Diễn đàn Tu viện Phật giáo Việt nam


Chánh Niệm

Các kinh sách mới về Phật Giáo Nguyên Thủy (hệ pali).

Các điều hành viên: Sen Hong, Bất Nhị

Chánh Niệm

Gửi bàigửi bởi gioidinhhue » Thứ 5 01 Tháng 7, 2010 12:08 am

Chánh niệm là cột trụ, là cốt tủy trong đạo Phật. Chánh niệm rất thiết yếu đối với người Phật tử. Nó thiết yếu như hơi thở và mạng sống. Dù chúng ta tu theo bất cứ pháp môn nào, điều tiên quyết là phải thực tập cho mình có chánh niệm. Chánh niệm quan trọng giống như người gác cổng. Kẻ gác cổng không thể thờ ơ đối với kẻ ra người vào. Nhứt là đối với kẻ lạ mặt. Người gác cổng thận trọng là phải luôn đề cao cảnh giác. Nếu không, thì kẻ lạ mặt hay kẻ trộm cướp vào nhà lấy hết của báu. Cũng thế, đối với người tu phải luôn có chánh niệm. Phải luôn đề cao cảnh giác qua mọi lời nói và việc làm. Người có chánh niệm, khi tâm ta khởi nghĩ điều gì là ta biết rất rõ. Ngược lại, nếu ta thiếu chánh niệm, hay thất niệm, thì tâm ta luôn luôn bất an và sự khổ, bức bách sẽ kéo đến ngay.
Thế nên, trong suốt thời gian dự tu, các tu sinh cần phải thực tập gìn giữ chánh niệm trong mọi thời gian và nơi chốn. Một tu sinh dự tu, phải cố gắng giữ gìn cẩn thận 4 oai nghi: đi, đứng, nằm, ngồi cho thật tề chỉnh. Muốn được thế, thì cần phải có chánh niệm. Vì chánh niệm là năng lượng giúp ta nhận diện rõ ràng những gì đang xảy ra cho ta và những người chung quanh. Khi năng lượng ấy có mặt, thì thân và tâm ta sẽ có mặt ngay và khi ấy, ta mới thật sự đang sống trong giây phút hiện tại, một giây phút thật là mầu nhiệm vô cùng. Ta phải cố gắng thường xuyên tập cho kỳ được trong thời gian dự tu. Xin nhấn mạnh để các tu sinh quan tâm ghi nhớ: Chánh niệm là kim chỉ nam cho khóa tu. Mất chánh niệm, thì sự tu hành của chúng ta khó được an lạc, giải thoát.

http://www.quangminh.org.au/index.php?o ... Itemid=288
Hết thẩy là khảo nghiệm,

Coi thử mình ra sao,

Ðối cảnh lầm không biết,

Phải luyện lại từ đầu.

Hòa Thượng Tuyên Hóa

http://www.dharmasite.net/
gioidinhhue
Cảm ơn, Thành viên Moderator (Xin thông báo BQT)
 
Bài viết: 953
Ngày tham gia: Thứ 5 03 Tháng 9, 2009 3:27 pm

Re: Chánh Niệm

Gửi bàigửi bởi gioidinhhue » Thứ 5 01 Tháng 7, 2010 12:14 am

Chánh niệm là cốt tủy của sự tu tập trong đạo Bụt, và tông phái nào cũng lấy phép thực tập chánh niệm làm căn bản.

Chánh niệm là năng lượng có khả năng nhận diện được những gì đang xảy ra trong ta và chung quanh ta. Trong đời sống hàng ngày tâm ta thường có khuynh hướng nhớ tưởng về quá khứ hoặc lo lắng cho tương lai. Thân ta có mặt nhưng tâm ta không có mặt. Khi năng lượng chánh niệm có mặt thì thân và tâm ta hợp nhất và ta thực sự có mặt trong giây phút hiện tại để sống sâu sắc đời sống hàng ngày. Tâm ta không bị những tiếc nuối về quá khứ hoặc những lo lắng về tương lai lôi kéo. Ta có thể tiếp xúc được với những mầu nhiệm của sự sống có khả năng nuôi dưỡng và trị liệu ta. Ta cũng có năng lượng chánh niệm để nhận diện, ôm ấp và chuyển hóa những khổ đau trong ta.

Tại Tu Viện Lộc Uyển, mọi người đều thực tập chánh niệm. Ta thực tập để chế tác năng lượng chánh niệm khi thở, khi đi, khi đứng, khi nằm, khi ngồi và khi làm việc. Ta có thể thực tập chánh niệm mỗi giây phút trong đời sống hàng ngày, không chỉ trong tư thế ngồi thiền, mà khi nấu cơm, giặt áo, lái xe, rửa bát, đi cầu, .v.v. ta cũng có thể đặt mình trong trạng thái thân tâm nhất như.

Khi ta thực tập với một tăng thân hay một đoàn thể, ta có cơ hội thừa hưởng được năng lượng tập thể. Năng lượng này nâng đỡ ta, bảo hộa ta và giúp cho sự thực tập chánh niệm của ta trở nên dễ dàng, vui nhẹ và vững vàng hơn. Mỗi người trong chúng ta đều là tiếng chuông chánh niệm cho nhau, nâng đỡ và nhắc nhở nhau trên con đường thực tập. Với tăng thân của ta, ta có thể thực tập để nuôi lớn niềm an lạc, thảnh thơi và vững chãi trong ta và chung quanh ta, làm món quà ta hiến tặng cho những người ta thương

http://tuvienlocuyen.org/thien-tap
Hết thẩy là khảo nghiệm,

Coi thử mình ra sao,

Ðối cảnh lầm không biết,

Phải luyện lại từ đầu.

Hòa Thượng Tuyên Hóa

http://www.dharmasite.net/
gioidinhhue
Cảm ơn, Thành viên Moderator (Xin thông báo BQT)
 
Bài viết: 953
Ngày tham gia: Thứ 5 03 Tháng 9, 2009 3:27 pm

Re: Chánh Niệm

Gửi bàigửi bởi gioidinhhue » Thứ 5 01 Tháng 7, 2010 12:19 am

Hôm nay là ngày 26 tháng chạp năm 1993, chúng ta học tiếp về chánh niệm.

