Bạn đang xem trang 1 / 1 trang

Chánh Tín: trong ngũ căn ngũ lực.

Gửi bàiĐã gửi: Thứ 2 12 Tháng 1, 2015 6:21 pm
gửi bởi Bất Nhị
1. Tín căn (Śraddhendriya):
là lòng tin được đặt trên chiều hướng câu hữu với thiện pháp và đưa đến giải thóat, tức là tin một các vững chắc vào Tam bảo, tin một cách như thật vào đạo lý Tứ đế.

Lòng tin này được đặt trên nền tảng như thật không giống như lòng tin mù mờ, vô căn cứ, không thấy, không biết, không nghe mà vẫn cứ tin, đó gọi là tin mù quán, mê tín dị đoan không có cơ sở, bất chấp sự thật của hầu hết các bộ phái ngoại đạo.
Lòng tin ở đây là con đẻ của lý trí, là kết quả của sự suy luận so sánh đối chiếu sáng suốt, của sự quan sát tư duy kỹ càng chứ không phải của tình cảm đam mê lú lẫn.

Ðức Đạo sư không bao giờ bắt buộc chúng ta tin một điều gì mà không tìm hiểu suy xét về nó, không giải thích tường tận rõ ràng về nó. Vì vậy cho nên Ngài thường dạy cho các đệ tử của Ngài là: “Tin Ta mà không hiểu Ta, tức là hủy báng Ta!”

Lòng tin của chúng ta phát khởi từ trí tuệ, có xét đoán tìm hiểu một cách rõ ràng minh bạch thì, lòng tin đó nó mới vững chắc, mãnh liệt.
Chính nó là nền tảng căn bản phát sinh các hạnh lành, Phật dạy: “Tin là mẹ vô lượng công đức”.
Nhưng hành giả chúng ta tin cái gì cho đúng với thiện pháp, đúng với giải thóat? Đó chính là tin vào ba ngôi báu:


a) Tin Phật
: Chúng ta biết rằng đức đức Đạo sư là bậc hoàn toàn giác ngộ và, giải thoát tất cả mọi vướng bận của khổ đau thế gian. Vì vậy, hành giả chúng ta lúc nào cũng luôn luôn tin tưởng về Phật và, hướng mục tiêu hòan thành giác ngộ, cũng như giải thoát cuối cùng của chúng ta như chính đức Đạo sư đã thân chứng.


b) Tin pháp
: Hành giả chúng ta tin vào Pháp là chân lý sống, là pháp như thật mà đức Ðạo sư đã thân chứng và, truyền lại cho những người đi sau như chúng ta. Hay nói một cách khác, pháp đó chính là giáo lý chỉ cho bốn sự thật mà đức Đạo sư đã thuyết minh lần đầu tiên cho năm anh em Kiều Trần Như tại vườn nai.
Chúng ta tin tưởng một cách tuyệt đối vào những giáo lý ấy, vì người nói ra là đức Đạo sư, Ngài đã tự thân tác chứng và, giác ngộ được cũng nhờ vào giáo lý ấy.


c) Tin Tăng
: Hành giả chúng ta tin tưởng vào Tăng là những người thật hành các giáo lý của đức Đạo sư, để tự thanh tịnh ba nghiệp thân khẩu ý, giác ngộ mình, giác ngộ người khác, là những vị đại diện cho đức Đạo sư đưa cao ngọn đuốc chánh pháp sáng soi cho mọi người đi theo. Nên hành giả quyết trọn đời phải tin tưởng và, quy hướng về Tăng để thực hành giải thóat.

Thích Đức Thắng.

Re: Chữ tin: trong ngũ căn ngũ lực.

Gửi bàiĐã gửi: Thứ 2 12 Tháng 1, 2015 6:22 pm
gửi bởi Bất Nhị
Căn lành trước nhất là niềm tin (Tín) rất quan trọng, cần cân nhắc đừng để rơi vào mê tín hay cuồng tín.

Nếu mê tín, sẽ bị người lợi dụng niềm tin để dẫn ta đi vào đường tà, nguy hiểm. Người có căn lành, niềm tin của họ hoàn toàn khác với người không có căn lành.


Không có căn lành, niềm tin thường được thúc đẩy bởi tham vọng. Thí dụ người mê tín muốn điều gì đó, ham muốn này phát xuất từ lòng tham, khiến họ mờ mắt, mới nhờ thầy bói, thầy bùa.
Những ông thầy tà liền khai thác sự ham muốn ấy, bày vẽ đủ kiểu, làm cho người này tan gia bại sản, khổ đau.


Đối với chúng ta, có niềm tin là chánh tín phát xuất từ Thiền định; cho nên cách nhìn của chúng ta sáng hơn. Vì vậy, kinh Hoa Nghiêm dạy rằng niềm tin sanh ra tất cả công đức. Không tin, luôn nghi ngờ và lo sợ, sẽ chẳng làm được gì. Người có căn lành đặt niềm tin vào năm điều:

tin Phật, tin Pháp, tin Tăng, tin trì giới và tin hạnh hỷ xả.


Tu hành theo Phật mà không tin Tam Bảo thì làm sao tiến tu được. Trước hết và trên hết, chúng ta đặt trọn niềm tin ở Đức Phật và giáo pháp của Ngài đã truyền trao.

Tuy nhiên, Đức Phật lịch sử đã cách chúng ta hơn hai ngàn năm trăm năm; vì thế, việc cảm được Phật, hiểu được Phật rất khó và ứng dụng pháp Phật có kết quả hoàn toàn lại khó hơn.

Kinh Pháp Hoa dạy rằng Phật thực là Phật tâm không vào Niết bàn, nhưng không phải ai cũng thấy Phật.

Phật luôn hằng hữu, nhưng giữa ta và Phật muốn thông được với nhau, phải phá bỏ bức màn ngăn cách là ngũ ấm ma, phiền não ma, thiên ma, tử ma.


Thật vậy, trên bước đường tu, ta thường bị người không đắc đạo tác động. Họ dạy ta những điều sai lầm và lấy cái sai đó tự ràng buộc, làm khổ mình.
Vì thế, cần tìm Thầy hiền bạn tốt gần gũi, học hỏi; đừng đến với thầy tà bạn xấu, họ làm ta dao động thêm.

