Diễn đàn Tu viện Phật giáo Việt nam


###12.-Diệu pháp tiến vào vũ trụ tuyệt đối

Kính mong quý Chư Tôn Đức Tăng, Ni và quý Cư sĩ hoan hỷ viết vài dòng về Phật pháp và Phật học vấn đạo.

Các điều hành viên: Sen Hong, Bất Nhị, Phattutaigia, Nguyên Chiếu

###12.-Diệu pháp tiến vào vũ trụ tuyệt đối

Gửi bàigửi bởi thichthientri » Thứ 5 01 Tháng 10, 2015 5:18 am

12.-DIỆU PHÁP TIẾN VÀO VŨ TRỤ TUYỆT ĐỐI
(Đã đăng trên báo TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU PHẬT HỌC
của TRUNG ƯƠNG GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM)

Đến đây, chúng tôi xin được giới thiệu một diệu pháp đặc biệt, để quí vị thoát ra khỏi Vũ Trụ Tương Đối (vũ trụ cảm giác), hầu chứng vào Vũ Trụ Tuyệt Đối, giải trừ tất cả khốn khổ và tai nạn cho chúng sinh.

Diệu pháp đó như thế nào, mà có thể giúp chúng ta có được Trí năng và Lực năng một cách không gì sánh kịp, mà tùy ý muốn vận dụng lúc nào cũng được?

Vũ trụ tuyệt đối (Vũ trụ tri giác) vốn sẵn có trong Tâm linh, nhưng do Vọng tưởng tạp niệm ngăn biết, che lấp đi. Phương pháp duy nhất là phải tiêu diệt sạch sẽ những Vọng tưởng tạp niệm (tự ngôn tự ngữ) trong Tâm linh, khiến cho cái tâm điên đảo (cuồng tâm) phải dừng bặt. Dĩ nhiên phương pháp hay nhất là: thu hút trọn vẹn tất cả những Vọng tưởng tạp niệm trong tâm linh, sau đó từng bước tiêu diệt nó. Những pháp trước đây, chỉ dùng cách quét trừ tạp niệm (tự ngôn tự ngữ), phạm vào sai lầm về kỹ thuật nên không có kết quả. Quí vị có lẽ sẽ tự hỏi pháp gì lạ quá, vọng tưởng tạp niệm đã không hình tướng, lại không biết vị trí chính xác, làm thế nào để thu hút chúng? Quả đúng như thế ! Xưa nay những vị hạ thủ công phu để diệt vọng tưởng tạp niệm đã không chịu đi sâu vào trong tâm, chỉ “Tu tâm ở ngoài tâm”, nên tu mấy mươi năm mà chẳng được gì là phải rồi !

Bây giờ chúng tôi giới thiệu phương pháp chính xác như sau:

- Những người mới bắt đầu, tốt hơn hết là dùng tư thế tĩnh tọa (ngồi thiền) của Phật giáo, giúp cho tâm linh dễ an định hơn. Đành rằng, tu Định chẳng phải chỉ có duy nhất tư thế ngồi, mà cả đi, đứng, nằm, ngồi bốn tư thế uy nghi lớn nầy đều có thể dùng được cả. Nhưng đó là cách dụng công của người đã thuần thành, còn người mới bắt đầu vẫn chọn dùng tư thế “Tĩnh tọa” là hay nhất.

Tư thế ngồi: đầu phải ngay, vai phải bằng, thân mình phải thẳng, ngồi kiểu kiết già, bán già hay xếp bằng trên bồ đoàn đều tốt cả, miễn dựa theo nguyên tắc ngồi được lâu và thư thái là tốt, áo quần mặc không quá chật, gây sức ép cho thân tâm. Những thứ phụ tùng như: mắt kính, vòng đeo tay, đồng hồ, dây chuyền v.v… nếu cảm thấy có chứng ngại thì nên tháo gỡ cất đi, sao cho thân tâm đừng bị một thứ gì trói buộc mới dụng công dễ dàng. Nhắm hai mắt vừa kín một cách tự nhiên. Có truyền thống cho rằng: “mở mắt dễ tán loạn, nhắm mắt hay hôn trầm, nên dùng phương pháp trung đạo là mở 1/3 mắt”. Hoặc là: “Mắt nhìn mũi, mũi nhìn tâm v.v…”. Đó là phép dạy đạo sai lầm, vì làm thế sẽ mất đi sự thích hợp tự nhiên và dễ bị phân tâm. Phải biết rõ điề nầy nữa, muốn xem xét sự diễn biến của sự vật bên ngoài, thì phải dùng “con mắt thịt” (nhục nhãn), còn muốn tìm kiếm cái ảo bí của Vũ Trụ Tuyệt Đối, mà không dùng “con mắt tâm” (tâm nhãn), thì không bao giờ đạt được kết quả tốt.

1.-PHÁP NHIẾP NIỆM
(Gom muôn niệm làm thành một niệm)

Nếu quí vị là tín đồ Phật giáo thì mặc niệm trong tâm Hồng Danh Đức Phật A Di Đà (hoặc bất cứ Phật hiệu khác), mỗi chữ khoảng một giây đồng hồ. Dùng câu Thánh hiệu nầy để vừa thế chỗ cho những thứ Tự Ngôn Tự Ngữ (tạp niệm), vừa thu hút chúng gom lại. Một mặt tâm niệm, một mặt chú ý vào trong thân xem coi “Điểm Niệm Phật” ở chỗ nào? Phải như mèo rình bắt chuột luôn chú ý hết sức kỹ lưỡng, không lơ là gián đoạn vừa mặ niệm vừa chú ý, vừa chú ý vừa mặc niệm, không bao lâu sẽ được ý giải tâm khai (tâm mở ra, ý được cởi trói) thường được an lạc.

