Diễn đàn Tu viện Phật giáo Việt nam


###14.-Tam pháp ấn

Kính mong quý Chư Tôn Đức Tăng, Ni và quý Cư sĩ hoan hỷ viết vài dòng về Phật pháp và Phật học vấn đạo.

Các điều hành viên: Sen Hong, Bất Nhị, Phattutaigia, Nguyên Chiếu

###14.-Tam pháp ấn

Gửi bàigửi bởi thichthientri » Thứ 3 01 Tháng 12, 2015 4:23 am


14.- TAM PHÁP ẤN


(Đã đăng trên báo VÔ ƯU
của GIÁO HỘI PHẬT GIÁO TỈNH DAKLAK)

TAM PHÁP ẤN CỦA NHÀ PHẬT LÀ:
CHƯ HẠNH VÔ THƯỜNG,
CHƯ PHÁP VÔ NGÃ
VÀ NIẾT BÀN TỊCH TĨNH.

I.- CHƯ HẠNH VÔ THƯỜNG

Chư hạnh hay chư hành vô thường có nghĩa là tất cả mọi hiện tượng (mọi sự vật) mà mắt chúng ta có thể thấy, tay chúng ta có thể sờ đều là vô thường cả. Thí dụ như cái bình trà là một hạnh. Vì cái bình trà nầy do đất, nước, gió, lửa, người thợ, thời gian, không gian tổ hợp lại mà thành, cho nên nó là một hạnh. Cái bông hoa kia cũng là một hạnh, tại vì trong cái hoa đó có đám mây, có mặt trời, có đất, có nước, những điều kiện phối hợp lại làm ra bông hoa.

Bình trà và bông hoa là hai hạnh thuộc về sắc, về vật chất. Nhưng, cơn giận hoặc những nổi buồn của mình cũng là những hạnh, chúng cũng vô thường. Giận và buồn gọi là tâm hạnh hay tâm hành.

Tóm lại, các sự vật ở trên thế gian nầy đều thoáng qua như khói mây bay trước mắt, bổng chốc mất đi. Người tu nào cũng có thể biết được điều nầy, nhưng người thể hội sâu sắc (biết tận bản chất) thì chẳng được bao nhiêu.

II.- CHƯ PHÁP VÔ NGÃ

Chư pháp vô ngã nghĩa là các pháp không có tự thể. Chữ ngã, nghĩa là tự thể; các pháp là chỉ cho tất cả sự vật ở trên thế gian nầy, cả thảy đều do đủ nhân đủ duyên hợp lại mà thành, bản thân nó không có cái gì gọi là “tự thể” được.

Chúng tôi đều biết, núi Côn Lôn cực kỳ hùng vĩ, cao ngất trời xanh, nhưng tự thể của nó vẫn là “không”. Bởi vì nó do những thứ như đất, đá và cây cối hợp lại mà có, nếu loại bỏ tất cả những thứ đó ra, thì không thể tồn tại được ngọn núi to lớn nầy. Huống hồ gì những thứ nhỏ nhoi yếu đuối khác.

Biển Thái bình mênh mông không bờ bến, sóng cả ba đào, che phủ trời trăng. Cái vĩ đại ấy, cũng là do tất cả nước của những con sông lớn nhỏ khắp nơi trên trái đất chảy ra thành biển. Nếu loại bỏ số nước của những con sông nầy, chắc chắn biển Thái bình sẽ khô cạn, nó sẽ bị xóa tên trên bản đồ thế giới ngay.

Hai sự vật to lớn đó đại biểu cho toàn thể sự vật trên thế gian nầy, tự thể của chúng đã là KHÔNG, thì những sự vật khác có thể nào vượt ra khỏi tính chất ấy chăng?

Do vây, nên trong kinh Kim Cang có nói: “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng” (phàm cái gì có hình tướng đều là giả dối không thật). Hoặc nói:

Nhứt thiết hữu vi pháp
Như mộng, huyễn, bào, ảnh
Như lộ diệc như điện
Ưng tác như thị quán

DỊCH:

Tất cả pháp hữu vi
Như mộng huyễn, bọt, bóng
Như sương cũng như điện
Nên quán sát như thế.

Thế nhưng, biết là một việc, còn khi chạm cảnh mà không mê muội lại là một việc khác. Đó là người tu chúng ta phải nên đặc biệt để ý đến. Bởi vì, Thiền sư Đàm Thanh Minh Chánh (Thiền sư Việt Nam) có cảnh giác người tu chúng ta như sau:

“Công danh cái thế màn sương sớm,
Phú quí kinh nhân giấc mộng dài.
Chẳng biết bản lai vô nhất vật,
Công phu luống uổng một đời ai.”

III.- NIẾT BÀN TỊCH TĨNH

Niết Bàn (Nirvăna) là tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là: Diệt, bất sanh bất diệt hay viên tịch.

- Diệt là chỉ cho tất cả những thứ “Tự Ngôn Tự Ngữ” (Vọng tưởng tạp niệm) ở trong tâm linh bị tiêu diệt hoàn toàn.

- Bất sanh bất diệt là chỉ cho sau khi áp dụng một phương pháp đặc thù nào đó để thể nhập vào một thế giới chẳng sinh chẳng diệt khác hẳn với thế giới còn sinh diệt.

- Viên tịch: Ngũ trụ ­(*)­ hay Vô Minh Trụ Địa Phiền Não đã sạch hết, nên gọi là “viên”, và hai cái chết (nhị tử) của những kẻ phàm phu và bậc thánh nhân là: “Phân đoạn sanh tử” “Biến dịch sanh tử” đã được vĩnh viễn xa lìa nên gọi là “TỊCH”.