Ngoài ra, phiền não trong lòng chúng ta có sẵn, nên khi bị tác động, phiền não liền nổi dậy, tâm ta không yên được thì không thể thấy Phật được.


Các vị Tổ sư thường ví tâm như mặt nước sông hồ, nếu trong suốt và phẳng lặng, trăng mới in bóng lên được.
Tâm chúng ta cũng vậy, không phiền não, Phật sẽ xuất hiện nơi tâm ta, ta và Phật không có khoảng cách.
Đó là thấy Phật bằng tâm, tâm thanh tịnh, Phật hiện; tâm vọng động, Phật biến mất.


Trong khoảng thời gian này, ta tìm học Phật lịch sử qua trung gian Thầy Tổ của chúng ta, nhưng chúng ta tìm Phật thật qua thực tập Thiền quán.


Nhờ Thiền quán, chúng ta cắt bỏ lần phiền não và thiên ma, nên tâm lần lắng yên, thì mức độ thấy Phật của chúng ta rõ ràng hơn.
Có giáo sư thí dụ tâm chúng ta như cái Tivi. Khi tâm chúng ta đầy đủ ngũ ấm ma, phiền não ma, ngoại ma, giống như màn hình Tivi bị nhiễu sóng, chỉ thấy toàn là hột lấm tấm, không có hình ảnh và âm thanh ồn ào, không nghe được tiếng nói. Nhưng nếu chúng ta phá được một phần phiền não sẽ nghe được âm thanh, nhưng không rõ và thấy được hình ảnh, nhưng hình cũng bị giựt.


Đó là thí dụ về cái thấy Phật lờ mờ bằng niềm tin, không thấy bằng mắt. Ta tin có Phật, nhưng không biết Phật ở đâu.
Ta tu được, vì tin Phật đang gia hộ cho mình. Do sự tu tập, điều chỉnh thân tâm của chúng ta, hạn chế được phiền não và ngũ ấm ma, nên thấy Phật lờ mờ bằng niềm tin, thì bắt đầu bắt được làn sóng của Phật. Từ đó, nỗ lực Thiền định công phu, điều chỉnh cho làn sóng tâm đúng với tần số của Phật, ta sẽ nghe được Phật, thấy được Phật.


Như vậy, từ bắt đầu thấy Phật bằng niềm tin, cảm được Phật và đi sâu vào Thiền định, thấy Phật bằng tâm.
Khi tâm thanh tịnh, tâm ta và Phật ngang nhau, thấy Phật trong Thiền định và xả định, thì Phật biến mất, nhưng niềm tin Phật luôn hộ niệm vẫn sống động trong ta.


Niềm tin Phật xuất phát từ Thiền định như thế chính là căn lành. Còn người không thấy được Phật bằng niềm tin, cũng như không Thiền định công phu để thấy Phật thực, dễ rơi vào mê tín, hoặc chỉ tu một thời gian, sanh ra chán nản, xa đạo lần cho đến không tu nữa.


Cần khẳng định rằng người có niềm tin ở Phật và vào Định, thấy Phật thì khi ra Định, chắc chắn họ sẽ xử sự tốt và rất tinh tấn trên bước đường tu.

Vì vào Thiền định, họ thấy Phật, tiếp nhận được sự an lành tuyệt vời, cho nên cuộc đời này đối với họ chỉ là chốn tạm bợ. Họ hiện hữu trên cuộc đời, để trải nghiệm Bồ tát hạnh, làm những điều tốt lành cho mọi người, không mong cầu gì cho bản thân mình, nên hoàn thành mục tiêu rồi, nhẹ nhàng ra đi, để lại sự tiếc thương và lòng quý mến của mọi người dành cho họ.


Những người không có chỗ đi, không có chốn về, không nhận ra Phật và thế giới Phật, mới phải ở đây bám vào thế giới này, hơn thua tranh giành để sống.
Ví như quý vị có tịnh xá tốt đẹp hơn nơi này thì sau ba tháng An cư, làm mọi việc thật tốt xong, sẽ về tịnh xá của mình, không có gì thắc mắc.

Còn người cố bám trụ vào đây, sẽ gây ra nhiều việc rắc rối. Thế giới Thường Tịch Quang của Phật dĩ nhiên tốt đẹp vô cùng so với thế giới phương tiện mà chúng ta đang sống.

Vì thế, vào Thiền định, hành giả tu trong thế giới Phật tốt hơn thế giới này quá nhiều và tiếp nhận được vô số điều hoàn mỹ. Xả Thiền, rời thế giới Phật, hành giả trở lại cuộc đời này, chia sẻ công đức đã nhận được từ Phật cho mọi người, là mắt sáng cho đời, là bóng mát cho người nương tựa, khiến trời người phát tâm cúng dường là thế.


Ngược lại, tu hành không đạt kết quả tốt, vì không sống trong Thiền định, không vào thế giới Phật, bản thân dày đặc phiền não, không tự cởi trói cho mình, còn giúp được ai. Thực tế cho thấy, những đạo tràng mà đại chúng tu hành không nghiêm túc, thường có nhiều tranh chấp xảy ra; trái lại, đạo tràng thanh tịnh, người tu có đức hạnh sẽ đóng góp được nhiều cho đạo.


Với niềm tin Đức Phật là bậc sáng suốt, giác ngộ hoàn toàn và tận cùng nguồn tâm, chúng ta tiếp cận được với Phật, thì theo sự cảm tâm đó mà chúng ta hành đạo. Đức Phật đã thành tựu trọn vẹn những giáo pháp mà Ngài chỉ dạy và chư vị Tổ sư cũng đã thể nghiệm được tinh ba của pháp Phật; vì thế chúng ta tin rằng từng bước, cũng có thể tu tạo hạnh đức như các Ngài.


Ngoài việc tin tuyệt đối ở Phật, ở giáo pháp của Ngài dạy, niềm tin vào Tăng bảo là đoàn thể hòa hợp, thanh tịnh cũng rất cần thiết.