Trường hợp không phát hiện được “Điểm niệm Phật” là vì công phu chưa sâu, hoặc sức chú ý còn yếu. Cứ tiếp tục dụng công, thời gian sau nước tâm lắng trong sẽ nhận thấy nó. Cần chú ý lúc mới đầu dụng công, tạp niệm như gió dữ mưa cuồng, trong tâm dầy đặc mây đen che phủ. Song qua thời gian niệm Phật liên tục sẽ tẩy rửa bớt dần tạp niệm. Trung bình khoảng hơn tháng sau, tạp niệm chỉ còn như làn khói nhẹ hay đám mây mỏng hơi hiện ra chút ánh sáng, khi đó tâm linh đã bắt đầu mở sáng rồi đó.

Trong lúc mặc niệm, không được quán tưởng bất cứ cái gì như: tướng mạo, công hạnh, sự vĩ đại của Ngài v.v… chỉ giữ cho mặc niệm không gián đoạn là vọng tưởng tạp niệm sẽ vắng bóng dần.

Không được mặc niệm nhanh hay chậm quá. Chậm thì bị tạp niệm chen vào, nhanh quá thì sức hút không mạnh, thu gom không hết tạp niệm. Lúc đầu thời gian dụng công một lần không quá 30 phút, tổng số thời gian dụng công các lần trong một ngày không ít hơn 2 giờ, nhưng không quá 3 giờ. Thời gian và địa điểm dụng công không câu chấp: ngồi trên xe, trên tàu hoặc ở phòng làm việc v.v… đều được, miễn thời gian đừng quá ít.

Điều quan trọng là người dụng công chú ý đến phản ứng của Thân và Tâm để kịp thời giải quyết thỏa đáng. Cần phải “không mau không chậm, có làm có nghỉ, bám chặt không boe dở”, nhất định ai cũng sẽ thành công.

II.- PHÁP HÓA NIỆM
(Hóa một niệm thành Vô Niệm)
Thực nhành Pháp Nhiếp Niệm một thời gian, lâu hay mau tùy người, người dụng công sẽ cảm thấy không muốn Mặc Niệm danh hiệu Phật nữa, hoặc khi niệm cảm thấy vất vả, thì chuyển sang dùng Pháp Hóa Niệm.

Pháp Nhiếp Niệm đã dùng câu Thánh hiệu để thu hút tẩy rửa, tiêu diệt những Tạp niệm để chỉ còn một “câu Thánh hiệu mà thôi”. Nhưng tâm linh của chúng ta cũng giống như tròng con mắt, không chấp nhận một cái gì tồn đọng, dù quí như vàng ngọc, vẫn phải mau mau mà bỏ mới yên. Vì vậy, một niệm “câu Thánh hiệu” dù rất quí hiếm, vẫn phải bỏ đi mới vào được cảnh viên tịch (tròn lặng), nhà Phật gọi đó là “Chứng Niết Bàn”.

Có người hiểu lầm rằng, chỉ có thể Niết Bàn sau khi chết. Kẻ phàm phu tục tử (người tầm thường) khi chết, chỉ là kết thúc sinh hoạt của thân, chứ tâm linh của họ vẫn còn vọng tưởng tạp niệm rối ren, không có cách nào thoát khỏi sự ràng buộc của tạp niệm vọng tưởng. Chúng không thể chết mất theo thân được.

Tạp niệm (vọng tưởng) chính là Nghiệp Lực, là Vô Minh, là động cơ dẫn chúng ta vào (vòng luân hồi) biển khổ mênh mông. Còn nghiệp lực là còn đi đầu thai, vì mình không thể hoàn toàn làm chủ mình được, tiến vào tử cung của một bà mẹ mới. Sau gần 10 tháng, lìa khỏi bụng mẹ để bắt đầu sinh mệnh của giai đoạn kế tiếp.

Nhân đây, trước khi đi vào Pháp Hóa Niệm, chúng ta cũng cần nên mổ xẻ thật kỹ vấn đề tạp niệm (tức Nghiệp) cho thật sáng tỏ để quí vị khỏi còn thắc mắc hay nghi ngờ.

Có số người đặt vấn đề: “Những tạp niệm đã có từ lâu trong tâm linh, đâu thấy có tai hại gì so với những tế bào gây bệnh ung thư trong thân thể, sẽ chết không cứu được, cái nào nghiêm trọng hơn?”.

Đối với người bình thường, tâm linh có vọng tưởng tạp niệm quả là không đáng lưu ý, vì nó đã có mặt từ lúc lọt lòng mẹ đến nay, chưa từng gián đoạn, vẫn chưa từng thấy nó gây tai họa gì. Còn nếu chẳng may trong thân có những tế bào ung thư, bản thân và cả gia đình người đó đều buồn rầu, sợ hãi, than khóc. Sở dĩ có cảnh đó là vì con người đã bị những Thác giác (hiểu biết sai lầm) tạo nên từ khi mới sinh, không phân biệt đúng cái nào thực, cái nào giả, nặng nhẹ lộn lạo nhau. Thực ra, cái Ta chân chính là Tâm linh mà con mắt thịt không nhìn thấy được, còn tấm thân vật chất nầy chỉ là công cụ của Ta, mắt thịt dễ nhìn thấy. Trong thời gian khoảng 200 năm, mỗi con người được ít nhất là ba cái thân. Dù thân có to nhỏ, lớn bé như thế nào, đem so với cả dòng sinh mệnh thì có thể nói nó chỉ là giọt nước bé tí xíu trong biển cả mênh mông, không có gì đáng kể.

