Diễn đàn Tu viện Phật giáo Việt nam


Dịch, giải Kinh Vô Ngã Tướng (Thiện Nhựt)

Các kinh sách mới về Phật Giáo Nguyên Thủy (hệ pali).

Các điều hành viên: Sen Hong, Bất Nhị

Re: Dịch, giải Kinh Vô Ngã Tướng (Thiện Nhựt)

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 6 07 Tháng 3, 2014 5:44 pm

IV.- Hiệu lực của bản Kinh Vô Ngã Tướng và cách Hành trì.

1.- Hiệu lực của Kinh Vô Ngã Tướng.
2.- Hiệu lực đó được cụ thể hóa ra Tâm giải thoát.
3.- Kinh Vô Ngã Tướng bổ túc Kinh Chuyển Pháp Luân.
4.- Cách hành trì Kinh Vô Ngã Tướng.

- về Giới: Chánh ngữ, Chánh mạng, Chánh Nghiệp;
- về Ðịnh: Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh Ðịnh;
- về Huệ: Chánh tri kiến, Chánh tư duy.

5.- Tu tập theo con đường ngắn và nhanh: điều phục các căn.
Trong quyển Phật Pháp Cho Sinh viên, Pháp sư Phật Lệ (Buddhadàsa), người Thái lan, giảng cho sinh viên Thái tại viện Ðại học Thammasat, năm 1966, nơi câu hỏi số 13, có đoạn như sau:

"Ðức Phật cũng có chỉ dạy một con đường tắt. Ngài bảo, khi chúng ta chẳng chụp nắm và bám níu vào sáu căn (àyatanas) cùng các đối tượng liên hệ với chúng, để xem như là tự ngã, thì con đường Bát Chánh Ðạo sẽ tự nó mà tự động khởi lên, dưới đầy đủ tám phương diện. Ðây là một nguyên tắc Giáo Pháp quan trọng và căn bản nhứt.

"Trước nhứt, ta nên nhớ lại: sáu căn là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và tâm thức. Mỗi căn có năm phương diện. Như về mắt, phương diện thứ nhứt là chính con mắt; thứ hai là hình sắc của vật đang có sự tiếp cận với mắt; thứ ba là thức (vinnana) có khả năng làm cho ta nhận thấy được vật đối tượng; thứ tư là tác động của sự xúc chạm (phassa) xảy ra giữa nhãn thức, con mắt và vật đối tượng; và thứ năm là cảm giác (vedana) vui thích hoặc đau đớn có thể khởi lên như kết quả của sự tiếp cận. Ðó là năm phương diện của nhãn căn.

Còn tai, mũi, v.v. mỗi căn cũng có năm phương diện như vậy.
"Mỗi phương diện có tác dụng làm ta trở nên thiếu tỉnh giác và khiến ta cố chụp bắt nó (một phương diện) rồi xem đó như là "Ta". Như thế, chúng ta đã chụp bắt nhãn thức (phương diện thứ ba) làm"Ta", vì nó đã khiến "Ta", qua đôi mắt, đã thấy và biết về đối tượng. Bởi vì chúng ta đã hay biết đến đối tượng ấy, nên chúng ta liền vội kết luận ngay là phải có cái "Ta" để làm cái công việc thấy biết đó.

Cũng theo giống như vậy, chúng ta chụp bắt và bám níu vào mắt và sự tiếp cận (phương diện thứ tư) là cái "Ta" để thấy được, hoặc bám níu vào tương quan giữa ba yếu tố: mắt - tiếp cận - cảm giác (phương diện thứ năm) làm cái "Ta" để biết có được cảm giác vui thích hay đau đớn.

"Ðôi khi một âm thanh du dương đến bên tai, chúng ta liền nắm bắt cái nghe biết có âm điệu ấy làm cái "Ta" đang nghe. Ðôi khi một vị khoái khẩu đến với lưỡi, chúng ta liền bám níu vào sự nếm biết khẩu vị đó làm cái "Ta" đang thưởng thức món ăn.

"Mỗi căn có năm phương diện, tính tổng cộng là ba mươi tất cả. Mỗi phương diện đó đều có thể bị chụp nắm lấy làm cái "Ta" và bám níu mãi vào một cách hết sức dễ dàng, biết bao nhiêu lần trong một ngày.

Vừa chụp bắt và bám níu đó, tức thì đau khổ liền nổi lên ngay. Chúng ta đã lầm lỡ và tự đẩy mình sa vào cái khối khổ đau chằng chịt.
Ðấy chẳng phải là đang đi theo con đường tu hành. Tuy nhiên, Ðức Phật chỉ dạy chúng ta chớ có chụp bắt và bám níu vào sáu căn cùng các đối tượng liên hệ với chúng.