Ý thức sâu sắc về tầm quan trọng của đoàn thể Tăng già, suốt cuộc đời tu hành của tôi luôn gắn liền với Giáo hội, từ Giáo hội Tăng già Nam Việt trước kia, cho đến Giáo hội Phật giáo Thống nhất và Giáo hội Phật giáo Việt Nam ngày nay.

Không có Giáo hội, một mình tôi không thể làm được. Từ niềm tin vào Giáo hội, mới dành mọi công sức và trí tuệ cho việc chung của tập thể đến quên mình là đạt vô ngã vị tha.

Trên bước đường hành đạo, gặp việc phiền toái, có lúc khởi tâm muốn bỏ, nhưng nhớ lại bỏ nửa chừng là mình mất trắng, tôi cố gắng kham nhẫn để duy trì nếp sống lý tưởng mà mình đã theo đuổi từ bao đời bao kiếp. Khi đặt niềm tin ở tập thể, chúng ta nỗ lực xây dựng tập thể cho tốt đẹp hơn.

Tâm trí và đạo lực đầu tư cho tập thể nhiều, tất yếu chúng ta cũng nhận được niềm an lạc vô biên trong ngôi nhà chánh pháp. Không tin ở tập thể, học xong thích xây dựng am cốc ở riêng là người không có căn lành. Tam bảo đã nuôi dưỡng chúng ta trưởng thành rồi, cần dấn thân phục vụ đại chúng, lo cho lớp đàn em sau này; đó chính là căn lành rất quan trọng.


Điều thứ tư mà chúng ta đặt trọn niềm tin là trì giới. Trên bước đường tu, giữ giới thanh tịnh một cách tự nhiên, không phải bị ép buộc, bất đắc dĩ. Vì giới luật đã là sự sống cần thiết cho chính mình và được tuân thủ lâu ngày, nên trở thành đức hạnh của chúng ta. Thiếu căn lành này, không thể nào tiến tu được. Chỉ có đạo đức do trì giới thanh tịnh mới cảm hóa được người. Còn xảo trí, đa mưu không phải là người tu.


Và căn lành thứ năm của phần tín căn là xả bỏ. Ai cố ý hay vô tình xúc phạm, mình cũng bỏ qua. Nhờ hạnh hỷ xả, chúng ta sống với đại chúng nhẹ nhàng. Cố chấp, ghim trong lòng lâu ngày, hiện ra nét mặt dễ sợ và dễ trở thành trầm cảm. Phật dạy chúng ta tâm hỷ xả là một trong tứ vô lượng tâm mà người tu phải trang bị cho được.


Trên tinh thần này, giáo lý Nguyên thủy cũng dạy lục niệm là niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm giới, niệm thí, niệm thiên. Trong tâm trí cần nuôi lớn sáu niệm này. Người lúc nào cũng niệm xả thì chạm trán với vấn đề gì, họ cũng tươi cười được.

Cho đến người ta chọc tức mình mà vui, tôi nghĩ mình có thể cho họ nguồn vui đó cũng được, có gì phải sợ. Thực tế cho thấy người có tâm hồn hỷ xả thường có nhiều bạn.


Với niềm tin chân chánh và thanh tịnh thực sự vào năm điều như trên, hay vào lục niệm, chúng ta kết hợp Thiền định công phu và lễ Phật, tụng niệm kinh điển, có được nếp sống an lành, khiến chúng ta siêng năng tu tập và giúp đỡ mọi người. Quán sát năng lực của mình và yêu cầu của người, thấy đúng đắn và hướng dẫn người được lợi lạc. Nhờ đó, hành Bồ tát đạo không biết mệt mỏi, chán nản, mới phát huy được căn lành thứ hai là Tinh tấn

HT THÍCH TRÍ QUẢNG

Re: Chữ tin: trong ngũ căn ngũ lực.

Gửi bàiĐã gửi: Thứ 2 12 Tháng 1, 2015 6:43 pm
gửi bởi Bất Nhị
IV.- CẦU NGUYỆN LÀ CHÁNH TÍN HAY MÊ TÍN?

Trong nhà chùa mỗi khi tụng kinh, mọi Phật sự đều có cầu nguyện. Sự cầu nguyện này là chánh tín hay mê tín? Câu hỏi này không thể trả lời một chiều, tùy chỗ hiểu biết của mỗi người, sự cầu nguyện là mê tín, cũng là chánh tín.

a) Mê tín
Nếu chúng ta khẳng định rằng mọi sự cầu nguyện đều được toại nguyện, đó là mê tín. Vì sao? Bởi vì, nếu cầu nguyện mà được, thì không cần nói đến nhân quả nghiệp báo. Nếu mọi sự kiện xảy ra đều do nhân quả thì sự cầu nguyện khó mà toại nguyện. Bởi lẽ, thế gian có kẻ tạo nghiệp lành, người tạo nghiệp dữ. Người tạo nghiệp lành khi phước báo đến thì được như nguyện. Kẻ tạo nghiệp dữ khi nghiệp báo đến, dù có nguyện cầu cũng khó thoát khỏi quả khổ. Thế thì làm sao dám cố định cầu nguyện là được như ý. Người chấp cố định, là sai lầm không hợp lý, nên thuộc mê tín.


b) Chánh tín
Chúng ta chỉ xem cầu nguyện như những lời chúc lành là chánh tín. Vì quí kính cha mẹ, quí kính người thân, chúng ta hằng cầu nguyện cho những vị ấy song có được như nguyện hay không, còn tùy thuộc phước duyên dày mỏng của những vị ấy. Mặc dù không được như nguyện, cũng nói lên được lòng hiếu thảo chân thành của chúng ta. Cũng như vì hiếu kính những người trưởng thượng, những bạn bè thân hữu, đầu năm mọi người chúc lành cho nhau. Những lời chúc lành này không hẳn thể hiện được, nhưng cũng nói lên được lòng quí mến nhau.