Không thể chỉ vài ba câu mà đủ sức phá tan đám mây mờ nầy của loài người, vì gốc rễ thác giác nầy quá sâu dầy, bám chắc Vô minh, khó lòng tỉnh ngộ. Nhưng trong thiên hạ không hiếm gì những việc lạ thường, giúp cho những người chết đi sống lại có kinh nghiệm thân chứng về cái chết, hiểu rõ đoạn đạo lý nầy. Nếu quí vị muốn biết rõ và kỹ hơn, xin vui lòng xem quyển “LIFE AFTER LIFE” (Đời sống sau cái chết) của Dr RAYMOND AMOODY, qua sự đúc kết hết sức khách quan và khoa học trong quyển sách nầy, quí vị có đủ tư liệu để xác minh.

Mấy hôm trước đây, có một thanh niên đầu óc tỉnh táo, nói với tôi: “Rất nhiều người hết sức mơ hồ về bản thân mình”. Cùng với câu nói nầy, mấy năm trước tại Hội Phật Học Trung Hoa ở thành phố SYDNEY, tôi cũng đã có nghe một thanh niên khác bảo: “Phật giáo nhất định có những phương pháp tu rất tốt, nhưng đã bị thất truyền. Đâu phải cứu kính chỉ có bằng nầy !”. Đủ thấy là “Hậu Sinh Khả Úy” rồi.

Đừng nói ở thời điểm hiện tại mà nhìn, một cái thân đang bị bệnh Nan Y thì quả là đại bất hạnh. Nhìn nếu nhìn suốt cả dòng sinh mệnh từ vô thủy đến nay, nó chẳng có gì đáng bận tâm. Hơn nữa, cái quả bệnh nan y của thân cũng là do nhân bệnh của tâm tạo nên mới phát tác ra, đâu phải tự nhiên mà thân mắc bệnh. Nếu như tâm linh trong lặng (thanh tịnh), mạnh khỏe, hết sạch các thứ vọng tưởng tạp niệm quấy nhiễu, thì dù thân có bị tác động lây nhiễm các bệnh từ bên ngoài vẫn có thể dùng thuốc chữa trị lành mạnh được, không thể gọi là Nan Y.

Vọng tưởng tạp niệm là loài kiến bò trong Tâm linh, thực sự nguy hiểm gấp vạn lần toàn thân bị kiến bâu cắn. Nhưng thử hỏi có mấy ai tỉnh ngộ được điều nầy?

Nay muốn trừ sạch những con kiến bò trong Tâm linh nầy, dù chỉ còn một con, chúng ta cũng phải dùng đến Pháp Hóa Niệm theo trình tự sau đây của một trong những pháp nầy:

1.- Trước hết, phải thật biết rằng, thân thể của chúng ta là do máu thịt làm thành, trong đó phải tuyệt đối im lặng (tĩnh chỉ) vì nó thuần vật chất. Trong đó, không thể có những thứ Tự Ngôn Tự Ngữ (tạp niệm) không hình không tiếng nầy được; cũng không thể nào có cái “Hình nhi thượng” là điểm niệm Phật đang hoạt động. Nếu thông suốt và nhớ kỹ được cái “Quan Niệm Về thân Xác” (Khu xác quan niệm) nầy, ta sẽ được một lợi ích vô cùng hiệu quả cho việc tiêu diệt vọng tưởng tạp niệm. Và đây là điều cực kỳ quan trọng không thể thiếu.

Trong khi chúng ta nhắm mắt lại và dùng tâm nhãn chú ý quan sát trong thân, phát hiện ra đáng lẽ ở đấyp phải tuyệt đối im lặng, nhưng sao lại có những thứ Tự Ngôn Tự Ngữ (hay Điểm Niệm Phật) nầy, liền cảm thấy kỳ quái. Những thứ đó, bất kể là cái gì, đều không thể có, thế mà tại sao hiện lại có, quả không thể nghĩ bàn! Lúc ấy, trong tâm linh sinh ra Kỳ Tình (trước gọi là Nghi Tình), ngay lúc ấy, Tâm linh liền vào trạng thái Vô Niệm. Dù chỉ Vô Niệm trong khoảng thời gian là 1 phút hoặc 2 phút cũng đã quí hiếm lắm rồi.

Quí vị cứ tiếp tục công phu để đạt số thời gian Vô Niệm tăng thêm sẽ nối liền được những điểm vô niệm, thành đường thẳng, mặt phẳng và khối thể Cô Niệm. Lúc bấy giờ, trong cả đi, đứng, nằm, ngồi, tâm linh đều yên tĩnh như nước ngừng chảy. Từ đó trở đi, dù có khởi tâm phát niệm để xử lý công việc, thì tất cả niệm đó chỉ là Linh Cảm, phát mà không động, tâm linh vẫn không bị quấy nhiễu: Quí vị đã chứng vào Vũ Trụ Tuyệt Đối rồi đó.

