sư Đại học thì sau một giờ nghe giảng ở lớp, sinh viên cần phải bỏ ra năm giờ để nghiên cứu thêm. Do đó, chúng ta cần phải làm sao cho việc ôn bài và nghiên cứu có kết quả cao nhất. Nếu khi chúng ta ôn bài và nghiên cứu mà không có chánh niệm thì tâm trí chúng ta thường bị vọng tưởng, hôn trầm chi phối và kết quả là chúng ta hao tốn rất nhiều thời gian mà kết quả thu được không bao nhiêu. Để cho công việc ôn bài và nghiên cứu có kết quả tốt, chúng ta cần phải thực tập chánh niệm trong khi đang làm việc ấy. Khi ôn bài, chúng ta phải chú tâm vào nội dung của đề tài mà chúng ta đang ôn. Nếu tâm ta nhớ nghĩ đến chuyện quá khứ hay mơ mộng việc tương lai thì chúng ta phải lập tức nhận ra nó và lôi nó trở về lại với sự chú ý vào bài học hoặc đề tài đang nghiên cứu. Nếu tâm ta bị dật dờ, buồn ngủ, thì ta dùng chánh niệm quan sát cơn buồn ngủ đó. Khi bị ta quan sát, cơn buồn ngủ đó sẽ lặng lẽ rút lui và tâm ta sẽ tĩnh táo trở lại. Có những lúc, do ảnh hưởng của bệnh cảm, hoặc do hôm trước ta đã thức quá khuya làm cơ thể ta bị thiếu ngủ trầm trọng nên khi ta dùng chánh niệm rọi vào, cơn buồn ngủ vẫn không chịu tan biến hoặc có tan biến đi thì chỉ một lát sau nó lập tức trở lại. Trong trường hợp như vậy, tốt nhất là ta nên nằm nghiêng qua hông phải, Chánh niệm theo dõi hơi thở ra vào trong mười lăm phút. Có thể trong khi ta nằm như vậy thì ta đi vào giấc ngủ hồi nào không hay nhưng việc ấy cũng không sao, bởi vì chỉ cần bỏ ra mười lăm phút để ngủ như vậy, tâm trí của ta sẽ hoàn toàn tỉnh táo không còn buồn ngủ nữa, và lúc ấy, việc ôn bài và nghiên cứu của ta sẽ rất có kết quả, còn nếu ta tiếc mười lăm phút ấy và ráng làm việc thì cơn buồn ngủ, uể oải sẽ liên tục đến quấy rầy ta, do đó tuy tốn nhiều thời gian mà kết quả ta thu được chẳng có là bao.

5. Tu tập chánh niệm khi tụng kinh:
Tụng kinh là một pháp tu được rất nhiều người ưa thích. Hầu hết mọi người khi nghe nói đến tu tập là nghĩ ngay đến việc tụng kinh, gõ mõ. Hàng ngày, đa số Tăng Ni và Phật tử đều bỏ ra vài giờ để tụng kinh. Nếu không có chánh niệm thì việc tụng kinh sẽ chẳng mang lại bao nhiêu lợi ích. Muốn việc tụng kinh có kết quả tốt thì chúng ta cần phải thực tập chánh niệm trong khi tụng kinh. Làm sao để thực tập chánh niệm trong khi đang tụng kinh? Khi tụng kinh thì chúng ta phải chú tâm chánh niệm vào lời kinh tiếng kệ, vừa tụng vừa theo dõi ý nghĩa của từng câu kinh. Khi tâm ta chuyên chú vào lời kinh, không có hôn trầm hay vọng tưởng thì ta biết rằng tâm ta đang chuyên chú, không có hôn trầm vọng tưởng. Khi đang tụng kinh mà tâm ta bị vọng tưởng dẫn dắt lui về quá khứ hoặc hướng đến tương lai thì ta phải lập tức nhận ra tâm ta đang vọng tưởng rồi lặng lẽ kéo tâm trở về theo dõi lời kinh. Nếu trong khi tụng kinh mà tâm ta dật dờ, buồn ngủ thì ta ghi nhận sự buồn ngủ ấy rồi nỗ lực chú tâm theo dõi thật sát từng câu kinh. Một lát sau, ta sẽ không còn hôn trầm nữa. Nếu khi tụng kinh, thân tâm ta trở nên khinh an thì chúng ta dùng chánh niệm ghi nhận sự khinh an ấy rồi lại quay về theo dõi ý nghĩa của lời kinh. Nếu thân tâm ta mệt mỏi rã rời thì chúng ta cũng ghi nhận cảm giác đó rồi trở lại theo dõi những câu kinh. Chúng ta đừng nên quá dính mắc vào cảm giác khinh an hay mệt mỏi bởi vì chúng chỉ là những trạng thái thoạt đến thoạt đi. Có khi, lúc mới thức dậy vào buổi khuya, chúng ta cảm thấy thân thể mỏi mệt nhưng sau khi tụng kinh một lát thì chúng ta cảm thấy thân tâm nhẹ nhàng thơ thới. Cũng có đôi khi, chúng ta bắt đầu buổi tụng kinh với một tinh thần sảng khoái nhưng trong khi chúng ta tụng kinh thì ta lại cảm thấy thân tâm nặng nề và một đỗi sau lại thấy thân tâm khinh an trở lại. Do đó, ta chỉ cần chú tâm chánh niệm ghi nhận chúng chớ không nên dính mắc vào chúng làm gì.