Hơn nữa, người tu Phật cầu nguyện với mục đích phá tan tâm niệm vị kỷ của mình. Bất cứ một Phật sự nào, chúng ta đều hồi hướng nguyện cầu cho tất cả chúng sanh đều thành Phật đạo. Mới nghe qua dường như những lời nguyện suông, không thể thực hiện được. Song trên tinh thần phá ngã, cứ lập tới, lập lui mãi tâm niệm vì tất cả chúng sanh, khiến người ta quên bẵng bản ngã riêng tư của mình. Mọi việc làm đều không phải vì mình, không được nghĩ lợi ích riêng cho mình, mà phải vì nhân loại, vì tất cả chúng sanh. Hằng ngày cứ huân tập mãi tâm niệm này, đến một khi nào đó, chúng ta không còn thấy bản ngã riêng, đồng hóa mình và chúng sanh không khác. Thế là chúng ta phá được chấp ngã và phát tâm đại từ bi, xem mọi khổ vui của người như của chính mình. Hiểu cầu nguyện và ứng dụng cầu nguyện như vậy, quả thật là chánh tín.


V.- CHÁNH TÍN

a) Tin nhân quả

Đứng về chiều thời gian, vạn vật hiện có trong vũ trụ này, không một vật nào thoát ngoài nhân quả mà được hình thành. Trên tiến trình sanh diệt, quyết hẳn vạn vật từ nhân tiến đến quả, từ quả trở lại nhân. Nhân quả, quả nhân xoay vần không dứt. Đó là hiện tuợng sanh hóa trên cõi nhân gian. Nghiệm xét thấu đáo, chúng ta không thấy có một vật gì không nhân mà có, ngẫu nhiên mà thành. Thấy rõ lý nhân quả, chúng ta khéo uyển chuyển cái xấu trở thành tốt, cái dở trở thành hay. Thấy rõ lý nhân quả, chúng ta nắm chắc quyền tự chủ, tạo dựng tương lai tươi đẹp cho chính mình. Lý nhân quả vừa là khoa học vừa là sức mạnh chuyển tiến của con người. Tìm hiểu tường tận lý nhân quả là người thông minh. Biết ứng dụng lý nhân quả là con người tiến bộ. Khảo sát theo nhân quả là lý luận chặt chẽ, là hiểu biết thấu đáo. Cho nên nghiệm xét lý nhân quả tường tận rồi, chúng ta tin tưởng là chánh tín.


b) Tin nhân duyên

Đứng về mặt không gian, vạn vật trong vũ trụ đều do nhân duyên hợp thành. Không một vật nào do một đơn vị làm nên, mà phải nhiều đơn vị hợp lại mới thành hình. Chính thế, lý nhân duyên thích ứng với tinh thần phân tích của khoa học hiện nay. Nếu sự vật do một đơn vị làm nên thì còn gì phân tích. Bởi nhiều đơn vị hợp thành một vật thể, người ta mới phân tích chia ra nhiều đơn vị, nhiều loại. Nhỏ nhất như một nguyên tử, người ta phân tích trong đó vẫn có nhiều phần hợp thành, huống là những vật thể to tát. Do đó, chúng ta thấy rõ lý nhân duyên nhà Phật nói, là một lẽ thật, đúng với tinh thần khoa học hiện thời. Hiểu được lý nhân duyên, chúng ta phá tan cái chấp lầm vô nhân và nhất nhân. Hiểu được lý nhân duyên, chúng ta thấy rõ muôn vật trên thế gian có sự liên quan chằng chịt với nhau. Chúng ta không thể tách một cá thể đứng ngoài tập thể, một cá nhân đứng ngoài nhân loại. Đây là lý do khiến dẹp được quan niệm cá nhân ích kỷ. Chúng ta tích cực xây dựng nên hạnh phúc chung cho nhân loại, không riêng của một cá nhân. Tin lý nhân duyên là tin bằng trí tuệ, bằng khoa học, cho nên chánh tín.


VI.- LỢI ÍCH CHÁNH TÍN


a) Trí tuệ
Nhận rõ lý nhân quả, lý nhân duyên là tác dụng của trí tuệ. Chính do nhận xét thấu đáo, phân tích rành mạch, khiến trí tuệ càng ngày càng phát triển. Nếu một đối tượng trước mắt, chúng ta cứ thầm nhận là tự nhiên nó có, do tạo hóa làm nên, thế là còn gì phải nhận xét, phải phân tích. Cứ thế mãi, trí tuệ sẽ cùn mằn, không thể nào bén nhạy được. Đó là cái cớ khiến người ta lười suy xét, lâu ngày trở thành tâm trí ù lỳ chai cứng. Người Phật tử phải sống bằng trí tuệ, nên thấy rõ vạn vật sanh thành hoại diệt đều nằm trong hệ thống nhân quả, nhân duyên. Sự vật hiện có mà không do nhân quả, nhân duyên là phi lý luận, phản khoa học. Vì thế người chánh tín là người thực tế, khoa học, nhận xét bằng trí tuệ.


b) Chịu trách nhiệm
Thâm đạt lý nhân quả nhân duyên, người ấy sẽ nhận lấy trách nhiệm nên hư,hay dở, tốt xấu đều do mình. Mình là chủ động gây thành nhân tốt, tạo ra duyên lành. Mọi việc đều không được tốt lành là do mình không chịu gây tạo, đây là lỗi tại mình nào phải tại ai. Biết thế, chúng ta không trốn tránh, không kêu than, trái lại can đảm chấp nhận để rồi xoay chuyển. Bởi nhận rõ nhân quả nhân duyên, chúng ta xét một sự kiện xảy ra tốt xấu, phát xuất từ nhân nào, hội đủ nhân duyên gì mới xảy ra như thế. Thế thì dù có việc dở việc hay, chúng ta đều thấy rõ không lầm. Chúng ta nỗ lực cố gắng tạo điều kiện để chuyển đổi nó. Chịu trách nhiệm để chuyển đổi, không phải chịu trách nhiệm để thông qua, đó là tinh thần của người chánh tín.


c) Tự tín
Biết rõ dở hay do mình, quả thật mình là chủ nhân của mọi thành bại. Đau khổ an vui, chính mình là người tạo ra. Ngày mai tươi sáng, ngày mai tối tăm, ta là người chủ động. Do thấu hiểu lý nhân quả nhân duyên, con người sẽ có sức tự tín mãnh liệt. Nhờ sức tự tín, con người mới cố gắng chuyển đổi, vươn lên trong mọi lãnh vực. Một dân tộc có đức tự tín, không bao giờ cam chịu khuất phục, chậm tiến. Có tự tín là có một sức mạnh phi thường. Có tự tín, sự tu hành mới không thối chuyển.