2.- Nhắm mắt chú ý vào trong thân, xem những tạp niệm nầy đang lăng xăng nói cái gì? Nó đang mắng chửi người khác, ta cũng nhại theo nó mắng chửi, nó ca hát ta cũng nhại theo ca hát v.v… Chỉ cần theo nó vài ba câu như thế, tâm linh bèn yên tĩnh xuống, không còn lăng xăng lộn xộn nữa: Bạn đã Ngộ được Pháp Thân thanh tịnh.

3.- Phải nhớ thật kỹ: thân thể làm từ máu thịt giống như gỗ đá một thứ, trong đó phải tuyệt đối im lặng hoàn toàn, không khả năng có một cái gì khuấy động. Nhắm mắt lại tìm xem trong đó hiện đang nói cái gì? Nếu phát hiện thấy có một cái gì đang làm ồn, liền cảm thấy lạ lùng. Trong thân tại sao lại có và cần có những thứ nầy chăng? Đang lúc chúng ta cảm thấy “chẳng thể có mà có” bỗng sinh ra thú vị, tạp niệm tự động bị diệt hết, Chân Như hiện ra.

4.- Nếu phát hiện có trong Tâm linh, như làn khói nhẹ, lớp sương mỏng, mà nó cứ bay qua lướt lại chẳng tan mắt hết. Dùng 3 cách trên vẫn không kết quả, thay đổi dùng pháp Nhiếp Niệm trở lại, hoặc niệm Phật hiệu để thu hút, gột rửa và sau đó dùng pháp Hóa Niệm trở lại.

5.- Khi biết rõ trong tâm không còn chút tạp niệm gì, chân thường sáng rỡ, thì “Bất Cứ Phương Pháp Nào” đều phải dừng lại, không dùng nữa để Tâm Linh ngừng nghĩ tự nhiên. Lúc ấy đừng khởi tâm mong muốn Vô Niệm dài lâu hơn. Nếu công phu chưa đủ sức, chỉ ít phút sau là tạp niệm lại tái khởi. Quí vị cứ cố gắng dụng công thêm cũng như cày cấy thêm nhiều, kết quả được mùa càng lớn.

Thời gian tức Trí Năng, một phần cày cấy, thì thu hoạch một phần, ai cũng biết: “dây kéo mãi, gỗ phải đứt, nước chảy luôn đá bị xuyên” (thằng cứ mộc đoạn, thủy trích thạch xuyên).

Nếu đã có phương pháp chính xác rồi, thì thời gian là điều kiện quan trọng bậc nhất dẫn đến kết quả. Đây là pháp môn hết sức thù thắng, vi diệu, như hoa ngàn năm mới nở một lần, xin quí vị lưu tâm thực hành cho tốt.

Để dễ nhớ, chúng tôi tóm tắt lại công thức như sau:

Kiến phần (sức chú ý, tâm nhãn) + Tướng phần (tự ngôn tự ngữ, điểm niệm Phật) + Quan niệm về thân xác (tuyệt đối im lặng) = Kỳ tình (thú cảm).

nKỳ tình (Điểm Vô Niệm) + nthời gian (cần thiết) = Tâm linh chính thường (mở ra Tổng cơ quan áo bí của vũ trụ).

Ghi chú: Thay vì hướng ra bên ngoài, bây giờ sự chú ý hướng vào bên trong tâm (thân), vì độ xoay lại quá lớn: 180 độ, cho nên có thể có 2 thứ phản ứng. Đó là: phản ứng của Thân và phản ứng của Tâm.

1.- Phản ứng của Thân: là khi tĩnh tọa, có thể thân hành giả bị dao động, nghiêng qua ngã lại hay lắc lư; đừng sợ hãi, cứ tiếp tục dụng công: Có nhiều người nhờ việc nầy mà trị được bệnh Nan Y. Còn như thấy đau đầu, nhức răng hoặc đau buốt ở ngực, khi dụng công, thì hành giả nên tạm nghĩ vài ngày, khỏi cần đi thầy uống thuốc gì cả, nếu thấy hết đau tiếp tục dụng công.

2.- Phản ứng của Tâm: gồm 2 loại Thác giác và Huyễn giác.

a).- Thác giác: như nhìn sợi dây mà thấy là con rắn, phiến đá mà tưởng con cọp, khúc cây mà thấy như người nào đứng đó v.v… Nghĩa là có một sự vật, một vật, chúng ta nương vào sự vật đó để mà thấy, nhưng thấy không chính xác nên gọi là Thác giác.

b).- Huyễn giác: như thấy chiêm bao, hào quang, rồng hút nước, mùi hương thơm, Phật và Bồ Tát… giáng lâm, đừng thèm để ý đến, vì lẽ những thứ đó toàn là huyễn giác (từ không ra có). Kinh Kim Cang nói: “phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng”.

III.- CÂU HỎI VÀ TRẢ LỜI CỦA CHƯ TỔ VÀ CÁC THIỀN SƯ

1.- Hỏi: Đồ tể thì có nghiệp sát sinh, Cư sĩ thì còn có nghiệp dâm dục, làm sao mà “Kiến tính thành Phật” được?
Tổ Bồ Đề Đạt Ma đáp: Ở đây không luận đến nghiệp sát, nghiệp dâm gì cả, mà chỉ luận việc kiến tính, một khi được kiến tính rồi thì nghiệp sát, nghiệp dâm tự dưng rỗng lặng.

