Diễn đàn Tu viện Phật giáo Việt nam


###19.-Lợi ích bạn đồng tu

Kính mong quý Chư Tôn Đức Tăng, Ni và quý Cư sĩ hoan hỷ viết vài dòng về Phật pháp và Phật học vấn đạo.

Các điều hành viên: Sen Hong, Bất Nhị, Phattutaigia, Nguyên Chiếu

###19.-Lợi ích bạn đồng tu

Gửi bàigửi bởi thichthientri » Thứ 3 07 Tháng 6, 2016 9:49 am

19.- LỢI ÍCH BẠN ĐỒNG TU

(Đã đăng trên báo VÔ ƯU

của GIÁO HỘI PHẬT GIÁO TỈNH DAKLAK)

*

Ăn cơm có canh, tu hành có bạn” là câu nói của người xưa đã để lại. Nó có giá trị ở mọi lúc, mọi nơi và mọi thời đại. Do đó, người tu ở vào thời buổi hiện nay chớ có nên xem thường câu nói đó. Bởi vì, hồi Đức Phật còn tại thế, trong một pháp hội Đức Phật có hỏi các thầy Tỳ Kheo như sau :
“Trong công việc tu hành, nếu như có một người bạn tốt, thì người nầy sẽ giúp cho các Thầy chừng bao nhiêu trên bước đường tiến tu ?
- Có Thầy Tỳ Kheo đáp : “Một phần ba đoạn đường”.
Đức Phật lắc đầu không chấp nhận.
- Một vị Tỳ Kheo khác nói : “Phân nữa con đường tu”.
Đức Phật cũng lắc đầu không chấp nhận.
Một vị Tỳ Kheo khác nói : “Hai phần ba con đường”.
Đức Phật cũng lắc đầu không chấp nhận.
- Cuối cùng có một vị Tỳ Kheo bạch với Đức Phật rằng :
“Theo con, trên bước đường tiến tu, nếu có được một người bạn lành, thì người nầy sẽ giúp cho mình đi đến hết con đường”.
Đức Phật gật đầu và nói : “Đúng vậy”.
Đọc Thiền sử, chúng ta đều biết Thiền sư Trí Tạng (Tây Đường 735 – 814) họ Liệu, quê ở Kiền Hóa, xuất gia lúc 8 tuổi, 25 tuổi thọ giới Cụ Túc. Có ông thầy tướng thấy tướng Sư nói : “Thầy cốt cách phi phàm sẽ làm phụ tá cho vị pháp vương”.
Sư tìm đến tham vấn Thiền sư Mã Tổ, được Mã Tổ chấp nhận chỉ dạy. Sư đồng nhập thất với Thiền sư Hoài Hải (Bá Trượng)… cũng đồng được ấn ký.
Một hôm, Thiền sư Huệ Tạng (Thạch Cũng) cùng với Trí Tạng (Tây Đường) đi dạo chơi. Thiền sư Huệ Tạng hỏi
Trí Tạng : “Sư đệ có biết bắt Hư Không chăng ?
Trí Tạng đáp : “Biết bắt”.
- Làm sao bắt được ?
Trí Tạng lấy tay chụp Hư Không.
Huệ Tạng bảo : “Làm thế ấy đâu bắt được Hư Không”.