Chữ niệm chúng ta có thể dịch là nhớ, nhưng ở đây nhớ không có nghĩa là ký ức (memory). Kỳ trước chúng ta đã biết rằng có chánh niệm tức là tâm ta trú trong giây phút hiện tại và ta biết được những gì đang xảy ra trong hiện tại. Vì vậy niệm không có nghĩa là nhớ tưởng quá khứ, nhất là nghĩ tới quá khứ để đánh mất mình trong đó. Chúng ta có thể định nghĩa chánh niệm là năng lượng có khả năng nhận diện được bất cứ những gì đang xảy ra bây giờ và ở đây.

Chánh niệm là tự làm chủ

Những gì xảy ra cũng có thể được xếp vào một trong bốn lĩnh vực. Trước hết là lĩnh vực thân thể. Tiếp theo là lĩnh vực của cảm thọ. Thứ ba là lĩnh vực của các tâm hành (mental formations) (duy biểu học phân loại 51 thứ tâm hành). Và lĩnh vực thứ tư là các pháp. Pháp ở đây tức là những hiện tượng làm đối tượng của tâm thức.

Ví dụ trong tâm ta, trong ký ức ta, có một hình ảnh đã được gieo vào từ 20 năm về trước. Bây giờ hình ảnh đó hiện trở lại, và hai trường hợp có thể xảy ra. Thứ nhất là chúng ta có thể bị cái hình cũ lôi kéo vào một cuộc phiêu lưu, và chúng ta sống lại thế giới của quá khứ. Trong trường hợp này chúng ta đi vào thất niệm. Đó là nhớ nhưng không phải là nhớ trong chánh niệm. Một hình ảnh có thể áp dẫn chúng ta trở về quá khứ, hay lôi cuốn chúng ta phiêu lưu tới một tương lai chưa hề xẩy ra, để mơ tưởng, để phập phồng, lo âu, sợ hãi, và chúng ta quên lãng, không có mặt trong giây phút hiện tại nữa. Đó là thất niệm.

Trái lại nếu hình ảnh đó từ tiềm thức hay vô thức (trong tàng thức) phát hiện ra mà chúng ta biết mỉm cười nhận diện, ta nói: à, chào ngươi, ngươi đã trở lại’’. Trong trường hợp này chúng ta vẫn còn an trú trong hiện tại. Chúng ta đã khiến việc nhớ lại hình ảnh quá khứ trở thành một biến cố xảy ra trong hiện tại. Có chánh niệm, ta không cần phải xua đuổi hình ảnh đó. Nó không kéo ta được về quá khứ, nó không dẫn ta phiêu lưu tới tương lai. Trường hợp này là có chánh niệm.

chánh niệm tức là tâm ta giữ được chủ quyền, và thất niệm là đánh mất chủ quyền. Có thể nói rằng chánh niệm giúp cho ta vẫn còn là ta, có mặt trong cuộc đời để tiếp xúc với sự sống chân thật. Nếu không có chánh niệm thì ta không còn là ta nữa. Chúng ta hãy tưởng tượng có một ngôi nhà không chủ, ngôi nhà đó sẽ tan hoang. Con người ta gồm có bốn phần: thân, thọ, tâm và pháp. Nếu chúng ta không có mặt thì chúng ta để cho ngôi nhà bốn lĩnh vực ấy tan hoang. Cái thân của chúng ta sẽ yếu đuối, cái thọ của chúng ta sẽ đầy những khổ đau, cái tâm của chúng ta rối ren, và những pháp của ta đều là phiền não. Vì vậy cho nên khi chúng ta có mặt thì căn nhà của ta hay khu vườn của ta mới trở nên một căn nhà hay một khu vườn tươi mát có thể đem lại an lạc. Người Việt Nam hay nói vắng như chùa Bà Đanh. Chắc hẳn chùa Bà Đanh là cái chùa không ai chăm sóc. Mỗi người tu cũng là một ngôi chùa. Đừng để ngôi chùa ta biến thành chùa Bà Đanh. Trong khi đi, đứng, nằm, ngồi; trong cảm thọ vui, buồn, giận, ghét; trong khi ăn, uống, cười, nói ta phải có chánh niệm. Có chánh niệm thì ngôi chùa chúng ta có một vị trụ trì và ngôi chùa đó không thể trở thành chùa Bà Đanh.

Quán sát một sư anh, một sư chị, một sư em trong đời sống hàng ngày: đi, đứng, nằm, ngồi, nấu cơm, gánh nước, bổ củi, ta thấy được người đó có chánh niệm hay không, ngôi chùa đó có phải chùa Bà Đanh không, hay đó là một ngôi chùa có chăm sóc đàng hoàng. Một ngôi chùa được chăm sóc đàng hoàng, cây cảnh tốt tươi, thì đó là nguồn vui lớn cho rất nhiều người. Nhận ra điều này cũng không khó. Chỉ cần nhìn người đó quét nhà hay lau bàn là ta có thể biết được cái chùa này đang được chăm sóc hay đang bị bỏ hoang.

http://www.thuvien-thichnhathanh.org/in ... a-t-lam-ch
Hết thẩy là khảo nghiệm,

Coi thử mình ra sao,

Ðối cảnh lầm không biết,

Phải luyện lại từ đầu.

Hòa Thượng Tuyên Hóa

http://www.dharmasite.net/
gioidinhhue
Cảm ơn, Thành viên Moderator (Xin thông báo BQT)
 
Bài viết: 953
Ngày tham gia: Thứ 5 03 Tháng 9, 2009 3:27 pm

Re: Chánh Niệm

Gửi bàigửi bởi gioidinhhue » Thứ 5 01 Tháng 7, 2010 12:25 am

TỈNH GIÁC GIỮ CHÁNH NIỆM



Tỉnh Giác “Giữ Chánh Niệm” là một pháp tu để cho Thân, Khẩu, và Ý của người tu được Thanh Tịnh.

Cho nên, những ai tu để cầu phước báo Nhân Thiên (cõi Người, cõi Trời) hay tu để được vãng sanh về Tịnh Độ của đức Phật A Di Đà, hoặc tu để được Tự Tại và Giải Thoát đều phải tu pháp nầy cho có kết quả thật tốt, thì lúc bấy giờ mới có hi vọng được mãn nguyện.

Thế nên, ngày xưa Sư Huệ Tạng (Thạch Cũng) đang ngồi rửa rau ở nhà trù, Thiền Sư Mã Tổ (Đạo Nhất) đi đến thấy vậy hỏi:

-Con đang làm gì đó?


Sư thưa:

-Bạch Hòa Thượng, con đang “Chăn Trâu”.

Mã Tổ hỏi:

-Con chăn thế nào?