2.- Hỏi: Giáo pháp tối thượng thừa mà Hòa thượng giảng nói đây là để cho người xuất gia tu tập, vậy chúng con đều là những cư sĩ có tu tập được không?
Đức Lục Tổ Huệ Năng đáp: Ở đây không nói Tăng hay tục gì cả, mà chỉ nói đến việc kiến tính mà thôi. Hễ ai được “như thực kiến tính” là được.

3.- Hỏi: Như thế nào là pháp môn Đốn ngộ của Đại thừa?
Tổ Bá Trượng Hoài Hải đáp: Tâm địa nhược không, tuệ nhật tự chiếu (Đát tâm nếu không, mặt trời trí tuệ tự chiếu).

4.- Hỏi:Phải tu pháp gì chóng được giải thoát?
Thiền sư Huệ Hải đáp: Chỉ có một môn Đốn ngộ là chóng được giải thoát.

Thế nào là đốn ngộ?
Đốn là chóng trừ vọng niệm. Ngộ là ngộ không chỗ được.

Từ cái gì mà tu?
Từ căn bản mà tu.

Thế nào là từ căn bản mà tu?
Tâm là căn bản.

Làm sao biết tâm là căn bản?

Kinh Lăng Già nói: “Tâm sinh thì các pháp sinh, tâm diệt thì các pháp diệt”. Kinh Duy Ma nói: “Muốn được Tịnh độ, phải tịnh tâm ấy, tùy tâm ấy tịnh là Phật độ tịnh”. Lại nữa kinh nói: “Thánh nhân cầu tâm chẳng cầu Phật, trí nhân điiều tâm chẳng điều thân, ngu nhân điều thân chẳng điều tâm”. Kinh Tịnh Danh nói: “Tội từ tâm sanh lại từ tâm diệt”. Thế nên biết, tất cả thiện ác đề do tâm mình, do đó nên nói: “Tâm là căn bản”.

5.- Hỏi: Tu căn bản (tu tâm) phải lấy pháp gì để tu?
Đáp: Chỉ tọa thiền, Thiền Định là được. Kinh Thiền Môn nói: “Cầu trí thánh của Phật, cốt phải Thiền Định. Nếu không Thiền Định, thì niệm tưởng (vọng niệm) xao động, phá hoại căn lành kia”.

6.- Hỏi: Thế nào là Thiền? Sao là Định?
Đáp: Vọng niệm chẳng sinh (vô niệm) là Thiền. Ngồi thấy bản tính là Định. Bản tính là tâm vô sinh (tâm linh vô niệm) của ông vậy. Định là đối cảnh tâm không sinh, tám gió thổi chẳng động. Tám gió là tài (tài lợi), suy (suy hao), hủy (hủy nhục), dự (đề cao), xưng (khen ngợi),(chê bai, khổ (đau khổ), lạc (vui vẻ). Nếu người được Định như thế, tuy là phàm phu mà liền vào vị Phật. Người được như thế gọi là giải thoát, cũng gọi là đến bờ kia, hơn Lục độ, vượt khỏi tam giới, là Bổ Tát đại lực, là bậc tôn vô lượng lực, là đại trượng phu.
***
---Tâm trụ chỗ nào là trụ?
---Tâm trụ chỗ không trụ là trụ.

---Thế nào là chỗ không trụ?
---Chẳng trụ tất cả chỗ, ấy là trụ chỗ không trụ.
---Thế nào là chẳng trụ tất cả chỗ?

---Chẳng trụ tất cả chỗ là: chẳng trụ nơi lành dữ, có không, trong ngoài, chẳng giữa, chẳng trụ không, chẳng trụ định cũng chẳng trụ chẳng định. Chỉ cái chẳng trụ tất cả chỗ, ấy là chỗ trụ. Người được như thế, gọi là tâm không trụ. Tâm không trụ là tâm Phật.

---Tâm ấy giống vật gì?
---Tâm ấy chẳng phải xanh, vàng, đỏ, trắng, chẳng phải dài, ngắn, tới, lui, chẳng nhơ, chẳng sạch, chẳng sinh, chẳng diệt, yên tịnh thường lặng lẽ. Đó là hình tướng của bản tâm, cũng là bản thân. Bản thân là thân Phật.

---Thân tâm nầy lấy cái gì để thấy? Lấy mắt thấy, lấy tai, mũi và thân tâm v.v… để thấy chăng?
--Cái thấy nầy không phải như các thứ thấy đó.

---Đã không như các thứ thấy đó, là lấy cái gì thấy?
---Là tự tính thấy! Vì sao? Vì tự tính (tính của mình) xưa nay trong sạch yên tịnh không lặng, chính trong cái thể không lặng ấy hay sinh cái thấy nầy.

---Cái thể không lặng ấy còn không thể có, thì cái thấy nầy từ đâu mà có?
---Ví như trong cái gương sáng tuy không có hình tượng, mà có thể thấy tất cả hình tượng. Vì sao? Vì gương sáng không tâm. Người học Đạo nếu tâm không có chỗ nhiễm, vọng tâm chẳng sinh, tâm ngã sở (tâm chấp mình và sự vật của mình) diệt, tự nhiên được không lặng, vì không lặng hay sinh cái thấy nầy.
Kinh Pháp Cú nói: “Trong cái cứu kính không rõ ràng dựng lập, ấy là Thiện Tri Thức”