6. Tu tập Chánh niệm khi chấp tác:
Hàng ngày, chúng ta có rất nhiều việc phải làm như nấu cơm, quét nhà, rửa chén, xách nước, bửa củi... Những công việc ấy chiếm rất nhiều thời gian của ta. Nếu ta không tranh thủ tu tập trong những thời gian ấy thì thật lãng phí. Vậy trong những lúc ấy ta phải tu tập chánh niệm như thế nào? Để thực tập chánh niệm trong những lúc ấy, ta cần phải chú tâm làm cho thật tốt công việc mà ta đang làm. Chẳng hạn như khi đang rửa chén, mặc dù đó là công việc hết sức tầm thường nhưng ta hãy cố gắng làm như là đang được làm một việc gì hết sức quan trọng. Ta chú tâm vào từng hành động một. Khi cầm chén lên ta biết ta đang cầm chén lên, tay đụng vào chén có cảm giác lạnh ta biết có cảm giác lạnh, khi ta đặt chén xuống ta biết ta đang đặt chén xuống. Trong khi đang rửa chén nếu tâm ta vọng tưởng chuyện quá khứ thì ta lập tức ghi nhận rồi nhẹ nhàng kéo tâm trở về với công việc. Nếu tâm suy nghĩ đến kế hoạch trong tương lai thì ta cũng ghi nhận và nhẹ nhàng kéo nó trở về. Đừng bao giờ có ý nghĩ muốn rửa cho thật nhanh để còn làm chuyện khác, quan trọng hơn. Nếu tâm ta có ý nghĩ ấy ta cũng chỉ cần ghi nhận nó thì nó sẽ lập tức biến mất. Chúng ta phải làm sao tìm được sự an lạc trong khi rửa chén. Khi làm những công việc khác, ta cũng làm theo cách tương tự như vậy. Chúng ta đừng cho rằng đó là công việc tầm thường rồi không chịu thực tập chánh niệm vào lúc ấy. Trong tác phẩm Trái tim thiền tập, Sharon Salzberg có kể về một người phụ nữ tên là Kamala Master, một mình nuôi ba đứa con nhỏ và phải làm hai việc một lúc để kiếm sống vậy mà vẫn thực tập tốt chánh niệm hàng ngày. Chị đã làm sao để thực hành được như thế? Việc ấy không có gì khó. Khi chị đến học thiền với Thiền sư Munindra, ngài mạnh mẽ khuyên chị nên dành riêng ra một khoảng thời giờ mỗi ngày để hành thiền. Chị nói rằng chị bận rộn cả ngày, không còn khoảng thì giờ nào để dành cho việc ấy nữa. Thiền sư liền hỏi trong ngày chị bận rộn làm việc gì nhiều nhất. Chị nói đó là việc rửa chén. Thế là Thiền sư đã cùng chị đi đến bồn rửa chén để cùng chị thực tập rửa chén trong chánh niệm và đó cũng là phương pháp thực tập thiền quán mỗi ngày của chị. Qua đó chúng ta thấy được giáo pháp mầu nhiệm của đức Phật không bao giờ xa rời với sự sống con người mà luôn luôn gắn bó với cuộc sống hiện tại, thật đúng như câu kệ mà Phật đã dạy:
Phật pháp tại thế gian
Bất ly thế gian giác
Ly thế mích Bồ-đề
Do như cầu thố giác.
Nghĩa là:
Phật pháp tại thế gian,
Không thể lìa thế gian mà giác ngộ,
Lìa thế gian tìm Bồ-đề,
Thì giống như đi tìm sừng thỏ.