Sư thưa:

-Trâu vừa đưa mõm để ăn lúa mạ của người, con liền nắm vàm (mũi) kéo lại.


Mã Tổ khen:

-Con chăn trâu giỏi.

*

Do đó, muốn tu tập “Tỉnh Giác Giữ Chánh Niệm” cho có kết quả tốt, người tu nên biết rằng: chữ NIỆM có hai ý nghĩa khác nhau. Nếu như chữ “Niệm” là một danh tự, thì nó có nghĩa là: Tư Tưởng, (một) Ý Niệm, Ý Nghĩ (tà, chánh hay vô ký)… Còn chữ “Niệm” là một động từ thì nó có nghĩa là: Ức, Nhớ và Giữ Gìn. Thí như: Niệm Phật, Niệm Pháp, Niệm Tăng và Niệm Công Đức Cha Mẹ… Cho nên, hai chữ “Chánh Niệm” nói ở đây có nghĩa là những Ý Niệm Lành, Ý Nghĩ Tốt hay là những Tư Tưởng Chơn Chánh hợp với Đạo. Trái ngược với Chánh Niệm là Tà Niệm. Tà Niệm là những Niệm Dữ, Niệm Ác, ý nghĩ xấu như những ý niệm Tham, Sân, Si… hoặc là những tư tưởng, quan niệm không chơn chánh không hợp với Đạo.

Phật Tử nào cũng biết, trong nhà Phật có nêu ra 10 điều ác của Thân, Khẩu (miệng) và Ý như sau:

-Ba nghiệp của Thân: Sát Sanh, Trộm Cướp và Tà Dâm.

-Bốn nghiệp của Miệng: 1/.Vọng Ngữ (nói láo). 2/.Nói Hai Lưỡi (nói đâm thọc). 3/.Nói Lời Ác. 4/.Nói Thêu Dệt hay Ỷ Ngữ.

-Ba nghiệp của Ý: Tham, Sân và Si.

Trái ngược với 10 điều ác là 10 điều lành: Không Sát Sanh, Không Trộm Cắp, Không Tà Dâm, Không Vọng Ngữ, Không Nói Đâm Thọc, Không Nói Lời Ác, hay Thêu Dệt và Không Tham, Sân,Si.

Là con cháu nhà họ Thích hay là một Phật Tử thuần thành nhất định không bao giờ để phạm phải 10 Điều Ác mà chỉ chuyên làm những Việc Lành để đem lại an vui và hạnh phúc cho người và cho mình như: Phóng Sanh, Bố Thí, Chung Thủy, Nói Thực, Nói Lời Hòa Hợp, Nói Lời Hòa Ái, Cúng Dường, Nhẫn Nhục và Không Si … có phải vậy không?

Tuy nhiên để làm cho được những công việc nầy cho có kết quả thật tốt (100%) không phải dễ dàng như lấy đồ trong túi đâu. Mà cần phải biết cách thức tu tập “Tỉnh Giác GIỮ CHÁNH NIỆM” Hay “CHĂN CON TRÂU” của mình cho thật miên mật, thì lúc bấy giờ mới có hi vọng thành công. Do đó, người tu ở vào thời buổi hiện nay nên biết rằng:

1.Nguyên tắc tu là Hướng Nội (nhập lưu). Nhờ có hướng nội nên người tu mới thấy được những Ý Niệm như: Tham, Sân, Tà, Chánh hay Vô Ký… dấy khởi lên ở chỗ nào trong cái thân ngũ uẫn để mà tu, có phải vậy không?

2.Những Ý Niệm lành, dữ, thiện, ác; ý nghĩ nầy tư tưởng nọ hoặc những Ý Niệm tham, sân… dấy khởi lên đó đều xuất phát từ cái Ý (ý căn) hay cái Tâm.

Trong kinh có nói: “Nhứt thiết duy tâm tạo” (tất cả đều do Tâm tạo). Cho nên cái Ý (căn) là cái gốc và là đầu mối tạo nên những Nghiệp Lành, Nghiệp Dữ hoặc Không Lành, Không Dữ (vô ký)… nên chúng ta mới nói nó chính là kẻ chỉ huy và cũng là thủ phạm, còn cái Thân và cái Miệng chỉ là kẻ bị sai khiến bởi cái Ý, nên cả hai chỉ là tòng phạm mà thôi.

3.Công cụ dùng để tu tập “Giữ Chánh Niệm” là sự “Tỉnh Giác” hay sự “Tỉnh Thức thường trực”. Nghĩa là lúc nào người tu cũng phải “Tỉnh Thức”, chớ không phải có lúc “Tỉnh Thức” có lúc mê muội (không tỉnh thức)

Nếu người tu không có Sự Tỉnh Giác hay Sự Tỉnh Thức ở mọi lúc, mọi nơi và trong mọi hoàn cảnh, thì khi những Ý Niệm tham, sân, tà hay chánh, lành hay dữ khởi lên trong Tâm, thử hỏi làm sao biết được để mà xử lý cho kịp lúc chứ!? Do vậy, cho nên người xưa mới có dạy rằng: “Chẳng sợ niệm khởi, chỉ sợ biết chậm” (bất phạ niệm khởi, chỉ phạ giác trì).

Tóm lại, “Tỉnh Giác GIỮ CHÁNH NIỆM” là một pháp tu để cho Thân, Khẩu và Ý của người tu được Thanh Tịnh. Pháp tu nầy còn được gọi là Pháp Chăn Trâu hay phương pháp tu tập để “Làm Chủ Cho Được Chính Mình”. Cho nên những ai Chăn Trâu giỏi hay làm chủ được chính mình rồi, thì người nầy sẽ có được những lợi ích thiết thực như sau:

a)-Được an vui và hạnh phúc ở ngay tại cõi Ta Bà Khổ nầy.

b)-Thuận lợi cho việc tiến tu cái Đạo Giải Thoát hay cầu quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác (thành Phật làm Tổ).

Do vậy, cho nên những ai tu tập pháp nầy cần phải luôn luôn Tỉnh Giác (NHỚ TU) nghĩa là lúc nào và ở đâu cũng phải NHỚ (Tỉnh Giác) coi chừng con trâu của mình cho thật miên mật, để tùy nghi mà xử lý.