---Kinh Niết Bàn trong phẩm Kim Cang Thân nói: “Không thể thấy mà thấy rõ ràng, không có biết mà không chẳng biết” là thế nào?
---Không thể thấy, vì cái thể của tự tính không hình tướng, không thể có, nên nói: “không thể thấy”, song cái thấy không thể được đó, thể nó yên tịnh lặng lẽ, không tới lui, chẳng lìa dòng đời, mà dòng đời không lôi cuốn được nó, thản nhiên tự tại, tức là thấy rõ ràng.
Không có biết vì tự tính không hình vốn không phân biệt, nên nói “không có biết”. Không chẳng biết vì trong cái thể không phân biệt ấy đầy đủ hằng sa diệu dụng. Nếu cần phân biệt tất cả, thì không việc gì chẳng biết, nên nói “không chẳng biết”. Kệ Bát Nhã nói: “Bát Nhã không biết, không việc gì chẳng biết (Bát Nhã vô tri, vô sở bất tri); Bát Nhã không thấy, không chỗ nào chẳng thấy”.

---Kinh nói: “Chẳng thấy cái có không là chân giải thoát”. Thế nào là chẳng thấy có không?”.
---Khi chứng tâm thanh tịnh gọi là có, trong đó chẳng sinh cái tưởng được tâm thanh tịnh, gọi là chẳng thấy có. Được cái không sinh không trụ, mà không khởi tưởng được không sinh không trụ, gọi là chẳng thấy không.
Kinh Lăng Nghiêm nói: “Biết thấy lập biết là gốc vô minh, biết thấy không thấy, đây là Niết Bàn (Tri kiến lập tri tức vô minh bản, tri kiến vô kiến, tư tức Niết Bàn)”, cũng gọi là giải thoát.
***

7.-Hỏi: Vô niệm thì pháp có, không chăng?
Thiền sư Thần Hội (Hà Trạch) đáp:
---Chẳng có chẳng không?

---Khi ấy thế nào?
---Cũng không khi ấy, ví như gương sáng nếu không đối hình tượng trọn không thấy hình tượng, nếu thấy không vật mới là thấy gương thật. (Chú ý: Hành giả nên đặc biệt lưu ý câu nói nầy).

***
8.-Hỏi: Người được đốn ngộ có tu chăng?
Thiền sư Linh HỰU (Qui Sơn) đáp: Nếu người thật ngộ được gốc thì họ tự biết, tu cùng không tu là lời nói hai đầu. Như nay có người sơ tâm tuy từ duyên được một niệm đốn ngộ chân lý nơi mình, nhưng vẫn còn tập khí (thói quen) nhiều kiếp từ vô thỉ chưa có thể chóng sạch, nên dạy hắn trừ sạch dòng thức tạo nghiệp hiện tại, tức là tu vậy. Không nói có một pháp riêng dạy hắn tu hành thú hướng. Từ nghe nhập được lý, nghe và lý sâu mầu, tâm tự tròn sáng không ở chỗ mê lầm, hiện thời dù có trăm ngàn diệu nghĩa thăng trầm, hắn vẫn được ngồi yên mặc áo, tự biết tạo sinh kế. Nói tóm lại, “chỗ lý chân thật không nhận một mảy bụi, trong cửa muôn hạnh chẳng bỏ một pháp” (Thực tế lý địa bất thọ nhất trần, vạn hạnh môn trung bất xả nhất pháp). Nếu được như vậy là một mình cầm đao thẳng vào, lòng phàm thánh sạch, hiện bày chân thường, lý sự không hai, tức Phật như như.
***
9.- Hỏi: Sao là phương tiện?
Thiền sư Hoàng Biện đáp: Phương tiện là ẩn che tướng thật, là cửa khéo léo tạm thời để giáo hóa bậc trung, hạ căn, chiều uốn dẫn dụ họ gọi là phương tiện. Dù bậc thượng căn nói bỏ phương tiện chỉ nói đạo vô thượng, đây cũng gọi là nói phương tiện. Cho đến Tổ sư dùng lời huyền diệu quên công bặt lời, cũng không ngời dấu vết phương tiện.

10.- Hỏi: Tổ sư đã khế hội tâm ấn, kinh Kim Cang nói “không có pháp sở đắc” là sao?
Thiền sư Hoằng Biện đáp: Phương pháp giáo hóa của Phật thật không có một pháp cho người. Chỉ vì dạy cho mọi người, mỗi người đều có một kho pháp bảo. Chính khi Phật Nhiên Đăng ấn chứng cho Phật Thích Ca không có sở đắc mới khế hội bản ý của Phật Nhiên Đăng. Cho nên kinh nói: “Không ngã, không nhân, không chúng sinh, không thọ giả, pháp ấy bình đẳng, tu tất cả pháp lành mà chẳng trụ nơi tướng”.

11.- Hỏi: Thiền sư đã hội ý Tổ, lại có lễ Phật tụng kinh chăng? Và sao là đốn ngộ, sao là tiệm tu?
Thiền sư Hoăng Biện đáp:
A.- Sa môn thích tử lễ Phật tụng kinh là pháp thường của trụ trì, có bốn quả báo vậy. Song y Phật giới để tu thân, tìm học với các bậc Thiện tri thức để tập tu hạnh thanh bạch, bước theo dấu Như Lai đã đi.
B.- Chóng thấy tự tính cùng Phật đồng bậc, song còn có tập nhiễm từ vô thỉ nên mượn tiệm tu để đối trị, khiến theo tính khở dụng. Như người ăn cơm không thể một miếng được no.
***
12.- Hỏi: Con chó có Phật tính không?
Thiền sư Tùng Thẩm (Triệu Châu) đáp:
---Có.