Nhờ luôn luôn canh phòng, chúng ta sẽ chẳng xem bất cứ căn nào, đối tượng nào, làm cái "Ta" cả, và tức thì con đường Bát Chánh Ðạo liền hiện lên rõ ràng với chúng ta, chính vào ngay cùng lúc ấy.

Ngay trong lúc (chẳng bám níu) đó, liền hiển hiện lên chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh mạng, chánh nghiệp, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định.

Thực tập được sự chẳng bám níu vào sáu căn khiến cho con đường Bát Chánh Ðạo đồng thời hiện khởi lên ngay tức khắc. Ðức Phật xem đó là con đường tắt.


"Trong một bản Kinh, Ðức Phật có dạy con đường tắt: sự rỗng vắng (Sunnatà, tánh không). Chẳng bám níu vào mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và tâm thức làm cái "Ta" , sẽ khiến cho con đường Bát Chánh Ðạo khởi lên ngay lúc đó, một cách trọn vẹn.

Nếu chúng ta chẳng quyết định chọn con đường tắt, thì chúng ta nên học tập kỹ lưỡng Con Ðường Bát Chánh Ðạo về giới, định, huệ vậy.
Từ từ tu tập từng bước một, khởi đầu, rồi lần lần tiến xa qua các giai đoạn, như thế ắt phải tốn nhiều thời gian hơn.

"Trong Phật học, chúng ta tìm thấy được một con đường thông thường (Bát Chánh Ðạo) và một con đường thẳng tắt (là nhiếp phục các căn, chẳng chụp nắm và bám níu). "
Trên đây là phần trích dẫn đã khá dài, tuy nhiên tôi lại xin nói rộng thêm một vài nơi để có thể lấy đó làm căn bản cho việc hành trì Kinh Vô Ngã Tướng, bản kinh chánh yếu dạy ta phải dẹp bỏ cái Ta, dứt khoát xa rời hai tà kiến: thân kiến và ngã kiến, vốn là chướng ngại to lớn ngăn hành giả bước chơn vào dòng nước Thánh với quả vị đầu tiên của bực Hiền, Tu-đà-huờn, hay Thất Lai.


6.- Làm thế nào để chẳng chấp thủ (= chẳng chụp nắm và bám víu) vào sáu căn?

Ðức Phật dạy rất rõ ràng và đầy đủ như sau:
"Khi mắt thấy một vật, chỉ thấy vật ấy. Khi tai nghe một tiếng, chỉ nghe tiếng ấy. Khi mữi ngửi một mùi, chỉ ngửi mùi ấy. Khi lưỡi nếm món gì, chỉ nếm món đó. Khi có cảm xúc trên da hay trên thân, chỉ biết đến cảm xúc ấy. Và khi một ý nghĩ khởi lên trong tâm
(=đối tượng tâm linh) như một tư tưởng xấu chẳng hạn, chỉ biết đang có tư tưởng ấy."


Lời dạy của Ðức Phật có nghĩa là: Khi thấy, chỉ thấy; khi nghe, chỉ nghe, ... mà chẳng nên để cho một ý nghĩ nào về cái Ta khởi kèm theo sự thấy, sự nghe, v.v., chẳng nghĩ thêm rằng Ta thấy, Ta nghe. Ðiều nầy có nghĩa là chẳng nên để cho ý tưởng về thân kiến, ngã kiến kịp thời khởi lên khi vừa thấy, vừa nghe đó.

Nếu năng thực tập được như thế, cái Ta, cái Tự ngã chẳng thể nào khởi sanh được; rồi thì sự vắng mặt của cái Ta (Tự ngã) chẳng thể nào đưa đến sự chụp nắm vào "con mắt đang thấy vật", hay "cái tai đang nghe tiếng" và bám níu vào mắt, vào tai đó mà cho là "Ta" đang thấy, hay "Ta" đang nghe được.

Lại xin giải thích rộng thêm chút nữa. "Nhìn thấy một vật qua cặp mắt, chỉ thấy mà thôi," điều nầy có nghĩa là, khi có vật tiếp xúc với mắt, hãy quan sát cùng nhận ra vậy ấy và biết cần phải làm điều gì khi thấy vật ấy. Nhưng đừng để cho thương, thích, hay chê, ghét khởi lên. Nếu để cho thương nổi lên, sẽ ham muốn vật đó.
Nếu để cho ghét khởi lên, sẽ muốn phá hủy vật đó. Như thế là hiện đang có mặt ở đó, cùng với đôi mắt đang thấy vật, cả hai người nữa, người thương và kẻ ghét.