VII.- KẾT LUẬN

Mê tín và chánh tín là hai con đường tối sáng khác nhau. Nếu đi bên tối là không thấy bên sáng, nếu đi bên sáng thì không kẹt trong tối.

Đạo Phật chủ trương chánh tín, không bao giờ chấp nhận mê tín. Do vì người truyền đạo không thông lý đạo, nên ghép những tập tục thế gian vào trong đạo, khiến người ta hiểu lầm đạo Phật mê tín.
Bản chất của đạo Phật là trí tuệ, là giác ngộ, làm sao dung nạp được mê tín.

Nếu người ta thấy trong chùa chiền hiện nay còn những hiện tượng mê tín, vội phê bình đạo Phật mê tín. Đây là những oan tình của đạo Phật. Tất cả những kinh Phật không có nói những việc mê tín ấy, chẳng qua một số người vì tùy tục, vì thiếu hiểu Phật pháp vẽ bày ấy thôi. Người học Phật chân chánh phải gan dạ loại bỏ những tập tục sai lầm ấy, can đảm dứt khoát đập tan mọi tệ đoan làm suy giảm giá trị Phật pháp. Có khi dẹp bỏ những điều đó, có thể thiệt thòi chút ít quyền lợi của mình. Song chúng ta cương quyết vì chánh pháp, chớ không vì lợi dưỡng, vì đưa người ra khỏi đường mê, không vì sợ mất mát bản đạo. Được thế, chúng ta mới xứng đáng là người lãnh đạo tín đồ, mới không hổ thẹn là hàng Tăng Bảo.



Trích từ: Bước Đầu Học Phật
của Hòa thượng Thích Thanh Từ

Re: Chữ tin: trong ngũ căn ngũ lực.

Gửi bàiĐã gửi: Thứ 6 16 Tháng 1, 2015 7:50 am
gửi bởi Bất Nhị
Tín lực:

Kính thưa quý đạo hữu!

Trong Ngũ lực, gồm Tín lực, Tấn lực, Niệm lực, Định lực và Tuệ lực thì Tín lực là hàng đầu, là cửa ngõ để đạt được các lực theo sau.

Tín lực không phải là sự tin tưởng vào những giáo điều, giáo pháp một cách mù quáng, ồ ạt và thiếu xét đoán mà dẫn đến việc làm khổ mình, khổ người, khổ tất cả chúng sanh.

Tín lực là lòng tin sâu sắc và mạnh mẽ đối với Chánh Pháp của đức Phật Thích Ca, là lòng tin chân chánh, chớ có vội tin mà hãy đến để mà thấy và tự mình chứng nghiệm, như đức Phật từng dạy:

“Nhưng này các Kàlàmà! Khi nào tự mình biết rõ như sau: Các pháp này bất thiện, Các pháp này là có tội lỗi, Các pháp này bị người có trí chỉ trích, Các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận đưa đến bất hạnh khổ đau. Thời này, Kàlàmà, hãy từ bỏ chúng không nên tin theo”.


Chính vì thế, từng ngày giờ chúng ta hành động, nói năng hay suy nghĩ những điều mà không làm khổ mình, không làm khổ người, không làm khổ tất cả chúng sanh thì ngay đó đã cảm nhận được sự thanh thản, an lạc, đã có Chánh Tín và cũng chính là đang hành đúng theo nền đạo đức nhân bản – nhân quả do đức Như Lai là người đầu tiên tuyên thuyết.


Nói không làm khổ mình, khổ người không có nghĩa là chúng ta cứ làm ngơ trước những điều sai trái của người khác.
Chính trong thời xưa đức Phật Thích Ca đã không ít lần đập mạnh, chỉ thẳng cái sai của 62 luận thuyết tà kiến ngoại đạo (trong Kinh Phạm Võng, Trường Bộ Kinh).


Quả là ” bậc A La Hán ra đời như cánh chim trời, tung bay khắp mọi nơi khiến cho vũ trụ rung chuyển, những tư tưởng mê tín, dị đoan, lạc hậu của loài người bị đảo lộn, không còn đứng vững, rơi rụng như những chiếc lá vàng mùa thu”.


Có vị Thầy mạnh dạn chỉ ra những việc được hành sai trong Phật Giáo hơn 2500 năm nay kể từ khi đức Phật và cuối cùng là ngài Ananda nhập diệt để giúp biết bao người tránh lầm đường lạc lối trên con đường tu tập của mình.
Nếu chúng ta nghĩ rằng vị ấy làm khổ người, nói xấu người khác, không có ái ngữ thì đó chưa phải là cách hiểu đúng, do mình còn kiến thủ.

Đức Phật có dạy trong Kinh Pháp Cú, phần VI – Phẩm Hiền Trí:

“Nếu gặp bậc hiền trí
Chỉ lỗi và khiển trách
Như chỉ chỗ chôn vàng
Hãy kết thân người trí
Kết thân với vị ấy
Chỉ có lợi không hại”

Biết nương theo những lời chỉ dạy của bậc hiền trí, bậc thiện hữu tri thức thì mọi người sẽ không còn chấp thủ vào cái sai của mình, tự mình cởi trói cho bản thân khỏi cái kiến giải, tưởng giải được truyền thừa từ bao đời nay.
******************************************************

Kinh Kàlàmà

Chúng ta hãy lắng nghe đức Phật dạy về lòng tin chân chánh:

“Này các Kàlàmà! Chớ vội tin vì nghe truyền thuyết,
Chớ vội tin vì nghe truyền thống,
Chớ vội tin vì nghe người ta nói đồn,

Chớ vội tin vì được Kinh Tạng truyền tụng,
Chớ vội tin vì nhân lý luận siêu hình,
Chớ vội tin vì đúng theo một lập trường,

Chớ vội tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện,
Chớ vội tin vì phù hợp với định kiến của mình,
Chớ vội tin nơi xuất phát có uy quyền,

Chớ vội tin vì bậc Sa Môn là đạo sư của mình v.v..