-
“Sư huynh làm sao bắt được ?”
Huệ Tạng liền nắm mũi Trí Tạng kéo mạnh.
Trí Tạng đau quá la lên : “Giết chết lỗ mũi người ta ! Buông ngay !”
Huệ Tạng bảo : “Phải làm như thế mới bắt được Hư Không”.
Về chùa, đến khuya Trí Tạng mới nhận ra được ý chỉ đó !
Hai huynh đệ Nham ĐầuTuyết Phong Nghĩa Tồn đi đến Ngao Sơn gặp lúc trời trở tuyết, nên cả hai vào trong cái miếu nhỏ ở tạm. Mỗi ngày Tuyết Phong đều lo ngồi Thiền, còn Nham Đầu thì không ngồi, mà lại còn quở Tuyết Phong tại sao ngồi Thiền mãi vậy.
Tuyết Phong nói : “Tôi thật còn chưa ổn”.
Nham Đầu bảo : “Nếu huynh thật như thế, cứ chỗ thấy của huynh mỗi mỗi thông qua, chỗ phải tôi sẽ chứng minh cho huynh, chỗ chẳng phải tôi sẽ vì huynh đuổi dẹp”.
Tuyết Phong kể lại : “Khi xưa, tôi mới đến chỗ Thiền sư Diêm Quan, thấy Ngài thượng đường nói về nghĩa Sắc Không, ngay đó tôi liền được cửa vào”.
Nham Đầu bảo : “Từ đây đến 30 năm sau rất kỵ không được nói đến”.
Tuyết Phong kể tiếp : “Tôi thấy bài kệ của Ngài Động Sơn khi qua cầu Ngộ Đạo (khi Động Sơn qua cầu, nhìn dưới dòng suối thấy bóng của mình, ngay đó Ngài ngộ liền làm bài kệ :
“Thiết kỵ tùng tha mích
Điều điều dữ ngã sơ
Cừ kiêm chánh thị ngã
Ngã kim bất thị cừ”.
(Theo HT. Thiền sư Thích Thanh Từ, bài kệ nầy có nghĩa là : rất tối kỵ, chẳng tìm nơi khác mà được. Vì nếu tìm nơi khác thì đã cách xa, không phải là mình. Cừ kiêm chánh thị ngã : Nghĩa là (hay là nó) chính là mình. Ngã kim bất thị cừ : là mình thì không phải nó. Bởi vì Ngài Động Sơn đi trên cầu, nhìn dưới suối thấy bóng của mình. Cái bóng thì đâu phải là mình, nhưng nó có rời mình không ? Bởi vậy, nên nói nó cũng chính là mình (Cừ kiêm chánh thị ngã). Nhưng mà mình không phải nó, tức nói mình không phải bóng, Ngài Động Sơn do nhận thấy bóng của mình liền Ngộ Đạo).
Ngài Tuyết Phong nghe thấy được bài kệ nêu trên nên cũng có tỉnh. Bởi tỉnh nên trình với Ngài Nham Đầu, nhưng Ngài Nham Đầu lại bảo rằng : “Nếu chừng ấy tự cứu cũng chưa tột”.
Ngài Tuyết Phong kể thêm : “Một hôm, tôi hỏi Ngài Đức Sơn việc tông thừa con có phần chăng, Ngài Đức Sơn đánh một gậy hỏi tôi nói cái gì ? Tôi khi ấy như thùng lủng đáy”.
Ngài Nham Đầu nạt : “Huynh chẳng nghe thấy từ cửa vào chẳng phải của báu trong nhà sao !?”.
Sau đó Tuyết Phong hỏi thêm : “Về sau làm thế nào mới phải ?”.
Ngài Nham Đầu bảo : “Về sau, muốn xiển dương đại giáo mỗi mỗi từ trong hông ngực lưu xuất, sau nầy cùng ta che trời che đất đi”.
Ngay nơi câu nói nầy, Ngài Tuyết Phong liền được Khai Ngộ, nên nói là Ngộ ĐạoNgao Sơn.
Tóm lại, tu Thiền bắt buộc phải được như thực Kiến Tánh (Giác tự tâm hiện lượng) mới có được lợi ích thiết thực trong việc tu hành. Và để làm cho được công việc nầy, người tu phải có Minh Sư hay Thiện Tri thức hướng dẫn đưa đường chỉ lối cho mới được. Do đó, Trí Tạng (Tây Đường) thì sống y chỉ với Thiền sư Mã Tổ (Đạo Nhất), còn Tuyết Phong thì lặn lội đến học hỏi với Thiền sư Diêm quan và Thiền sư Đức Sơn. Nhưng rốt cuộc, Trí TạngTuyết Phong vẫn chưa thấy hay nhận ra cho được cái “Tâm Thể Vô Niệm” hay cái “Tâm tĩnh lặng mà biết” của chính mình. Nói cách khác, là cả hai người vẫn chưa được như thực Kiến Tánh hay Giác tự tâm hiện lượng. Tại sao ?