Do đó, dù làm bất kỳ công việc gì, ta cũng làm với thái độ hết sức hoan hỷ và chánh niệm như thể đây là lần đầu tiên ta làm công việc ấy. Chúng ta đừng bao giờ có ý nghĩ rằng hãy làm việc này cho mau để còn làm việc khác quan trọng hơn. Chẳng hạn khi giặt đồ hay khi rửa chén, quét nhà lau nhà, chúng ta làm thật gấp gáp thiếu chánh niệm vì nghĩ rằng đây là những công việc hết sức tầm thường, không đáng để chúng ta hao tốn thời gian, chúng ta cần phải làm cho mau xong để còn làm nhiều việc khác quan trọng hơn như phiên dịch, tụng kinh, lạy Phật, tọa thiền... nếu chúng ta có suy nghĩ như vậy thì thật là hết sức sai lầm, bởi vì tu tập chánh niệm là phải an trú chánh niệm trong tất cả mọi công việc, dù làm việc gì đi nữa chúng ta cũng phải làm như thể đang làm một việc quan trọng nhất. Những công việc ấy phải được làm thật khoan thai, nhẹ nhàng trong chánh niệm. Làm tức là tu, đừng mong cho chóng xong. Bí quyết là làm thong thả. Phải tìm được sự an lạc trong khi làm những việc đó. Cũng cùng một công việc nhưng nếu ta làm trong thất niệm thì ta sẽ thấy công việc này sao nặng nhọc và nhàm chán quá nhưng nếu ta làm với chánh niệm thì dù là công việc nhàm chán, đơn điệu đến mấy đi nữa ta vẫn không cảm thấy nhàm chán và luôn tìm được sự an lạc trong khi đang làm việc ấy.
Tóm lại, chánh niệm phải được duy trì liên tục ở mọi nơi mọi lúc. “Việc thực hành thiền quán niệm có thể ví như việc đun nước. Khi đun nước, ta đổ nước vào nồi, đặt nồi lên bếp, rồi vặn lửa lên. Nếu ta cứ một lát tắt một lát mở thì nước sẽ không bao giờ sôi. Cũng như thế, nếu có những khoảng hở giữa các thời khắc chánh niệm thì ta sẽ không thể tạo được một xung lực và sẽ không đạt được chánh định. Vì vậy trong các khóa thiền, hành giả được hướng dẫn thực tập chánh niệm liên tục từ lúc mở mắt thức giấc vào buổi sáng cho đến khi bắt đầu ngủ vào ban đêm. Từ đó, pháp thiền hành được dung hợp vào công phu phát triển chánh niệm liên tục của mỗi hành giả”.
Thích Tâm Tịnh
(Nguồn: TS Pháp Luân số 61)

Bốn Ðiều Răn Dạy Về Tánh Thanh Tịnh (Tứ Chủng Thanh Tịnh Minh Hối) trong Kinh Lăng Nghiêm là: "Ðoạn dâm, Ðoạn sát, Ðoạn thâu, Ðoạn vọng" (dứt dâm dục, dứt giết chóc, dứt trộm cắp, dứt nói dối).
laitutran247
Chúc mừng, Thành viên danh dự (Xin thông báo BQT)
 
Bài viết: 144
Ngày tham gia: Thứ 6 09 Tháng 7, 2010 4:51 am
Đến từ: Vn


Quay về Tổng quan về Nam Tông Phật Giáo

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến1 khách

cron