Nhưng này các Kàlàmà! Khi nào tự mình biết rõ như sau:

“Các pháp này bất thiện, Các pháp này là có tội lỗi, Các pháp này bị người có trí chỉ trích, Các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận đưa đến bất hạnh khổ đau.

Thời này, Kàlàmà, hãy từ bỏ chúng không nên tin theo”.


Trên con đường tìm cầu đạo giải thoát thì cũng có lúc chúng ta đứng giữa ngã ba ngã bảy trong khi lối đi đến tiếp cận chân lý thì chỉ có một: đó chính là Bát Chánh Đạo.


Cái ngã ba ngã bảy ấy tượng trưng cho một số lượng lớn Kinh sách được cho là của Phật thuyết mà sự thực thời còn tại thế đi hóa độ chúng sanh, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dù có thuyết pháp rất nhiều nhưng Ngài thường chú trọng vào Tứ Diệu Đế, Thập Nhị Nhân Duyên, Ba mươi bảy Phẩm Trợ Đạo, pháp Như Lý Tác Ý và Thân Hành Niệm…

***********************************************************************

Sau đây, Tâm Thuận xin trích dẫn những lời chỉ dạy vô giá của Hòa Thượng Thích Minh Châu về Chánh tín dành cho tất cả những ai đã, đang và sẽ tìm đến với Phật pháp.
Phần trích dẫn này nằm trong sách “Chánh Pháp Và Hạnh Phúc” và Lời giới thiệu Kinh Trung Bộ bản in năm 1986:


1) Sách Chánh Pháp và Hạnh Phúc, Nhà Xuất Bản Tôn Giáo (2001), trang 238-246:

“Cho dịch và cho in các bản kinh Pàli, chúng tôi không mong muốn gì hơn là để các phật tử, các học giả, các sinh viên được đọc thẳng vào kinh điển thật sự nguyên thủy hay gần nguyên thủy nhất, và sự tự mình tìm hiểu những lời dạy thật sự của Đức Phật, khỏi phải qua những lập trường của các bộ phái. Nhất là khỏi phải qua những xuyên tạc của những học giả và những phật tử muốn giải thích đạo Phật theo dục vọng và tà kiến của mình.

Muốn chạy theo dục vọng thì giải thích kinh điển một cách dễ hiểu rằng đạo Phật chấp nhận và tha thứ dục vọng. Muốn giết người và muốn bênh vực kẻ giết người, đạo Phật được giải thích như là có thể tha thứ và chấp nhận sự giết người. Muốn chạy theo tà giáo và tà kiến, lại giải thích đạo Phật viên dung vô ngại, chấp nhận mọi tà kiến, mọi tà thuyết. Tà kiến nào, tà thuyết nào cũng là Phật giáo được hết!


Muốn tránh những tai nạn trên, cần nhất là phổ biến những kinh điển thật sự nguyên thủy hay gần nguyên thủy nhất, để phật tử được đọc thẳng ngay kinh Phật, khỏi qua một ống kính màu nào.

Đạo Phật cần những cá nhân Phật tử biết suy tư, biết phân tích, biết tự tìm hiểu rồi xác nhận sự hiểu biết của mình, ngang qua sự hành trì, kinh nghiệm cá nhân.

Đạo Phật Không cần đến những đoàn người theo đạo Phật, theo một cách ồ ạt mù quáng, theo một cách thụ động nhắm mắt, hay tự mình bóp méo xuyên tạc đạo Phật theo tà kiến dục vọng của mình.


Chính kinh Đại Bát Niết Bàn, trang 124- 126, tập III có ghi rằng, dù chúng ta có nghe vị Tỳ-kheo nào nói tự thân nghe Đức Phật, tự thân nghe các vị Thượng Tọa, Thủ chúng v.v… nói như vậy là pháp, như vậy là luật, Đức Phật khuyên cũng không được tán thán, đả kích, chấp thuận hay từ bỏ ngay, mà phải so sánh với kinh, đối chiếu với luật, có phù hợp mới được chấp nhận, không phù hợp thời phải từ bỏ.
Đạo Phật đòi hỏi sự nhận xét, tìm hiểu suy tư cá nhân rất nhiều. Nhưng chúng ta chỉ có thể nhận xét, tìm hiểu suy tư. Khi chúng ta được đọc những lời dạy nguyên thủy nhất hay gần nguyên thủy nhất của Đức Phật.

Chúng tôi dịch kinh Pàli, không vì mục đích muốn ủng hộ hay không muốn ủng hộ một học phái nào, một lập trường nào. Mục đích của chúng tôi chỉ muốn giới thiệu những kinh điển có thể được xem là nguyên thủy hay gần nguyên thủy nhất, để người đọc có thể tìm hiểu lời dạy chân chính của Đức Phật, khỏi qua ống kính của một học phái nào, dù Ấn Độ, Trung Hoa, hay Việt Nam.


Chúng tôi cũng không có trách nhiệm nêu lên cho độc giả rõ, đoạn nào là nguyên thủy, đoạn nào không phải nguyên thủy. Chỉ có người đọc, sau khi tự mình đọc, tự mình tìm hiểu, tự mình suy tư, tự mình quan sát, tự mình chứng nghiệm trên bản thân, mới có thể tự mình hiểu và thấy đoạn nào là thật sự nguyên thủy.

Trách nhiệm tìm hiểu, chứng nghiệm cá nhân là trách nhiệm của người đọc, không phải của người dịch, vì đạo Phật là đạo đến để mà thấy, chứ không phải đạo đến để nhờ người thấy hộ, đạo của người có mắt (Cakkhumato), không phải đạo của người nhắm mắt, đạo của người thấy, của người biết (Passato Ajànato), không phải là đạo của người không thấy, không biết (Apassato Ajànato). Nên chỉ có người đọc mới có thể tự mình thấy, tự mình hiểu và tự mình chứng nghiệm.