Tại vì, người xưa dạy đạo bằng cách đem cái Dụng của tâm ra để chỉ cho người đi học Đạo mà không giải thích. Còn người đi học Đạo, phải biết nương vào cái Dụng đó, để thấy hay thể hội cho được cái thể của Tâm, thì sẽ được Khai Ngộ hay Kiến Tánh. Thế nên, cách thức dạy Đạo của người xưa, chỉ và chỉ có những ai thuộc vào bậc siêu nhân hoặc bậc thượng căn, thượng trí mới có thể lãnh hội nổi mà thôi. Bằng cớ là hồi Đức Phật còn tại thế, trong một pháp hội ở Linh Sơn, Đức Phật cầm cành hoa đưa lên mà không nói một lời làm cho đại chúng ngơ ngác không hiểu ý Đức Thế Tôn ra sao. Trong khi đó, Tôn giả Ma Ha Ca Diếp ngộ được yếu chỉ, hướng về Đức Phật mĩm cười.
Đức Phật liền bảo với đại chúng :
“Ta có pháp môn vi diệu, con mắt của chánh pháp, tâm diệu của Niết Bàn, là tướng thực không tướng; không lập văn tự, truyền ngoài giáo lý, nay giao phó cho Ma Ha Ca diếp”.
Từ đó, Tôn giả Ca Diếp được xem là vị Tổ thứ nhứt của Thiền Tông ở Ấn Độ một cách danh chánh ngôn thuận.
Thế là Chư Tổ trước kia đều dạy Đạo theo kiểu cách đó, nên ít có ai được Kiến Tánh. Cuối đời Đường đầu nhà Tống. Tổ Hoàng Bá đã phải than rằng : “Có Thiền chớ không có Sư”, và pháp Tham Thoại Đầu (không rõ ai là người đã phát minh) mới có cơ hội để phổ biến tràn ngập Thiền lâm thuở đó !.
Chính vì thế cho nên, Trí TạngTuyết Phong phải lâm vào hoàn cảnh chưa được như thực Kiến Tánh. Giả sử, các Ngài không có hai người bạn lành là Huệ TạngNham Đầu nhổ đinh tháo chốt dùm cho, thì liệu các Ngài có hy vọng gì được như thực Kiến Tánh hay Triệt Ngộ không ?
Nhưng, chỗ Ngộ của Ngài Tuyết Phong như thế nào ?
Trước hết, chúng ta nên biết rằng, người xưa dạy Đạo không bao giờ chịu nói huỵch otẹt ra cho người học Đạo dễ hiểu đâu. Cho nên, khi nghe Tuyết Phong hỏi : “Về sau làm thế nào mới phải ?”, thì Ngài Nham Đầu liền bảo rằng :
“Về sau muốn xiển dương Đại giáo mỗi mỗi đều từ trong hông ngực mà lưu xuất, sau nầy sẽ cùng ta che trời che đất đi”.
Qua sự Khai thị của Nham Đầu, chúng ta nên biết rằng : “Muốn xiễn dương Đại giáo mỗi mỗi đều từ trong hông ngực mà lưu xuất” có nghĩa là : Muốn dạy Đạo Nhất Thừa hay Tối Thượng Thừa, người dạy phải có Vô Sư Trí hay Phật Tri Kiến mới có thể dạy người ta được. Mà muố có Vô Sư Trí hay là Phật Tri Kiến (Vô Sư Trí ở trong tâm, thuộc về Vũ Trụ Tri Giác), người tu phải nắm bắt Thiền hoặc là dừng bặt (ngừng dứt) cho được Vọng tưởng Tạp niệm ở trong Tâm Linh. Vì Đức Phật có dạy như sau :
1)- “Có Thiền Trí Tuệ sanh,
Không Thiền Trí Tuệ diệt.
Hai nẽo sanh diệt ấy nếu biết,
Hãy nỗ lực viên thành Trí Tuệ”.