-Trong khi đi đứng nằm ngồi, NHỚ hướng vào trong Tâm, dùng CON MẮT TÂM (tâm nhãn) quán sát canh chừng những Ý Niệm (tức Vọng Tưởng Tạp Niệm) khởi lên coi nó thuộc loại nào, Lành hay Dữ hoặc là Chánh hay Tà…

Nếu như thấy đó là niệm Tà, niệm Ác hay Tham, Sân, Si… thuộc loại có hại cho mình cho người, thì lập tức dùng Cung Thiền Định, Kiếm Trí Tuệ cắt đứt những Ý Niệm đó ngay và nhứt định không cho Thân Làm Miệng Nói.

Trong khi đi đứng nằm ngồi người tu cứ y theo hướng dẫn nêu trên mà tu tập. Tu tập như vậy, người ta gọi là tu cái Ý, tức là ngay nơi cái gốc mà tu tức là ngay nơi Tâm mà tu, chớ không phải tu cái ngọn: Thân hay Miệng. Dĩ nhiên, khi cái Ý (căn) được Thanh Tịnh thì Thân và Miệng cũng theo đó mà được Thanh Tịnh. Thế là, một mũi tên bắn hạ được ba con chim cùng một lúc, thử hỏi có gì thú vị cho bằng, phải không nào!?

Nói tóm lại, muốn ra khỏi Nhà Lửa (Tam Giới) để chấm dứt mọi nổi khổ đau và phiền não ở trên cỏi đời nầy mà không chịu tu tập “Tỉnh Giác Giữ Chánh Niệm” cho có kết quả thật tốt để làm chủ cho được chính mình thì chẳng khác nào xây cất nhà lầu trên bãi cát vậy! Do vậy, nên Tổ QUI SƠN (Linh Hựu) mới dạy rằng:

Thật tế lý địa bất thọ nhứt trần,

Vạn hạnh môn trung bất xã nhứt pháp


(Nghĩa là: chỗ đất chân thật không chấp nhận một mãy may nào cả dù nhỏ như vi trần. Còn trên bước đường tu không bỏ một hạnh lành nào cả).

Lại nữa, người tu Thiền chúng ta cũng nên biết rằng:

Một hôm, TỀ AN CÔNG đến hỏi Đạo với Ngài BẠCH VÂN NGHĨA ĐOAN.

BẠCH VÂN hỏi:

“Trâu đã thuần chưa?”


CÔNG thưa:

“Đã thuần, đã thuần”.


BẠCH VÂN bèn mắng cho một trận. CÔNG mặt đổi sắc, đang ngồi đứng dậy khoanh tay.

BẠCH VÂN lại hỏi:

“Thuần chưa?”.

CÔNG im lặng, BẠCH VÂN liền nói:

“Trâu ở trong núi đủ nước đủ cỏ.

Trâu ra khỏi núi chạm Đông chạm Tây”


@

Thiền Sư Thích thanh Phước

http://phatgiaovnn.com/upload1/bz/showthread.php?p=7991
Hết thẩy là khảo nghiệm,

Coi thử mình ra sao,

Ðối cảnh lầm không biết,

Phải luyện lại từ đầu.

Hòa Thượng Tuyên Hóa

http://www.dharmasite.net/
gioidinhhue
Cảm ơn, Thành viên Moderator (Xin thông báo BQT)
 
Bài viết: 953
Ngày tham gia: Thứ 5 03 Tháng 9, 2009 3:27 pm

Pháp Chánh Niệm khi Đi Đứng hay Kinh Khất Thực Thanh Tịnh

Gửi bàigửi bởi gioidinhhue » Thứ 5 01 Tháng 7, 2010 12:36 am

Tĩnh giác trong tứ oai nghi là pháp môn tu tập hữu hiệu nhất để được chánh trí và chánh niệm. Một sự sáng suốt hay chánh tư duy lúc đi đứng, lúc thiền hành hay khất thực là sự rèn luyện tâm an tịnh tốt hơn hết. Thật ra tư duy về sự không tư duy là điều thiết thực trong pháp chánh niệm này. Trong Kinh Khất Thực Thanh Tịnh, Phật dạy cách tu học các thiện pháp và tinh tấn đoạn diệt các ác bất thiện pháp. Đặc biệt trong đi đứng, chánh niệm là một pháp các hành giả cần phải nghiêm mật hành trì đúng cách, nếu không thì không thúc liễm được thân tâm. Trong kinh Khất Thực Thanh Tịnh do HT. Thích Minh Châu Việt dịch, nói lên những tinh yếu của lời Phật dạy.

a) An Trú vào Không Tánh

Hành giả tu tập pháp chánh niệm lúc đi đứng, thiền hành hay khất thực thì các căn được sáng suốt, diện mạo trong sáng thanh thản.
Kinh viết:, "Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Rajagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc lâm), tại chỗ nuôi dưỡng sóc (Kalandakanivapa).

Rồi Tôn giả Sariputta vào buổi chiều, từ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, đi đến Thế Tôn, sau khi dến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Sariputta đang ngồi một bên:
-- Này Sariputta, các căn của Ông rất sáng suốt, sắc da của Ông thanh tịnh trong sáng. Này Sariputta, Ông nay đang phần lớn an trú với loại an trú nào?

-- Bạch Thế Tôn, con nay đang phần lớn an trú với Không trú.
-- Lành thay, lành thay! Này Sariputta, Ông nay đang phần lớn an trú với sự an trú của bậc Ðại nhân. Này Sariputta, sự an trú của bậc Ðại nhân tức là không tánh. Do vậy, này Sariputta, nếu Tỷ-kheo ước mong rằng: "Mong rằng tôi nay phần lớn an trú với sự an trú không tánh", thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải suy tư như sau: "Trên con đường ta đã đi vào làng để khất thực, tại trú xứ ta đã đi khất thực, và trên con đường từ làng ta đi khất thực trở về, tại chỗ ấy, đối với các sắc do mắt nhận thức, có khởi lên ở nơi ta dục, tham, sân si, hay hận tâm không?"

Thật vậy, nếu lục căn thanh tịnh, là Nhãn Nhĩ Tỷ Thiệt Thân Ý được thấy biết như thật như chơn, hay đưa lục căn giả lập nầy vào tánh giác, cái biết sáng suốt, trong sát na hiện tiền vô thời không, thì làm gì có chỗ nào mà an trú. Nói rõ hơn là lục căn an trú vào tuệ tri, cái biết sáng suốt, cái hư không, thì an trú vào cái không an trú (trong hư không). Vậy khi lục căn thanh tịnh hay tbiế sắc thọ tưởng hành thức sáng suốt thì sắc da của con người trong sáng, tâm địa thanh thản. Sắc da dụ cho vật lý mà vật lý ảnh hưởng đến tâm lý. Người mà sống ung dung tự tại thì thân tâm thường an lạc.Đó là an trú nơi không tánh. Như đi đến trở về trên con đường, nếu mắt thấy sắc, thì sự thấy biết như chơn các sắc thì không khởi lên dục (vì tuệ tri các sắc hay biết một cách sáng suốt vô thời không), không có dục thì không ái thủ hữu, thì tham sân si hay hận tâm không có.

b) Chánh Tư Duy.

