Diễn đàn Tu viện Phật giáo Việt nam


Niết Bàn

Các kinh sách mới về Phật Giáo Nguyên Thủy (hệ pali).

Các điều hành viên: Sen Hong, Bất Nhị

Niết Bàn

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 3 10 Tháng 6, 2014 2:41 pm

Chương 15

Phật Giáo và Niết Bàn

Niết Bàn là mục tiêu cuối cùng của người tu Phật. Người tu vì sợ sự thống khổ bởi phiền não gây ra. Nên chi quí Ngài hành để đến Niết Bàn là nơi không còn Phiền não, hay để diệt trừ tàn tuyệt, hoặc giụi tắt hẳn được ngọn lửa Tham Lam, Sân Hận và Si mê.


Vì Niết Bàn là mục tiêu chính yếu của Phật giáo, nên thật khó hiểu được. Tôi (soạn giả) không dám nói rằng đoạn sách ngắn như thế này có thể giải thích rõ được ý nghĩa của Niết Bàn hầu chư độc giả, nhưng tôi xin cố gắng hết sức mình để giải thích, xin trích trong nhiều đoạn kinh khác nhau, trong Tam tạng và trong bộ Mi-lan-đà, vấn nạn Ðại đức Na-tiên Tỳ kheo. Mong rằng đem lại phần nào hữu ích cho quí vị và xin hứa rằng: nếu thời giờ cho phép, tôi sẽ ráng tìm hiểu thêm và sẽ cống hiến quí vị trong những quyển sách kế tiếp theo.


Niết Bàn là danh từ trừu tượng, khó cho người thông hiểu được dễ dàng, mà cũng khó cho vị Pháp sư hay vị Trí thức nào có thể giảng giải được rõ rệt.

Mặc dầu vị Ðại trí tuệ thuở xưa nổi danh là vị thông hiểu Tam-tạng nhứt là Ðại-đức Na-tiên Tỳ-kheo, cũng vẫn công nhận là khó diễn tả được.

Vì Niết Bàn là nơi Tuyệt đối. Mà vạn vật trên thế gian này đều là vật tương đối nên không thể đem lại để so sánh thí dụ cho dễ hiểu được.

Hơn nữa Niết Bàn cần phải hiểu rằng tuệ giác chứ không phải thấy bằng tâm thức được. Cũng như người nằm mộng, không thể chỉ giấc mộng của mình cho ai thấy được, hay là người đang nằm gần, ngồi gần mình, đang canh chừng mình cũng không thấy người đang nằm mộng thấy những gì.


Vì vậy nên Ðức Thế Tôn gọi là tự đắc và tự mình thấy mà thôi. Có thể nói chúng sanh là người bịnh, và các pháp như Trì-giới Tham thiền Trí-tuệ, hay Bát chánh đạo là thuốc.
Khi người uống thuốc trúng căn bịnh, đã mạnh thì người ấy biết mình mạnh và chỉ có người bịnh ấy mới biết rằng khi bịnh khổ chừng nào, mà khi mạnh cảm thấy trong mình như thế nào. Sự thơ thới không bịnh ấy chính là Niết Bàn.

Người bịnh ví như hành giả trong cái khổ của thân này do Phiền não. Bịnh này phải trị bằng Bát-chánh-đạo, khi hành đứng đắn thì căn bịnh càng thuyên giảm; khi căn bịnh là phiền não thuyên giảm bớt đi, đến dứt hẳn bịnh thì chỉ có hành giả biết mà thôi, chớ không ai biết, Cũng như người bịnh vậy, khi mạnh thì chỉ có người bịnh mới hiểu được mình.

Vì lý do ấy, nên Niết Bàn khó mà diễn tả bằng lời được. Chỉ có thể nói nơi ấy là nơi an vui tuyệt đối mà thôi.


Muốn dễ hiểu nơi đây tôi xin giải sơ lược về tiếng Niết Bàn.