2)- “Lạ thay ! Lạ thay ! Tất cả chúng sanh đều có đầy đủ đức tướng trí tuệ Như Lai. Nhưng vì Vọng tưởng trói buộc, nên không chứng được. Nếu lìa Vọng tưởng, thì Vô Sư Trí, Tự Nhiên Trí và các năng lực to lớn khác sẽ hiện bày, tha hồ mà lấy dùng”.
Nhưng như thế nào là Thiền ?
Đức Lục Tổ nói : “Sáu căn tiếp xúc với sáu trần mà không dính mắc và không kẹt nơi cảnh thuận hay cảnh nghịch là Thiền”. Còn Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tôn, sơ tổ phái Trúc Lâm Yên Tử thì nói : “Đối cảnh vô tâm, chớ có hỏi Thiền”.
Như vậy, Vô Tâm hay Vô Niệm là : Thiền. Thiền là một vật báu vô giá ở bờ bên kia (Bờ Giác) thuộc về Vũ Trụ Tri giác (Vũ Trụ Tuyệt Đối). Chớ không phải là thứ Thiền : Tịnh Lự và Tư Duy Tu ở bên nây (Bờ mê) thuộc về Vũ Trụ Cảm Giác (Vũ Trụ Tương Đối, Vũ Trụ Vật Chất) mà người ta thường hay nói đến đâu. Nếu như không khéo hiểu biết, sai hào ly đất trời ngăn cách đấy.
Tóm lại, muốn được Vô Sư Trí (Phật Tri Kiến) hay muốn được Khai Ngộ hay Kiến Tánh, chúng ta phải có Thiền hoặc phải dừng bặt hay Lìa cho được Vọng tưởng Tạp niệm ở trong Tâm Linh, thì lúc bấy giờ chúng ta mới có hy vọng được toại nguyện. Bởi vì, khi có Thiền hay dừng bặt được Vọng tưởng Tạp niệm, thì chúng ta đã mở ra được Cánh Cửa giải Thoát, đã qua được Bờ Giác, đã tiến nhập vào được Vũ Trụ Tuyệt Đối (Vũ Trụ Tri giác, Vũ Trụ Phi
Vật Chất, Tổng Cơ Quan áo Bí Của Vũ Trụ)
, và đã được tiếp cận hay giáp mặt với Ông Phật của chính mình rồi vậy.
Chúng ta có thấy được chỗ Ngộ của Ngài Tuyết Phong chưa ? Nếu chưa, chúng ta phải dừng bặt (ngừng dứt) cho được những thứ “Tự Ngôn Tự Ngữ”, “Tự Nói Tự Rằng” (Vọng tưởng Tạp niệm) ở trong Tâm Linh từ 5 phút trở lên cho đến một tiếng đồng hồ, thì lúc bấy giờ chúng ta sẽ được như thực thấy biết Ngài Tuyết Phong được Ngộ ĐạoNgộ cái gì.
Nhưng làm thế nào để dừng bặt (ngừng dứt) cho được những thứ “Tâm Ngữ” không hình tướng khõ khống chế ở trong Tâm Linh ?
Chỉ có Nhiếp Hóa Pháp hay Diệu Pháp Giải Thoát mới có thể giúp cho chúng ta làm được công việc đó, để cho Quý Vị được Khai Ngộ hay Kiến Tánh mà thôi !
Lẽ dĩ nhiên, đã có nhiều người nhờ Diệu Pháp nầy mà thấy được cái Bản Lai Diện Mục của chính mình một cách dễ dàng. Nên người viết hy vọng và ước mong người tu Thiền ở vào thời buổi hiện nay nên đặc biệt lưu ý. Nếu như không khéo hiểu biết trong việc chọn lấy pháp tu để tu tập, thì nhất định sẽ mất thời giờ, tốn công nhọc sức vô ích mà thôi.
Sau hết, chúng ta hãy nghe Tổ Hoàng Bá nói :
Vượt khỏi trần lao việc chẳng thường,
Đầu dây nắm chặt giữ lập trường.
Cũng phải mấy phen xương lạnh buốt,
Hoa mai đâu dễ ngữi mùi hương.

***

Thiền sư Thích Thanh Phước
thichthientri
Cảm ơn, Thành viên Moderator (Xin thông báo BQT)
 
Bài viết: 157
Ngày tham gia: Thứ 2 09 Tháng 4, 2012 2:17 am

Quay về Phật học vấn đạo

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến2 khách

cron