Nhắc lại trong Đai Kinh Sáu Xứ Phật dạy, "Kiến gì như chơn của vị ấy, kiến ấy là chánh kiến. Tư duy gì như chơn của vị ấy, tư duy ấy là chánh tư duy. Tinh tấn gì như chơn của vị ấy, tinh tấn ấy là chánh tinh tấn. Niệm gì như chơn của vị ấy, niệm ấy là chánh niệm. Ðịnh gì như chơn của vị ấy, định ấy là chánh định. Thân nghiệp, ngữ nghiệp, sinh mạng của vị ấy được thanh tịnh tốt đẹp. Và Thánh đạo Tám ngành này đi đến tu tập và phát triển sung mãn cho vị ấy. Do sự tu tập." (Đại Kinh Sáu Xứ, HT. Thích Tâm Châu Việt dịch)

Theo Phật, Cảm, Nghĩ, và Làm (Tình năng, Trí năng, và Hoạt năng) được thấy biết như chơn như thật là sự thấy biết vô thời gian, làm cho tâm trở nên trong sáng. Chánh Kiến là cái thấy như chơn pháp ấy. Chánh Tư Duy là sự suy tư như chơn pháp ấy. Chánh Niệm là nhớ (không có vọng khởi) như chơn của pháp ấy. Chánh Định là sự vắng lặng tịch tĩnh như chơn pháp ấy. Chánh Nghiệp là sự chơn chánh nghề nghiệp.Chánh Ngữ là sự lời nói chơn chánh hài hòa. Chánh Mạng là nuôi mạng sống bằng thức ăn tinh khiết. Thánh Đạo Tám Ngành này (Bát Chánh Đạo) được tu tâp và phát triển sung mãn thì thân tâm thường an lạc. Riêng trong oai nghi đi đứng, thì chánh tư duy được hành trì cẩn mật hơn để lúc nào cũng chánh niệm.

1) Đối với sắc:

"Này Sariputta, nếu Tỷ-kheo sau khi tư duy biết rằng: "Trên con đường ta đã đi vào làng để khất thực, tại trú xứ ta đã đi khất thực và trên con đường từ làng ta đi khất thực trở về, đối với các sắc do mắt nhận thức, có khởi lên nơi ta dục, tham, sân, si hay hận tâm", thời này Sariputta, Tỷ-kheo ấy phải tinh tấn đoạn tận các ác bất thiện pháp ấy. Nhưng này Sariputta, nếu Tỷ-kheo trong khi suy tư được biết như sau: "Trên con đường ta đã đi... ta đi khất thực trở về, đối với các sắc do mắt nhận thức, không có khởi lên nơi dục, tham, sân, si hay hận tâm", thời này Sariputta, Tỷ-kheo ấy phải an trú với hỷ và hân hoan, ngày đêm tu học trong các thiện pháp."

Sau khi an trú với không an trú, cần phải tinh tấn đoạn các ác bất thiện pháp như mắt nhận thức khởi lên dục, tham, sân si hay hận tâm. Hành giả cần tu tập các thiện pháp ngày đêm bằng cách an trú với hoan hỷ và hân hoan.

2). Đối với thinh hương vị xúc pháp:

"Lại nữa, này Sariputta, Tỷ-kheo cần phải suy tư như sau: "Trên con đường ta đã đi... , ta đi khất thực trở về đối với các tiếng do tai nhận thức,... đối với các hương do mũi nhận thức,... đối với cácvị do lưỡi nhận thức,... đối với các xúc do thân nhận thức,... đối với các pháp do ý nhận thức, có khởi lên dục, tham, sân, si hay hận tâm không?"

Này Sariputta, nếu Tỷ-kheo trong khi suy tư biết được như sau: "Trên con đường ta đã đi... , ta đi khất thực trở về, đối với các pháp do ý nhận thức, có khởi lên nơi ta dục, tham, sân, si, hay hận tâm", thời này Sariputta, Tỷ-kheo ấy phải tinh tấn đoạn tận các ác bất thiện pháp ấy. Nhưng này Sariputta, nếu Tỷ-kheo trong khi suy tư được biết như sau: "Trên con đường ta đã đi... ta đi khất thực trở về, đối với các pháp do ý nhận thức, không có khởi lên nơi ta dục, tham, sân, si hay hận tâm", thời này Sariputta, Tỷ-kheo ấy phải an trú với hỷ và hân hoan ngày đêm tu học trong các thiện pháp."

Chánh Tư duy trong khi đi, về trên đường đối với nhận thức của thinh hương vị xúc pháp bằng cách tinh tấn đoạn tận các ác bất thiện pháp của các nhận thức ấy khởi lên dục, tham, sân, si, hận tâm, và hành giả cần thường xuyên an trú với hỷ và hân hoan.

3. Đối với năm dục. năm triền cái:

"Lại nữa, này Sariputta, Tỷ-kheo cần phải suy tư như sau: "Ta đã đoạn tận năm dục trưởng dưỡng chưa? Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo, trong khi suy tư được biết như sau: "Ta chưa đoạn tận năm dục trưởng dưỡng", thời này Sariputta, Tỷ-kheo ấy phải tinh tấn đoạn tận năm dục trưởng dưỡng. Nhưng nếu, này Sariputta, Tỷ-kheo trong khi suy tư được biết như sau: "Ta đã đoạn tận năm dục trưởng dưỡng", thời này Sariputta, Tỷ-kheo ấy phải an trú với hỷ và hân hoan ngày đêm tu học trong các thiện pháp.

Lại nữa, này Sariputta, Tỷ-kheo cần phải suy tư như sau: "Ta đã đoạn tận năm triền cái chưa?" Nếu, này Sariputta, trong khi suy tư, Tỷ-kheo được biết như sau: "Ta chưa đoạn tận năm triền cái", thời này Sariputta, Tỷ-kheo ấy phải tinh tấn đoạn tận năm triền cái. Nhưng nếu, này Sariputta, Tỷ-kheo trong khi suy tư được biết như sau: "Ta đã đoạn tận năm triền cái ", thời này Sariputta, Tỷ-kheo ấy phải an trú với hỷ và hân hoan ngày đêm tu học trong các thiện pháp."