Thật sự chúng tôi chỉ mong rằng quý vị đọc thật kỹ và suy tư thật chín chắn những đoạn mà chúng tôi phiên dịch rồi quý vị hãy tự hỏi, những đoạn ấy có phải là những đoạn “Tiểu thừa” dành riêng cho những vị có tiểu tâm, chỉ tư lợi không biết vị tha, chỉ biết tự giác không biết giác tha.
Như chúng tôi đã phân tích trong lời giới thiệu bản dịch tập “Đại Thừa Và Sự Liên Hệ Với Tiểu Thừa.” Chúng ta đừng có mắc bẫy các vị Bà La Môn Ấn Độ giáo tìm cách gán cho chữ “Tiểu Thừa” để loại ra ngoài những lời Phật dạy căn bản, như một số phật tử Đại thừa đã bị mê hoặc, không dám đọc những lời Phật vì bị gán nhãn hiệu Tiểu Thừa.

Bên phái Nam tông, tuy tôn thờ Tam Tạng Pàli, nhưng một số phật tử cũng rơi vào nạn tương tự, là chỉ học luật tạng và A Ty Đàm tạng, bỏ rơi Kinh tạng Pàli, vì xem A Ty Đàm tạng mới đề cập đến Đệ Nhất Nghĩa Đế, còn kinh tạng chỉ bàn đến Tục Đế mà thôi. Đây cũng là một lầm lạc hết sức ngây thơ và nguy hiểm. Vì A Ty Đàm phát xuất từ kinh tạng, và bỏ để tìm ngọn thì không khác gì kẻ đi tìm lõi cây, mà chỉ mang về cành lá.


Thật sự đạo Phật đâu có phân biệt Tiểu Thừa và Đại Thừa, đâu có chia đôi Chân đế, Tục đế. Những sự phân chia này chỉ là hậu tác phẩm, hoặc của giáo sĩ Bà La Môn mang danh phật tử muốn loại bỏ những gì tinh túy nhất của đạo Phật không cho phật tử học và tu, hay của một số đệ tử Phật muốn làm Tổ sư một giáo phái nên đề xướng các chủ thuyết lấn át những lời dạy nguyên thủy của Đức Phật.


Thật sự chúng ta chỉ có một trách nhiệm tìm đọc và tìm hiểu những lời dạy thật sự là những lời dạy của Đức Phật, và vì trách nhiệm ấy mà chúng tôi đang cố gắng phiên dịch kinh tạng Pàli ra Việt ngữ. Chúng ta chỉ cần đọc, cần suy tư chín chắn và rồi chính chúng ta tự ý thức đâu là những lời dạy trung thực của đức Bổn Sư chúng ta.


Đây là sự đóng góp của Viện Đại Học Vạn Hạnh vào nền văn hóa Phật giáo bằng cách giới thiệu một cách đầy đủ và trung thực những tài liệu tiếng Việt quý báu nhất về kinh tạng Pàli, vừa cho các phật tử tìm hiểu, thực hành và thực chứng, vừa giúp các học giả Phật giáo có những tài liệu tham khảo khá đầy đủ và trung thực.

Viện Đại Học Vạn Hạnh là môi trường đầu tiên nếu không phải là độc nhất, đã cố gắng giới thiệu kinh tạng Pàli cho phật tử Việt Nam, học giả Việt Nam, dân chúng Việt Nam.


Viện Đại Học Vạn Hạnh cũng đi tiên phong mở đường cho một cao trào nghiên cứu đi thẳng vào lời dạy nguyên thủy của Đức Phật, khỏi bị những lệch lạc của học phái hay của Bà La Môn giáo. Điều quan trọng hơn nữa, Viện Đại Học Vạn Hạnh khuyến khích các học giả và các phật tử tự mình mở mắt tìm hiểu, suy tư đối chiếu, không có nhắm mắt tin theo, không có thụ động chấp nhận, trái lại phải biết thâu hóa, so sánh, để làm sáng tỏ những lời dạy nguyên thủy của Đức Phật.”…


2) Lời Giới Thiệu Kinh Trung Bộ (Trong Bản In Năm 1986):

“Gần chúng ta hơn, Kinh Trung Bộ này đã nằm trong chương trình học của Trường Cao Cấp Phật Học Việt Nam, và Tăng Ni Sinh cần có Kinh sách để học hỏi nghiên cứu, cho nên cho in lại Kinh Trung Bộ là đáp ứng nhu cầu cấp bách này. Ngoài ra Kinh Trung Bộ đang được nhiều nhà học giả, nhiều Phật tử nghiên cứu và tìm hiểu, vì chúng ta có thể nói Kinh Trung Bộ không những là cốt lõi trong Kinh Tạng Pàli mà còn diễn đạt rất súc tích và đầy đủ những định nghĩa căn bản các danh từ đạo Phật và còn diễn đạt rất phong phú và đa dạng những pháp môn tu tập đưa đến Niết bàn. Chưa học Kinh Trung Bộ là chưa nắm được tinh hoa của Ðạo Phật nguyên thủy.

Chưa nghiên cứu Kinh Trung Bộ rất có thể rơi vào những lệch lạc định nghĩa các danh từ chuyên môn trong đạo Phật mà Ðức Phật đã dày công định nghĩa, mỗi khi Ngài thuyết giảng giáo lý của Ngài.


Chúng tôi chỉ có thể nói một cách vắn tắt là
Kinh Trung Bộ đặt nặng về phần Chánh Tri Kiến và các phương pháp tu hành, nhất là những tiến trình tu chứng đi từ Giới, Ðịnh, Tuệ, Giải thoát, Giải thoát tri kiến.

Còn Kinh Trường Bộ đặt nặng phần lịch sử, có tánh cách đối ngoại đối với Bà La Môn, du sĩ ngoại đạo, Kỳ na giáo…

Tăng Chi Bộ đặt nặng phần phân tích giáo lý theo pháp số từ số 1 đến số 11.

Tương Ưng Bộ đặt nặng phần phân tích giáo lý theo đề tài.

Còn đọc Kinh Trung Bộ chúng ta đi sâu vào phần giáo lý và phần hành trì, đặt nặng về những phản ứng tâm lý tế nhị của người tu hành khi đạt đến những quả vị tối cao.