Ðấy là điều được gọi là cái Ta, cái Tự ngã, sanh khởi ra, trong khi chỉ có mỗi một cặp mắt đang nhìn mà thôi. Và hễ để cái Ta sanh khởi lên, tức thì có sự chụp nắm và bám níu vào vật, vào mắt,.. để rồi sớm muộn gì cũng đưa đến đau khổ, hay sự bất như ý.


Làm thế nào mà chẳng cho "cái người thương, kẻ ghét, cái Ta, cái Tự ngã" đó nổi lên trong lúc các căn đang hướng ra cảnh vật ở bên ngoài? Trong tâm đang tỉnh thức, chánh niệm lúc nào cũng sáng tỏ, thì khi nhìn, biết mình đang nhìn, sẽ nhận biết ngay thêm ra có thương, có ghét đến cảnh vật ấy hay không.

Nếu có, chánh niệm sẽ phát giác được và loại bỏ cái Ta vừa chớm nở ngay từ trong trứng nước. Khi nhìn thấy một vật, nghe một tiếng, cần phải có đủ trí thông minh thắp sáng lên chánh niệm, và đừng để cho các ô nhiễm về tình cảm, các cám dỗ của vọng tưởng khuấy động thêm.

Thấy vật, nghe tiếng, liền biết mình cần làm điều gì, thì làm ngay đi; bằng không, hãy quên ngay liền vật, tiếng, ấy. Nhìn thì chỉ thấy; lắng tai thì chỉ nghe, chớ có khai sanh thêm cái người thương, kẻ ghét, để cho cái Ta vụt khởi lên, rồi đau khổ sẽ lần mò đến. Ðấy là một nguyên tắc thực hành Giáo pháp rất gọn, đáng được xem là tuyệt hảo: sự nhiếp phục các căn.


Lại xin phép tán rộng thêm một chút nữa. Trong các loại thực phẩm của con người, ngoài thức ăn vật chất được gọi là đoàn thực (vo tròn thức ăn rồi bốc lên ăn, theo kiểu người Ấn độ, đoàn có nghĩa là tròn tròn),

còn có món xúc thực, thức ăn bằng xúc cảm cho các giác quan,

thức thực, thức ăn bằng sự hay biết cho bát thức (nhứt là ý thức, mạt na thức và tàng thức). Có được nuôi dưỡng đầy đủ với thực phẩm tốt, con người mới có được thân tâm tráng kiện.

Ðối với sắc thân, thực phẩm là các món ăn bổ dưỡng; đối với các căn, thực phẩm chính là các xúc cảm, còn được gọi là xúc thực, và đối với bát thức, thực phẩm chính là các tri giác, các nhận thức, các tư tưởng, nói chung là thức thực.

Nay nếu ta biết điều phục các căn, nuôi dưỡng chúng bằng các xúc cảm đứng đắn, khi thấy chỉ thấy; khi nghe chỉ nghe, chẳng để cho các tình cảm xen vào, thì việc ứng phó với hoàn cảnh bên ngoài sẽ được điều hoà, suông sẻ.
Ðối với các thức, từ nhãn, nhĩ, ... cho đến ý thức, ta chỉ thâu nhận vào các sự hiểu biết đứng đắn về hoàn cảnh chung quanh, chẳng để cho các tà kiến như thân kiến, ngã kiến, cùng các vọng tưởng xen vào, thì tâm thức ta sẽ sớm được thanh tịnh, quân bình và tĩnh lặng.

Còn thức mạt na vốn hay chấp ngã, tạng thức a lại da, vốn là nơi cái Ngã nằm tiềm phục, nếu chẳng được ta nuôi dưỡng hằng ngày với những ý nghĩ, những cố chấp, như "chính Ta thấy, nghe", "chính Ta nghĩ như vậy", "điều nầy Ta nghĩ là đúng nhứt", v.v... thì chẳng bao lâu, bà "Hoàng hậu Mạt na" bị bỏ đói, "Kho tàng A lại da"thiếu tiếp tế sẽ trống vắng lần lần. Ðó là chánh sách "bần cùng hoá" hai thức nầy trong tâm, để lần lần, tự chúng phải cùng với cái Ta, cái Tự ngã, mà rơi rụng, hoặc sớm biến thành Trí, mạt na thức hóa ra Bình đẳng tánh Trí, còn A lại da thức đổi thành Ðại viên cảnh Trí.

Trích dẫn: Lời dịch thuật, giảng giải kinh Vô Ngã Tướng của cư sĩ Thiện Nhựt.(Còn tiếp...)
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Trang trước

Quay về Tổng quan về Nam Tông Phật Giáo

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến1 khách