Hành giả cần tu tập trong các thiện pháp lúc đi đứng bằng cách an trú với hỷ và hân hoan và phải tinh tấn đoạn tận năm dục (sắc dục, thinh dục, hương dục, vị dục, và xúc dục) và năm triền cái (năm dây trói buộc: tham dục, sân hận, mê ngủ, hối hận, nghi hoặc).

4. Đối với năm thủ uẩn:

"Lại nữa, này Sariputta, Tỷ-kheo cần phải suy tư: "Ta có liễu tri năm thủ uẩn chưa?" Này Sariputta, nếu trong khi suy tư, Tỷ-kheo được biết như sau: "Ta chưa có liễu tri năm thủ uẩn", thời này Sariputta, Tỷ-kheo ấy cần phải tinh tán liễu tri năm thủ uẩn. Nhưng nếu, này Sariputta, trong khi suy tư, Tỷ-kheo ấy được biết như sau: "Ta đã liễu tri năm thủ uẩn", thời này Sariputta, vị Tỷ-kheo ấy phải an trú với hỷ và hân hoan ngày đêm tu học trong các thiện pháp."

Hành giả cần tu tập trong các thiện pháp lúc đi đứng bằng cách an trú với hỷ và hân hoan và phải liễu tri năm thủ uẩn (sắc thọ tưởng hành thức), tức là biết được thủ uẩn chính là năm yếu tố của thân xác con người.

5. Đối với bốn niệm xứ, chánh cần, như ý túc, lực,giác chi, thánh đạo, và pháp chỉ quán:

"Lại nữa, này Sariputta, Tỷ-kheo cần phải suy tư như sau: "Ta đã tu tập bốn niệm xứ chưa?" Này Sariputta, nếu trong khi suy tư, Tỷ-kheo được biết: "Ta chưa tu tập bốn niệm xứ", thời này Sariputta, vị Tỷ-kheo cần phải tinh tấn tu tập bốn niệm xứ. Nhưng nếu, này Sariputta, trong khi suy tư Tỷ-kheo được biết như sau: "Ta đã tu tập bốn niệm xứ ", thời này Sariputta, Tỷ-kheo ấy cần phải an trú với hỷ và hân hoan ngày đêm tu học trong các thiện pháp.
Lại nữa, này Sariputta, Tỷ-kheo cần phải suy tư: "Ta đã tu tập bốn chánh cần chưa? "... "Ta đã tu tập bốn như ý túc chưa?"... "Ta đã tu tập năm căn chưa?"... "Ta đã tu tập năm lực chưa?"... "Ta đã tu tập bảy giác chi chưa?"... Lại nữa, này Sariputta, Tỷ-kheo cần phải suy tư như sau: "Ta đã tu tập Thánh đạo Tám ngành chưa?" Nếu Tỷ-kheo, này Sariputta, trong khi suy tư được biết như sau: "Ta chưa tu tập Thánh đạo Tám ngành, " thời này Sariputta Tỷ-kheo ấy cần phải tinh tấn tu tập Thánh đạo Tám ngành. Nhưng nếu, này Sariputta, Tỷ-kheo trong khi suy tư được biết như sau: "Ta đã tu tập Thánh đạo Tám ngành, " thời này Sariputta, Tỷ-kheo ấy cần phải an trú trong hỷ và hân hoan, ngày đêm tu học trong các thiện pháp.

Lại nữa, này Sariputta, Tỷ-kheo cần phải suy tư: "Ta đã tu tập Chỉ và Quán chưa? " Nếu Tỷ-kheo, này Sariputta, trong khi suy tư được biết như sau: "Ta chưa tu tập Chỉ và Quán ", thời này Sariputta, Tỷ-kheo ấy cần phải tinh tấn tu tập Chỉ và Quán. Nhưng nếu, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi suy tư được biết như sau: "Ta đã tu tập Chỉ và Quán ", thời này Sariputta, Tỷ-kheo ấy cần phải an trú với hỷ và hân hoan, ngày đêm tu học trong các thiện pháp."

Sống theo Bát Chánh Đạo như vậy, thì bốn niệm xứ (thân bất tịnh, Thọ thị khổ, Tâm vô thường, Pháp vô ngã) được tu tập và phát triển sung mãn.Bốn Chánh Tinh Tấn (Tinh tấn phát triển những điều thiện lành chưa phát sanh, Tinh tấn tiếp tục phát triển những điều thiện lành đã phát sanh, Tinh tấn ngăn ngừa những điều ác chưa phát sanh, Tinh tấn dứt trừ những điều ác đã phát sanh) được tu tập và phát triển sung mãn.Bốn Như Ý Túc (Dục Như Ý Thần Túc, Niệm Như Ý Thần Túc, Tinh Tấn Như Ý Thần Túc, Tư Duy Như Ý Thần Túc) được tu tập và phát triển sung túc.Năm căn (Nhãn, Nhĩ, Tĩ, Thiệt, Thân) được tu tập và phát triển sung mãn. Năm lực ((Tín lực, Tinh tấn lực, Niệm lực, Định lực, Huệ lực) được tu tập và phát triển sung mãn. bảy giác chi (Trạch Pháp Giác Chi, Tinh Tấn Giác Chi, Hỷ Giác Chi, Khinh An Giác Chi, Niệm Giác Chi, Định Giác Chi, Xả Giác Chi) được tu tập và phát triển sung mãn. Hai pháp là: Chỉ và Quán dược chuyển vận song hành. Với thượng trí những pháp nào cần phải đơạn tận và cần phải tu tập vớí thượng trí. Với thượng trí hành giả chứng ngộ những pháp cần phải chứng ngộ với thượng trí. Đặc biệt những pháp cần phải liễu tri chánh tư duy và chánh niệm với thượng trí luc đi đứng. Hành giả luôn luôn an trú với hỷ và hân hoan này đêm trong các thiện pháp ấy.

c) Kết Luận.