---Đã có Phật tính vì sao chui vào đãy da?
---Vì biết cố phạm.
***
13.- Hỏi: Như thế nào là chân Phật, chân Pháp, chân Đạo xin thầy chỉ dạy?
Thiền sư Nghĩa Huyền khai Tổ Tông Lâm Tế đáp: Phật là tâm thanh tịnh, Pháp là tâm sáng suốt, Đạo là chỗ không ngại. Tịnh, sáng… tuy ba mà một, đều là danh từ suông không thật có. Người chân chính đạo nhân niệm niệm tâm không gián đoạn. Đại sư Đạt Ma từ phương Tây đến, chỉ tìm cái người chẳng bị người gạt. Nhị tổ một câu nói liền liễu ngộ, mới biết từ trước uổng dụng công phu. Hiện nay sơn tăng chỗ thấy cùng Phật Tổ không khác. Nếu trong đệ nhất cú tiến được, kham cùng Phật Tổ làm thầy. Nếu trong đệ nhị cú tiến được kham cùng trời người làm thầy. Nếu trong đệ tam cú tiến được, tự cứu chẳng xong.

14.- Hỏi: Thế nào là Phật, là Ma?
Thiền sư Nhĩa Huyền đáp: Người vừa khởi được một niệm tâm nghi ấy là ma. Nếu người đạt được muôn pháp không sinh, tâm như huyễn hóa, không có một hạt bụi, một pháp, ngay đó liền thanh tịnh là Phật. Song, Phật và Ma là hai cảnh nhiễm tịnh. Nếu chỗ thấy của sơn tăng, không Phật, không chúng sinh, không xưa không nay, được liền đó được, chẳng trải qua thời tiết, không tu, không chứng, không được không mất, trong tất cả thời lại không có một pháp riêng. Dù là một pháp vượt hơn cái nầy, ta nói như mộng như hóa.

Sơn tăng nói ra đều phải, hiện nay trước mắt đạo lưu riêng sáng rỡ lắng nghe. Người nầy nơi nơi chẳng kẹt, thấu suốt mười phương, tự tại trong tam giới, vào tất cả cảnh sai biệt không thể lôi kéo, trong khoảng sát na (1/90 giây) vào tột pháp giới, gặp Phật nói Phật, gặp Tổ nói Tổ, gặp La Hán nói La Hán, gặp ngạ quỷ nói ngạ quỷ, đi tất cả chỗ, dạo các cõi nước, giáo hóa chúng sinh, mà chưa từng lìa một niệm, tùy chỗ thanh tịnh, ánh sáng thấu mười phương, muôn pháp nhất như. Đạo Lưu! Kẻ đại trượng phu hiện đây mới biết xưa nay vô sự. Chỉ vì các người chẳng tin đến, niệm niệm tìm cầu, bỏ đầu tìm đầu, tự không thể thôi, như các vị Bồ Tát viên đốn mà vào trong pháp giới hiện thân. Nhằm trong tịnh độ chán phàm mến thánh, bọn người như thế chưa quên bỏ lấy, tâm nhiễm tịnh vẫn còn. Kiến giải Thiền tông chẳng phải như vậy, thẳng trong hiện tại lại không thời tiết.

Sơn tăng nói ra đều là một lúc thuốc bệnh trị nhau, trọn không có pháp thật. Nếu thấy được như vậy là người chân xuất gia, mỗi ngày tiêu muôn lượng vàng cũng được.

Đạo lưu! Chớ chấp lấy, sẽ bị các bậc Lão Sư đập cửa mặt. Nói rằng ta hiểu thiền hiểu đạo, biện luận thao thao như nước chảy, đều là người tạo nghiệp địa ngục. Nếu là người chân chính học đạo, chẳng tìm lỗi của thế gian, cấp bách cầu “kiến giải chân chính”, mới mong tròn sáng xong xuôi.

---Như thế nào là kiến giải chân chính?
---Ngươi chỉ tất cả vào phàm vào thánh, vào nhiễm vào tịnh, vào cõi nước chư Phật, vào lầu các Đức Di Lặc, vào pháp giới Tỳ Lô Giá Na, chỗ chỗ đều hiện, cõi nước thành, trụ, hoại, không, Phật ra đời chuyển đại pháp luân lại nhập Niết Bàn, chẳng thấy có tướng đi lại, tìm cái sinh tử của Ngài trong không thể được, liền vào pháp giới vô sinh; nơi nơi dạo qua các cõi nước, vào thế giới Hoa tạng, trọn thấy các pháp không tướng, đều không thật pháp, chỉ có Đạo Nhân vô y (không chỗ nương) sinh. Nếu ngộ vô y (không chỗ nương), Phật cũng không thể được. Nếu người nào thấy được như thế, là kiến giải chân chính.

Người học không hiểu chấp danh cú, bị danh phàm thánh làm ngại. Do đó, chướng ngại đạo nhãn không được phân minh. Mười hai phần giáo nói ra cốt hiển bày lẽ nầy. Học giả không hội, bèn nhắm trên danh cú sinh hiểu biết, đều là nương tựa tại nơi nhân quả, chưa khỏi sinh tử trong tam giới.

Ai muốn trong sinh tử đi đứng tự do, tới lui tự tại thì hiện nay nên biết người nghe pháp nầy (cái Biết). Y không hình tướng, không cội, không gốc, không chỗ ở, mà hoạt bát rõ ràng, ứng hiện muôn thứ hành động, chỗ dùng chỉ là không chỗ. Bởi đó, càng tìm càng xa, cầu đó thì trái, gọi là bí mật!.