Niết Bàn cũng có nhiều tên khác nhau là:

Vimutti, là giải thoát.
Nirodha nghĩa là Dụi tắt (phiền não).
Nirvana là Bắc phạn.
Nibbãna Niết Bàn là nam phạn.

Mặc dầu có nhiều tên chung qui cũng có một ý nghĩa là Dụi Tắt Phiền Não, Không Còn Khổ.


Tiếng Niết Bàn vẫn còn là tiếng Phạn nên chúng ta khó hiểu rõ rệt được. Tiếng Niết Bàn âm từ tiếng Nam phạn Nibbãna, hay Bắc phạn là Nirvana.

Xin chiết tự tiếng Nibbãna để quí vị có thể hiểu. Nibbãna chia ra làm hai phần là: Ni và Vãna.

Ni có nghĩa là ra, Vana nghĩa là rừng.


Muốn cho dễ đọc, Phạn ngữ đổi chữ Vana thành Bãna, khi chữ B đứng sau Ni có quyền thêm vào một chữ B nữa nên khi nối lại Nibbana có nghĩa là "Ra Khỏi Rừng".


Rừng đây ý nói Rừng Phiền Não. Phàm người ở trong rừng thì có rất nhiều tai nạn nguy hiểm như thú dữ, nước độc và phi nhơn, ngoài ra rất khó mà ra khỏi rừng được, thật dễ lạc mất lối đi. Ðây là rừng thường, còn cái rừng phiền não trong lòng ta, thì càng âm u, và nhiều cạm bẫy cùng các giống thú dữ.

Cái rừng ấy là Samyojana, ta dịch là Mười Kiết sử, nói cho dễ nghe là mười điều trói buộc chúng sanh, không cho giải thoát. Người lạc trong rừng thường có thể ra được, nhưng đối với rừng phiền não thì rất khó mà ra được.

Vì vậy nên Niết Bàn có nghĩa là người ra khỏi phiền não ở trong thâm tâm.
***
**
*
II.

Niết Bàn cũng còn có nghĩa là Dụi tắt. Ý nói phiền não là một thứ lửa vô hình mà rất nóng, hằng thiêu đốt chúng sanh nên chúng sanh, sanh trong hoàn cảnh nào, trường hợp nào cũng không khỏi khổ.

Dầu chúng sanh có cố gắng tìm sự an vui cho mình cũng chẳng hoàn toàn an vui được. Nên chi chư Thinh văn đệ tử Phật hằng ráng cố sức mình dụi tắt lửa phiền não bên trong, khi dụi tắt được là đã đắc Niết Bàn, có nghĩa là dụi tắt được Khổ.


Giải đến đây tưởng cũng nên nhắc lại câu Phật ngôn trong Tạng Kinh, Bộ Itivuttaka đoạn Dutĩyavagga. Bài kinh Sattamasutta dạy:

Idha Bhikkhave Bhikkhu Araham Hoti Pkhĩnasavo Vusitava Katakaraniyo Ohitabhabo Anuppattasadattho Parikhinabhavasamyojano Sammadanna Vimutto.

Nghĩa:

Này các thầy Tỳ-khưu, trong kiếp hiện tại này vị Tỳ-khưu nào đã xa lìa phiền não, hết những phiền não, ngủ ngầm trong tâm, đã hành tròn phạm hạnh, làm xong nhiệm vụ, để gánh nặng xuống, diệt tận kiết sử pháp, tạo điều lợi ích cho mình, đã giác ngộ và giải thoát.


Song nếu còn thân ngủ uẩn này gọi là Hữu Dư Niết Bàn.


Ý nói: Chư A-la-hán đã hoàn toàn giải thoát nhưng còn mang thân ngũ uẩn này vì chưa hết tuổi thọ của kiếp sống. Các Ngài vẫn sống như người thường, đây là còn dư sót thân nhưng không còn phiền não.

Khi các Ngài sống hết tuổi thọ xong, nhập diệt gọi là Vô Dư Niết Bàn.