Tóm lại, trong kinh Khất Thực Thanh Tịnh, Phật dạy lúc đi trên đường và lúc trở về, hành giả lúc nào cũng tu tập theo pháp thượng trí là an trú vào không tánh. Pháp chánh niệm và chánh tư duy trong chỉ và quán để được chứng ngộ minh tâm và giải thoát.
"Lại nữa, này Sariputta, Tỷ-kheo cần phải suy tư như sau: "Ta đã chứng ngộ minh và giải thoát chưa? " Nếu Tỷ-kheo, này Sariputta, trong khi suy tư được biết như sau: "Ta chưa chứng ngộ minh và giải thoát", thời này Sariputta, Tỷ-kheo ấy cần phải tinh tấn tu tập minh và giải thoát. Nhưng nếu, này Sariputta, Tỷ-kheo trong khi suy tư được biết như sau: "Ta đã chứng ngộ minh và giải thoát ", thời này Sariputta, Tỷ-kheo ấy cần phải an trú với hỷ và hân hoan ngày đêm tu học trong các thiện pháp.

Này Sariputta, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong thời quá khứ đã làm cho khất thực được thanh tịnh, tất cả những vị ấy đã làm cho khất thực được thanh tịnh bằng cách suy tư, suy tư như vậy. Này Sariputta, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong thời gian tương lai sẽ làm cho khất thực được thanh tịnh, tất cả những vị ấy sẽ làm cho khất thực được thanh tịnh, bằng cách suy tư, suy tư như vậy. Và này Sariputta, những Sa-môn, Bà-la-môn nào trong thơi hiện tại, làm cho khất thực được thanh tịnh, tất cả những vị ấy đã làm cho khất thực được thanh tịnh, bằng cách suy tư, suy tư như vậy. Vậy này Sariputta, các Ông cần phải học tập như sau: "Sau khi suy tư, suy tư, chúng ta sẽ làm cho khất thực được thanh tịnh". Này Sariputta, các Ông phải tu tập như vậy.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Sariputta hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy."

Tựu chung, lục căn, lục trần, lục thức. bát chánh đạo, hay tất cả các pháp, khi an trú vào không tánh tức là cần phải an trú với hỷ và hân hoan ngày đêm trong các thiện pháp đều là sự nhận thức sáng suốt của Thượng Trí. Do sự tu tập Chánh Tư Duy như đi đứng được thanh tịnh, hành giả cần chọn những pháp cần phải được chứng ngộ với thượng trí để được Minh Tâm và Giải Thoát khỏi Vô Minh.

Tham khảo:
Đại Kinh Sáu Xứ. HT. Thích Minh Châu Việt dịch đăng trong websiteTrung Tâm Phật Giáo Các Chùa Việt Nam, Texas. http://www.vnbc.org
Kinh Khất Thực Thanh Tịnh. HT. Thích Minh Châu Việt dịch đăng trong website Trung Tâm Phật Giáo Các Chùa VN, Texas.
Hết thẩy là khảo nghiệm,

Coi thử mình ra sao,

Ðối cảnh lầm không biết,

Phải luyện lại từ đầu.

Hòa Thượng Tuyên Hóa

http://www.dharmasite.net/
gioidinhhue
Cảm ơn, Thành viên Moderator (Xin thông báo BQT)
 
Bài viết: 953
Ngày tham gia: Thứ 5 03 Tháng 9, 2009 3:27 pm

Re: Chánh Niệm

Gửi bàigửi bởi gioidinhhue » Thứ 5 01 Tháng 7, 2010 12:42 am

Một trong những người đến thăm hội tu sỹ Phật giáo của chúng tôi - Sravasti Abbey – đã hoan hỷ làm những bảng lưu ý cho những vị khách khác. Tại quầy trà cô ta viết, “Xin vui lòng lau sạch chỗ bị đổ. Cảm ơn quý vị đã giữ chánh niệm.” Một bảng lưu ý khác trên một cánh cửa nói rằng, “Xin vui lòng đóng cửa nhẹ nhàng. Cảm ơn quý vị đã giữ chánh niệm.” Tôi đã bắt đầu băn khoăn không biết cô ta muốn nói gì qua chữ chánh niệm. Dường như nó đã trở thành một từ khác nữa trong số những từ thông dụng của Phật giáo, chẳng hạn như nghiệp, mà nhiều người dùng nhưng ít ai hiểu được.



Sau đó tôi đọc một bài báo trong đó chánh niệm được áp dụng cho trường hợp ăn một quả cam – chú tâm đến vị ngọt và các lớp tép của nó, kinh nghiệm ăn quả cam. Trong một cuộc luận đàm, tôi nghe thấy từ này được dùng để diễn tả kinh nghiệm quan sát sự vui đùa của một đứa cháu nhỏ và sự cảm nhận những giây phút vui sướng đó.

Mặc dù một số trường hợp đơn cử này có giá trị và ích lợi cho việc thực hành chánh niệm, nhưng chúng có đem lại sự giác ngộ không? Chúng có phải là những minh họa điển hình về chánh niệm như được hiểu trong các kinh điển Phật giáo truyền thống không, nơi mà chánh niệm trở thành một yếu tố cấu thành hết sức quan yếu của con đường dẫn đến giải thoát?

Chánh niệm là một từ dễ chịu đối với người Mỹ thế nhưng xả bỏ thì không. Xả bỏ gợi lên ý niệm sống trong một hang động ẩm thấp và ăn uống đạm bạc, không bạn lữ, không máy móc, hay không thẻ tín dụng. Trong nền văn hóa tiêu dùng của chúng ta, xả bỏ được xem như một con đường đưa đến khổ đau. Trong khi ấy đức Phật đã định nghĩa, xả bỏ là một điều kiện quyết định để xa lìa dukkha – những trạng thái không ưng ý và nỗi khổ đau của sinh tử luân hồi. Chúng ta nên biết, xả bỏ chắc chắn không phải để trừ bỏ hạnh phúc mà để trừ bỏ khổ đau và những nguyên nhân của nó.

Bởi vì tâm trí chúng ta bị đám mây si mê che mờ, thường chúng ta không nhận thức rõ khổ đau và nguyên nhân của nó. Biện pháp cần thiết là phải lưu ý sự vật thực sự là như thế nào. Trong kinh Vipallasa (Điên đảo), đức Phật giảng bốn cách hiểu sai cơ bản của chúng ta về kinh nghiệm – được biết đến như là bốn điên đảo bởi vì sự vật bị chấp thủ theo đường hướng trái ngược với cái mà chúng thực sự là.