Người tu Thiền thời nay nên biết:

1.- Thế giới có sinh có diệt được gọi là Vũ Trụ Tương Đối, Vũ Trụ Cảm giác, Vũ Trụ Vật chất. Còn thế giới chẳng sinh chẳng diệt thì được gọi là Vũ Trụ tuyệt Đối, Vũ trụ tri Giác, Vũ Trụ Phi Vật Chất hay Tổng Cơ Quan Áo bí Của Vũ Trụ.

Phật học gọi thế giới chẳng sanh chẳng diệt là Niết Bàn, Chân Như, Chân Tâm, Phật Tánh, Pháp Thân, Pháp Giới Tánh, Ông Chủ, Bản Lai diện Mục, Vô Sư Trí và Phật Tri Kiến…

2.- Phân đoạn sanh tử gồm có 3 thứ: Thời gian phân đoạn, Không gian phân đoạn và Thân thể phân đoạn.

a).- Thời gian phân đoạn: chỉ ra kiếp trước, kiếp hiện tại và kiếp sau.

b).- Không gian phân đoạn: Tức kiếp trước sanh tại Trung Quốc, kiếp nầy ở Việt Nam và kiếp sau tại Hoa Kỳ.

c).- Thân thể phân đoạn: Kiếp trước là con voi lớn, kiếp nầy là thân gái, kiếp sau là con trai.

Các vị thánh như: A La Hán, Bích Chi Phật và Bồ Tát đều là những người đã đoạn được thân phân đoạn sinh tử, nên các Ngài được giải thoát từng phần và an trụ vào cảnh giới Hữu dư niết bàn.

3.- Biến dịch sanh tử (­**)­ là tâm pháp gồm có: Quá khứ niệm, hiện tại niệm, vị lai niệm, niệm niệm thiên lưu, bất đoạn biến dịch.

Nếu người tu chúng ta đem “biến dịch sinh tử” hay những thứ “Tự Ngôn Tự Ngữ” ở trong tâm linh tiêu diệt cho sạch, thì “phân đoạn sinh tử” cũng theo đó mà tiêu vong. Thế là người tu chúng ta được đại tự tại và giải thoát lớn, đắc đạo quả Vô Thượng Bồ Đề (thành Phật) và an trụ vào cảnh giới Vô Dư Niết Bàn. Vì trước khi nhập diệt, Đức Phật có dạy rằng:

“Chư hạnh vô thường
Thị sanh diệt pháp
Sanh diệt diệt dĩ
Tịch diệt vi lạc.

DỊCH:

“Các hạnh vô thường
Là pháp sanh diệt
Sanh diệt diệt rồi
Tịch diệt là vui”.

Nhưng như trên có nói, để thể nhập vào thế giới chẳng sinh chắng diệt (Vũ Trụ Tri Giác hay Niết Bàn) để người tu thiền cần phải có một phương pháp đặc biệt nào đó để hạ thủ công phu, hoặc là phải thể hội hay nắm bắt cho được Thiền (­***) mà Đức Phật và chư Tổ chỉ dạy thì lúc bấy giờ mưới có hy vọng được “Kiến Tánh Thành Phật”.

(Chú ý:Thiền tịnh lự và tư duy tu của ngoại đạo không có đủ khả năng làm được việc nầy).

Thiền Sư Thích Thanh Phước
-------------------------

Chú thích: (­*) Ngũ Trụ: gồm có 5 thứ:

1.- Kiến nhứt thiết trụ địa phiền não: tức là tất cả kiến giải mê lầm của tam giới (Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới).

2.- Dục ái trụ địa phiền não: tức là những tư tưởng mê lầm của Dục giới; trong tư tưởng mê lầm, nặng nhất là cái lỗi “tham ái”, nên đề ra cái chánh để bao gồm tất cả phiền não khác.

3.- Sắc ái trụ địa phiền não: tức tất cả mê lầm của Sắc giới.

4.- Hữu ái trụ địa phiền não: là tất cả tư tưởng mê lầm của Vô sắc giới. Vô sắc giới dù chẳng có sắc thân, nhưng còn chấp A LẠI DA THỨC làm ngã, còn ngã là còn có ÁI, nên gọi là “hữu ái”.

5.- Vô minh trụ địa phiền não: gọi tắt là “Ngũ Trụ”. Nói trụ địa vì năm pháp nầy là chỗ sanh khởi tất cả tội lỗi, cũng là chỗ dựa căn bản của hằng hà sa số phiền não.

(­**) ­Biến dịch sanh tử: là sự sanh tử của bậc Thánh đã chứng quả tam thừa, như bỏ A LA HÁN biến BÍCH CHI PHẬT, bỏ BÍCH CHI PHẬT biến BỒ TÁT SƠ ĐỊA, bỏ BỒ TÁT SƠ ĐỊA biến BỒ TÁT NHỊ ĐỊA…

(­***Thiền)­: Sáu căn không dính mắc với sáu trần và không kẹt nơi cảnh thuận hay cảnh nghịch là Thiền (Kinh Pháp Bảo Đàn).

Sơ Tổ Phái Trúc Lâm Yên Tử nói: “Đối cảnh vô tâm chớ có hỏi Thiền”. Do đó, chúng ta có thể nói Vô Tâm hay Vô Niệm là Thiền.
thichthientri
Cảm ơn, Thành viên Moderator (Xin thông báo BQT)
 
Bài viết: 157
Ngày tham gia: Thứ 2 09 Tháng 4, 2012 2:17 am

Quay về Phật học vấn đạo

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến1 khách

cron