Đạo lưu! Các người chớ nhận lấy kẻ bạn mộng huyễn (thân tứ đại), trong khoảng sớm chiều sẽ trở về vô thường. Các người đến trong thế giới nầy tìm vật gì làm giải thoát? Tìm lấy một bửa cơm mà ăn, mặc áo vá qua ngày, chỉ cốt phỏng tìm tri thức. Chớ đuổi theo thú vui, ngày giờ đáng tiếc, niệm niệm vô thường, nếu thô thì bị bốn thứ đất nước gió lửa ép ngặt, tế thì bị sinh trụ dị diệt bức bách.

Đạo lưu! Thời nay cần biết bốn cảnh vô tướng, mới khỏi bị cảnh lôi kéo.

---Thế nào là bốn cảnh vô tướng?
---Các người một niệm tâm Nghi bị đất làm ngại. Các người một niệm tâm Ái bị nước nhấn chìm. Các người một niệm tâm Sân bị lửa đốt cháy. Các người một niệm tâm Hỷ bị gió thổi bay. Nếu khéo biện được như thế chẳng bị cảnh chuyển. Nơi nơi dùng được cảnh, vọt bên đông lặn bên tây, vọt bên nam lặn bên bắc, vọt ở giữa lặn ở bên, vọt ở bên lặn ở giữa, đi trên nước như đất, đi trên đất như nước. Bởi sao được như vậy? Vì bốn đại như mộng huyễn.

Đạo lưu! Các người hiện nay nên biết nghe pháp, chẳng phải tứ đại của các ngươi, cái Biết ấy hay dùng được tứ đại. Nếu khéo thấy được như thế, là đi đứng tự do. Chỗ thấy của Sơn tăng chẳng ngờ pháp ấy. Các ngươi nếu mến Thánh thì, Thánh chỉ là tên Thánh. Có một nhóm người học đạo nhắm trong Ngũ Đài Sơn, tìm Văn Thù, trọn đã lầm vậy. Trong Ngũ Đài Sơn không có Văn Thù. Các ngươi muốn biết Văn Thù chăng? Chỉ cái dùng trước mắt các ngươi trước sau chẳng khác, nơi nơi chẳng nghi, cái ấy là Văn Thù sống. Các ngươi một tâm niệm sáng không sai biệt, nơi nơi thảy là chân Phổ Hiền. Các ngươi một tâm niệm tự hay mở trói, tùy chỗ giải thoát, đây là Quán Thế Âm. Ba pháp lẫn nhau làm chủ bạn, ra thời đồng thời ra, một tức ba, ba tức một. Hiểu được như thế, mới nên xem kinh.

---Ý Tổ sư từ phương Tây sang thế nào?
---Nếu có ý tự cứu chẳng xong.

---Đã không ý làm sao Nhị tổ được pháp?
---Được đó là chẳng được.

---Nếu đã chẳng được, thế nào là ý chẳng được?
---Vì nhằm tất cả chỗ tìm kiếm tâm không thể thôi.

Do đó, Tổ Sư nói: “Dốt thay! Đại trượng phu đem đầu tìm đầu”. Ngươi ngay lời nói nầy liền tự hồi quag phản chiếu, chẳng cầu cái gì khác, biết thân tâm cùng Phật Tổ chẳng khác, liền đó vô sự mới gọi là được pháp. Đại đức! Sơn tăng hôm nay sự bất đắc dĩ nói ra khá nhiều điều vụng về. Các ngươi chớ nhận lầm. Theo chỗ thấy của Sơn tăng, thật không chấp nhận các thứ đạo lý nhiều như thế, cần dùng liền dùng, chẳng dùng liền thôi. Các nơi nói Lục độ vạn hạnh cho là Phật pháp. Sơn tăng nói đó là cửa trang nghiêm, cửa Phật sự, chẳng phải là Phật pháp. Cho đến trì trai giữ giới như bưng đầu chẳng nghêng, nếu đạo nhãn chẳng sáng trọn có ngày phải đền lại nợ cơm tiền. Vì sao như thế? Vì học đạo chẳng thông lý, đem thân đền tín thí, trưởng giả tuổi tám mươi mốt, cây kia chẳng sinh nhỉ. Nhẫn đến ở trên chót núi, một ngày ăn một bửa, thường ngồi chẳng nằm, sáu thời hành đạo, vẫn là người tạo nghiệp. Hoặc đem đầu mắt tủy não, vợ con đất nước, voi ngựa bảy báu hoàn toàn thí xả; hành động như thế đều là làm khổ thân tâm, lại chuốc quả khổ. Đâu bằng vô sự thuần nhất không tạp. Những hàng Bồ Tát thập Địa mãn tâm muốn tìm dấu vết của vị nầy trọn không thể được. Do đó, chư Thiên vui mừng, Địa Thần nâng chân, chư Phật mười phương thảy đều khen ngượi. Bởi sao như thế? Vì đạo nhân hiện nghe pháp, chỗ dùng không dấu vết vậy.

***
Thiền sư Thích Thanh Phước
thichthientri
Cảm ơn, Thành viên Moderator (Xin thông báo BQT)
 
Bài viết: 157
Ngày tham gia: Thứ 2 09 Tháng 4, 2012 2:17 am

Quay về Phật học vấn đạo

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến2 khách

cron