Cái vô thường cho là thường

Mặc dù về phương diện lý trí chúng ta biết rằng thân thể chúng ta đang già đi từng giây phút, thế nhưng cảm nghĩ trong sâu thẳm của chúng ta là thân thể này sẽ kéo dài mãi mãi và cái chết sẽ không đến thực sự với chúng ta, ít nhất cũng không phải vào một thời điểm nào đó quá sớm. Tương tự như vậy, chúng ta xem quan hệ họ hàng thân thích như là cố định, và khi một người thân chết, chúng ta bỡ ngỡ và hụt hẫng. Chúng ta đã muốn sống với họ mãi mãi và đã bám chặt vào hy vọng chúng ta sẽ được như thế.

Chúng ta có thể học để đối mặt với sự vô thường một cách khéo léo, nhưng điều ấy xảy ra chỉ khi mà chúng ta nhận ra định kiến sai lầm về sự thường còn và ý thức được bản chất mong manh của con người và vạn vật.

Tin rằng cái khổ mang đến hạnh phúc / cái khổ cho là lạc

Những gì mang đến cho ta niềm vui đồng thời cũng mang đến cho ta những trắc trở: người bạn đời yêu quý bỏ ta đi, đứa con cưng nổi loạn, sự thăng tiến nâng cao địa vị của ta có nghĩa rằng chúng ta phải làm việc tăng giờ. Niềm hoan lạc trong chốn sanh tử luân hồi không ngớt bỏ rơi ta, nhưng chúng ta cứ mơ mộng trở lại, nghĩ rằng chuyến này niềm vui sẽ lâu dài mãi mãi.

Nhờ ý thức được cái điên đảo thứ hai này, chúng ta nhận ra rằng hầu hết những gì mà xã hội đã dạy chúng ta về hạnh phúc hoàn toàn không đúng. Chúng ta phải tìm cầu hạnh phúc lâu dài thông qua việc trừ bỏ những nguyên nhân thực sự của những xúc cảm mang lại khổ đau phiền muộn và những hành động (nghiệp) được thúc đẩy bởi chúng.

Cái không dễ thương mà cho là dễ thương, bất tịnh cho là tịnh

Thân tướng đẹp đẽ là một trong những sự bám víu gay cấn nhất của chúng ta. Nhưng nếu thân thể này đáng yêu như vậy, tại sao chúng ta cứ mải nỗ lực thay đổi nó? “Giữ cho thân thể trẻ đẹp” là một thương vụ chính ở trên đất nước này. Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta đã hòa hợp bản thân với thực tại, điều hòa thân thể chúng ta với những gì đang diễn ra? Chúng ta đang già nua. Chúng ta có thể làm gì để hài lòng với da mồi tóc bạc, niềm đam mê nhục dục cạn khô, và những thớ thịt đường gân chùng xuống? Già nua không gây ra đau khổ, chính quan niệm sai lệch của chúng ta tạo ra khổ đau.

Tham đắm vào những vật không có tự ngã, vô ngã cho là ngã

Quan niệm điên đảo tai hại nhất là cho rằng có một cái ngã trong thân và tâm này. Chúng ta nghĩ và cảm thấy có một cái “tôi” chân thật ở đây, và rằng ta là cái “tôi” quan trọng nhất trên thế gian này. Chúng ta dựng nên hình ảnh của một con người và rồi ám ảnh sống sao cho phù hợp với cái đã được dựng nên ấy. Chúng ta cố ép mình trở thành người mà chúng ta nghĩ chúng ta là. Thế nhưng, thậm chí dù ở một mức độ nông cạn nhất, nhiều ý tưởng của chúng ta về tự thân cũng không đúng: Chúng ta vốn không xấu, đẹp, tài giỏi, yếu kém, siêng, nhác, ngu dốt, hay bất kỳ một đặc tính tốt xấu nào do chúng ta gán ghép cho bản thân.

Chúng ta không chỉ tin rằng có một cái “tôi” chân thật, hằng hữu làm chủ thân, tâm, và cuộc sống của chúng ta; mà còn tin rằng mọi người và vật có một bản chất có thể thủ đắc nào đó nữa. Chúng ta cho rằng vạn vật tồn tại theo cách chúng biểu hiện ra bên ngoài. Vì thế chúng ta tin rằng một người nào đó hiện ra trong mắt chúng ta là một kẻ thù thì họ vốn đáng khinh thị và nguy hại. Chúng ta đấu tranh để bảo vệ tài sản của chúng ta như là “cái của tôi”. Chính sự vô minh gán ghép một bản chất chắc thật và không biến đổi cho những hiện tượng vô ngã và biến đổi, rồi một loạt những tâm lý ưu phiền khởi lên, và chúng ta khuất phục trước sự thống trị của lòng tham, nỗi khiếp sợ, sự chống đối, căng thẳng, oán hận, sự kiêu căng, và bê trễ.

Nhờ ý thức được sự đối lập của bốn điên đảo – vô thường, khổ, tịnh, và vô ngã – chúng ta nhận thấy rõ ràng được vấn đề, nguyên nhân của bốn điên đảo, và một ước muốn mạnh mẽ muốn thoát ra khỏi chúng khởi lên. Đấy chính là xả bỏ.

Sự chánh niệm này mang lại cho chúng ta lòng can đảm và khả năng để đối mặt những lề thói xoay quanh bản ngã. Nhìn lại xung quanh, chúng ta thấy rằng tất cả các loài chúng sanh đều giống như chúng ta cùng mong muốn được hạnh phúc và thoát khỏi đau khổ, từ đó khởi lên tấm lòng vị tha muốn làm lợi ích cho tất cả. Nhận thức được ích lợi của hành động làm vui kẻ khác sẽ mở rộng trái tim chúng ta cho tình yêu chân thật và tấm lòng từ bi. Mối liên hệ mật thiết với những người khác khơi dậy ý định xóa đi những mây mờ trong tâm chúng ta và phát triển khả năng của chúng ta đến vô hạn sao cho có thể mang lại lợi ích nhiều nhất cho hết thảy. Đấy là cách thức chánh niệm đưa đến giải thoát.

(Theo The Buddhist Channel)
Hết thẩy là khảo nghiệm,

Coi thử mình ra sao,

Ðối cảnh lầm không biết,

Phải luyện lại từ đầu.

Hòa Thượng Tuyên Hóa

http://www.dharmasite.net/
gioidinhhue
Cảm ơn, Thành viên Moderator (Xin thông báo BQT)
 
Bài viết: 953
Ngày tham gia: Thứ 5 03 Tháng 9, 2009 3:27 pm


Quay về Tổng quan về Nam Tông Phật Giáo

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến1 khách

cron