Trong câu Phật dạy, có đoạn nói: "bỏ gánh nặng xuống". Có nghĩa là bỏ ba điều rất là nặng nề, thường do nơi ba điều ấy mà chúng sanh bị chìm trong biển khổ mãi. Ðó là:

1. Khandahbhãra, Gánh nặng ngũ uẩn.
2. Kilesabhãra, Gánh nặng phiền não.
3. Abhisankhãbhãra: Tạo tác nghiệp thiện hay ác là gánh nặng.


Có đoạn nói Diệt trừ tận Kiết sử, là mười điều tiếng Phạn gọi là Samyojana, nghĩa là những sợi dây trói buộc người lại trong biển trầm luân.


Tìm hiểu Ðạo Phật
Maha Thongkham Medivongs


Còn tiếp...
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Niết Bàn

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 4 11 Tháng 6, 2014 11:11 am

Chương 15

Phật Giáo và Niết Bàn


Niết Bàn là nơi yên tĩnh tuyệt đối, không thể giải bằng lời ví dụ, bằng sự vật thực. Nhưng Niết Bàn có ba đặc điểm khác thường là:

1. Trạng thái: Niết Bàn có sự hoàn toàn an tịnh là trạng thái.
2. Vị: Niết Bàn có sự bất diệt là Vị.
3. Hiện tượng: Niết Bàn có sự không có giới hạn là hiện tượng.


Sở dĩ mà người không thấu đáo hay đoạt được quả vị thanh cao là Niết Bàn bởi người ấy còn chứa đựng Phiền não là Tham Lam, Sân hận và Si mê Tà-kiến v.v... tạo ra nhiều nghiệp chướng Thiện hay Ác nên vẫn còn phải Luân hồi.

Tóm lại khi người dụi tắt được ohiền não ngủ ngầm trong tâm mình là người đắc được Niết Bàn. Nhân tiện đây tôi xin nhắc lại một đoạn trong bài kinh Aggivacchasutta trong Tạng kinh, bộ Majjhimanikãya đoạn Majjhimapannãsaka:


Ðức-Thế-Tôn có thuyết cho ông Bà-la-môn đến vấn nạn Ngài như vầy:

Thầy Bà-La-Môn Aggivaccha hỏi Ðức-Thế-Tôn rằng: Vị Tỳ-Khưu đã có tâm hoàn toàn giải thoát rồi, sẽ sanh vào đâu?

- Này thầy Bà-la-môn Vaccha, không nên dùng tiếng sẽ sanh ấy.

- Bạch Ngài Cồ-đàm, nếu vậy thì không có sanh sao?

- Này thầy Bà-la-môn Vaccha, tiếng nói không sanh cũng chẳng nên dùng đối với các vị ấy.

- Bạch Ngài Cồ-Ðàm, nếu vậy thì sanh cũng có, không sanh cũng có?

- Này thầy Bà-la-môn Vaccha, tiếng nói sanh cũng có, không sanh cũng có, cũng chẳng nên dùng.

- Bạch Ngài Cồ-Ðàm, nếu vậy thì sanh cũng không phải, mà không sanh cũng không phải?

- Này thầy Bà-la-môn Vaccha, tiếng nói sanh cũng không phải, mà không sanh cũng không phải thì cũng chẳng nên dùng.

- Bạch Ngài như tôi đã hỏi Ngài rằng: Tâm thầy Tỳ-khưu hoàn toàn giải thoát rồi sẽ sanh vào đâu?

Ngài dạy: này thầy Bà-la-môn Vaccha, không nên dùng tiếng sẽ sanh ấy v.v..

Bạch Ngài, thật tôi không hiểu biết điều này được. Tôi đã đi đến nơi tối mê rồi. Sự trong sạch của tôi từ trước đến nay cũng tiêu mất rồi.