Công trình phiên dịch của tôi, một mặt đáp ứng sở nguyện xuất dương tu học của tôi, một mặt xây dựng những tài liệu nghiên cứu đạo Phật cho các Học giả và Phật tử Việt Nam. Lẽ dĩ nhiên trong trách nhiệm hiện tại của tôi, sự phiên dịch đòi hỏi nhiều cố gắng, nhiều dụng công kiên trì và liên tục, nhưng chúng tôi đã được tưởng thưởng xứng đáng, khi được tận hưởng những Pháp Lạc do Chánh Pháp đem lại trong khi phiên dịch.

Pháp Lạc này ẩn chứa trong từng chữ từng câu, tiềm tàng trong từng câu văn giọng nói, và chính Pháp Lạc đã nuôi dưỡng và khích lệ chúng tôi rất nhiều trong công tác phiên dịch này.


Càng dịch, chúng tôi càng thấy rõ ác ý của các nhà Bà La Môn đã dùng danh từ Tiểu Thừa để gán vào những lời dạy thực sự nguyên thủy của đức Phật và khiến cho các Phật tử không dám đọc, không dám học, không dám tu những pháp môn ấy.

Càng dịch, càng thấy rõ dụng tâm hiểm độc của các vị Bà La Môn, đã khôn khéo xuyên tạc đạo Phật, khiến cho những giáo lý căn bản, những tinh hoa cao đẹp nhất của tư tưởng nhân loại, đã bị những tư tưởng tà giáo xen lẫn, bị ruồng bỏ, bị che dấu, không được biết đến, không được học hỏi tu hành.

Nhưng chân lý bao giờ cũng là chân lý, mặt trời bao giờ cũng là mặt trời. Những lời ba hoa của Ma Vương, các cuộc đo tài của những ngọn đèn lẻ tẻ mù mờ, lời lẽ bập bẹ của những kẻ mới tập tểnh đi vào con đường Triết lý, tất cả cũng chỉ là cuồng vọng đen tối, được ánh sáng rực rỡ của chân lý quét sạch.


Có người than kinh Pàli quá dài và có nhiều đoạn trùng điệp. Khi dịch Kinh, bao giờ tôi cũng phải kính trọng nguyên bản, và vì vậy chúng tôi không có thể tự ý lược bỏ những đoạn trùng điệp, dầu rằng nguyên bản Pàli chúng tôi phiên dịch cũng đã lược bỏ khá nhiều.

Ðiều chúng ta nên nhớ là phần lớn Kinh điển được kiết tập trong các Ðại hội Kiết tập và đều do chư Tăng tụng đọc lại những đoạn các vị ấy đã ghi nhớ, và lẽ dĩ nhiên khi tụng đọc không bao giờ có chuyện lược bỏ.

Lại nữa đức Phật trong khi đi truyền giáo, mỗi Kinh đều được giảng trọn vẹn trong mỗi hoàn cảnh đặc biệt và chư Tăng ghi nhớ lại không bao giờ dám lược bỏ các đoạn đã được nghe. Do đó, có nhiều đoạn trùng điệp, khó lòng lược bỏ cho được.

Dầu thế nào, các đoạn trùng điệp vẫn có sự tác dụng cho người đọc, vì không gì tốt đẹp hơn là được nhắc đi nhắc lại nhiều lần những giáo lý quan trọng và những pháp tu căn bản.

Chúng tôi nay chỉ chú trọng phiên dịch, và mong dịch cho được chu toàn và đầy đủ, để làm tài liệu nghiên cứu và tu học cho các Phật tử và Học giả, chưa có một nhận xét, phê bình, so sánh đối chiếu gì.
Mỗi bộ Kinh được dịch xong là những nguồn tài liệu văn hóa hết sức phong phú và quý giá cho các Học giả và các Phật tử, và hiện tại sự cố gắng duy nhất của chúng tôi là cung cấp những tài liệu văn hóa ấy.

Cho nên, với 5 bộ Kinh Trường Bộ, Kinh Trung Bộ, Kinh Tăng Chi, Kinh Tương Ưng, Kinh Tiểu Bộ, chúng tôi nghĩ là giới thiệu được những tài liệu khá chính xác và đầy đủ để các nhà Học giả, Tăng Ni Phật tử, Sinh viên đi sâu được vào những Giáo lý và Giáo pháp căn bản, thật sự là nguyên thủy của Ðạo Phật.”



Kính thưa quý phật tử! Khi đọc xong tiếng nói của Hoà Thượng Thích Minh Châu, một trong những vị Hoà Thượng danh tiếng của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam và thế giới, ngài đã dám chỉ thẳng, nói cái sai của Phật giáo hiện giờ để cảnh giác mọi người thì quý phật tử hãy tự suy ngẫm rồi chọn cho mình một con đường đúng chánh pháp của Phật, để xây dựng cho mình một đời sống đạo đức nhân bản – nhân quả, không làm khổ mình khổ người.


Cuối cùng, để thay cho lời kết, Tâm Thuận xin trích dẫn lời di chúc của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni đã ban bố trước khi ngài diệt độ, và lời di chúc vô giá này sẽ còn sống động mãi cho đến khi con người hết khổ:

“Này Ananda, nếu trong các ngươi có người nghĩ rằng: “Lời nói của bậc Ðạo sư không còn nữa. Chúng ta không có Ðạo sư (giáo chủ)”. Này Ananda, chớ có những tư tưởng như vậy. Này Ananda, Pháp và Luật, Ta đã giảng dạy và trình bày, sau khi Ta diệt độ, chính Pháp và Luật ấy sẽ là Ðạo Sư của các Ngươi.”

“Này Ananda, những ai sau khi Ta diệt độ, tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa vào một pháp gì khác, những vị ấy, Này Ananda là những vị tối thượng trong hàng Tỷ-kheo của Ta, nếu những vị ấy tha thiết học hỏi.”
(Kinh Trường Bộ, bài Kinh Đại Niết Bàn).Lời chỉ dạy vô giá của HT. Thích Minh Châu về Chánh tín