- Này thầy Bà-la-môn Vaccha, sự thật thì thầy không hiểu, thầy sẽ tối mê, vì pháp này là pháp cao siêu vô tận khó cho phàm nhơn thấy và hiểu, pháp này thật là yên tịnh, vi tế, không phải pháp để cho người thông hiểu được, vì phải suy gẫm rất là vi tế, chỉ có bực có rất đầy đủ duyên lành trí tuệ mới thấy và hiểu được.

Pháp này có sự hiểu biết khác nhau của nhiều vị Giáo chủ.


Vậy thì Như Lai hỏi lại thầy, thầy hiểu câu hỏi của Như Lai thế nào thì đáp lại như thế ấy.


Này thầy, Bà-la-môn Vaccha, nếu lửa đang cháy sáng trước mặt thầy thầy có thể thấy biết rằng: lửa đang cháy trước mặt thầy, phải chăng?

- Bạch Ngài Cồ-Ðàm, nếu lửa đang cháy trước mặt tôi, thì tôi sẽ biết lửa ấy đang cháy trước mặt tôi.


- Này thầy Bà-la-môn Vaccha, nếu ai có hỏi thầy như vầy: Lửa đang cháy trước mặt thầy đây, vậy do nhờ nơi một lý do nào mới cháy được. Nếu bị hỏi vậy thì thầy phải trả lời thế nào?

- Bạch Ngài Cồ-Ðàm, nếu có người hỏi tôi: Lửa cháy trước mặt tôi do nơi lý do nào? Tôi sẽ đáp: Lửa cháy trước mặt tôi là do nơi bổi là cỏ và cây.


- Này thầy Bà-la-môn Vaccha, nếu lửa trước mặt thầy lại tắt đi, thì thầy có biết rằng: Lửa trước mặt thầy đã tắt rồi không?
- Bạch Ngài, biết, nếu lửa trước mặt tôi tắt, tôi biết lửa ấy đã tắt?


- Này thầy Bà-la-môn Vaccha, nếu có ai hỏi thầy rằng: Lửa trước mặt thầy đã tắt đi ấy, lửa đó đi về đâu, về hướng Ðông, hay Nam, hoặc là Tây hay là Bắc. Nếu thầy bị hỏi vậy thì thầy phải trả lời cách nào?

- Bạch Ngài Cồ-Ðàm, điều này không thể trả lời được. Vì lửa ấy do nơi bổi là cỏ và cây nên mới cháy được, nhưng khi bổi ấy đã không còn, và lại không có vật gì khác thay vào làm bổi, lửa ấy không thể cháy được; nên phải tắt.


- Này Vaccha, điều này cũng ví như khi đã gọi là chúng sanh, gọi là Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức ấy, Như-Lai đã diệt tận gốc rễ của Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức ấy đã bị đào tận rồi, làm như cây thốt nốt bị chặt cụt ngọn không làm sao sống được nữa.

Như-Lai đã giải thoát khỏi sắc (mà người đời cho là) quí báu. Vì vậy nên không ai có thể ước lượng được, đi đến nơi ấy được, không thấu đáo được.

Cũng như Ðại dương, người có nên nói rằng: sanh cũng có, diệt cũng có, không sanh cũng có, không diệt cũng có, Như-Lai đã diệt tận Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức cũng như cây thốt nốt đã bị đứt ngọn không thể sống được.

Như-Lai đã đi đến nơi hoàn toàn giải thoát là điều mà không ai ước lượng được.


Thầy Bà-la-môn tên Aggavaccha ngộ được Lý-đạo và xin qui y Tam Bảo. Và là người thiện nam thật là thông minh.


Nhắc lại đoạn này để quí vị thấy rằng, Niết Bàn là nơi dụi tắt được tất cả những phiền não, vì vậy nên không thể dùng điều vì để gọi được.

Tìm hiểu Ðạo Phật
Maha Thongkham Medivongs


Còn tiếp...
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland


Quay về Tổng quan về Nam Tông Phật Giáo

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến1 khách

cron