Bạn đang xem trang 1 / 1 trang

###08.-Ý nghĩa của bức tường Plank

Gửi bàiĐã gửi: Chủ nhật 21 Tháng 6, 2015 10:07 am
gửi bởi thichthientri
08.-Ý NGHĨA CỦA BỨC TƯỜNG PLANK
(Đã đăng trên báo TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU PHẬT HỌC
của TRUNG ƯƠNG GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM)

Bức tường PLANK là tên của đường ranh giới ngăn cách Vũ Trụ Vật Chất (Vũ Trụ Tương Đối, Vũ Trụ Cảm giác) và Vũ Trụ Phi Vật Chất (Vũ Trụ Tuyệt Đối, Vũ Trụ Tri giác, Tổng Cơ Quan áo Bí Của Vũ Trụ) do các nhà khoa học đặt ra.

Năm 1967, Tiến sĩ ANDRY DMITRI EVICH SKAROV cha đẻ của trái bom khinh khí (H.bomb) Liên Xô cũ, đã long trọng tuyên bố với thế giới rằng:

“Vũ Trụ Vật Chất (Vũ Trụ Cảm Giác) do Vũ Trụ Phi Vật chất (Vũ Trụ Tri giác) sinh ra. Vũ Trụ Phi Vật Chất là cái có trước, còn Vũ Trụ Vật Chất là cái có sau”.

Ngày 20.3.1983, tiến sĩ LÝ CHÁNH ĐẠO (NOBEL Vật Lý) đã trả lời câu hỏi của ông HOÀNG THIÊN TÀI, đặc phái viên tại Nhật của tờ Trung Ương Nhật Báo, tại phi trường NARITA (Thành Điền) Nhật Bản như sau:

“Mục tiêu của các nhà khoa học mũi nhọn hiện nay, là tìm cho ra TỔNG CƠ QUAN ÁO BÍ CỦA VŨ TRỤ. Nếu tìm được Tổng Cơ Quan nầy rồi, có thể giải thích được tất cả những sự việc thần bí ảo diệu mà khoa học hiện nay chưa giải thích được… Cũng giống như muốn trị nạ lục do hai con sông Hoàng Hà, Trường Giang gây ra, không thể giải thích ngay tại khu vực bị lụt, mà phải theo dòng sông, phăng tìm đến nơi phát nguyên là THANH HẢI mới xử lý vấn đề một cách trọn vẹn”.

Nhưng, mãi cho tới ngày hôm nay các nhà khoa học vẫn chưa vượt qua được bức tường PLANK để được tiếp cận hay giáp mặt với cái Tổng Cơ Quan Áo Bí Của Vũ Trụ (Vũ Trụ Phi Vật Chất, Vũ Trụ Tri Giác). Đó là điều mà những người tu Thiền ở vào thời buổi hiện nay nên đặc biệt lưu ý. Tại sao?

Tại vì, muốn được Kiến Tính hay Ngộ Đạo, người tu Thiền chúng ta cũng phải tiếp cận vào Vũ Trụ Tri Giác (Tổng Cơ Quan Áo Bí Của Vũ Trụ) mới có hy vọng thành công.

Là người tu theo Phật, chắc hẳn mọi người đều biết:
1.-Vũ Trụ Cảm Giác hay Vũ Trụ Tương Đối hoặc Vũ Trụ Vật Chất thuộc về thế gian ở bờ bên nầy (Bờ mê) và gồm có Tam giới: Dục giới, Sắc giới và Vô sắC giới. Và Tham thuộc về cõi Dục, Sân thuộc cõi Sắc, Si thuộc về cõi Vô sắc.

Nếu như muốn thoát ra khỏi nhà lửa (Tam giới) để được giải thoát từng phần tức là đắc đạo quả A La Hán hay Bích Chi Phật hoặc Bồ Tát, các bạn phải tiêu diệt cho kỳ được Tham Sân Si cũng như những thứ phiền não trong Tam giới, mà Phật gọi là: “Kiến nhất thiết trụ địa phiền não”.

2.-Vũ Trụ Tri Giác hay Vũ Trụ Tuyệt Đối, Vũ Trụ Phi Vật Chất và Tông Cơ Quan áo Bí Của Vũ Trụ thì lại ở bờ bên kia (Bờ Giác) thuộc về xuất thế gian, Phật học gọi là: Chân Như, Chân Tâm, Phật tính, Pháp Thân, Niết Bàn, Ông chủ, Bản Lai Diện Mục, Thiền,Đạo, Vô Sư Trí, Phật Tri Kiến…

3.-Vũ Trụ Cảm Giác tuy có muôn màu ngàn vẻ, thiên sai ngàn biệt và to lớn vô cùng. Nhưng nếu đem so sánh với Vũ Trụ Tri Giác, thì vũ Trụ Cảm Giác chỉ là chỉ là hòn bọt nhỏ bé ở trong cái biển lớn Vũ Trụ Tri giác hay biển lớn chân Như mà thôi!

Nhưng Vũ Trụ Tri giác hay chân Như là gì và ở đâu?

Kinh nói: “Nhất thiết chúng sinh giai hữu Phật Tính” (Tất cả chúng sinh đều có Phật Tính). Do đó, chúng ta có thể nói, cái
Vũ Trụ Tri giác hay Chân Như hoặc Phật Tính ở ngay trong cái thân ngũ uẩn hay cái đãy da thối của chúng ta, chứ không phải ở trên trời xanh mây trắng hay trên nóc nhà của “Ngọc Hoàng Thượng Đế”. Do đó, nếu muốn thể hội hay thấy hoặc nhận ra cho được cái vật báu vô giá đó, các bạn phải đặc biệt chú ý và luôn luôn ghi nhớ lời dặn dưới đây của ĐỨC THẾ TÔN thì sẽ thấy được lối vào:

1.-“Biết được nơi nào có giếng nước là một việc. Còn việc đi đến đó (giếng nước) dùng cách thức nào như: gàu, dây hoặc thùng để lấy nước từ dưới giếng lên để dùng lại là một việc khác”.

2.-Có Thiền trí tuệ sanh,
Không Thiền trí tuệ diệt.
Hai nẽo sinh diệt ấy nếu biết,
Hãy nổ lực viên thành trí tuệ.

Và để kiểm nghiệm lại coi người xưa được Ngộ Đạo hay Kiến Tính như thế nào, xin mời các bạn đặc biệt chú ý đến bốn trường hợp mà người xưa đã được Khai Ngộ như dưới đây:

1.-SỰ NGỘ ĐẠO CỦA TỨ TỔ (ĐẠO TÍN):
Tứ Tổ (Đạo Tín) bạch với Tam Tổ (Tăng Xán) rằng:
“Kính xin Hòa Thượng ban cho con Pháp Giải Thoát”.
Tam Tổ liền hỏi: “Ai Trói buộc ngươi?”
Tứ Tổ thưa: “Không có ai trói buộc con cả”.
Tam Tổ nói: “Đã không có ai trói buộc, thì cầu Pháp Giải Thoát để làm gì?”.
Thế là Tứ Tổ liền được Kiến Tính hay Ngộ Đạo.

2.-SỰ NGỘ ĐẠO CỦA THIỀN SƯ HUỆ HẢI (ĐẠI CHÂU):
Sư đến tham vấn Mã Tổ (Đạo Nhất).
Mã Tổ hỏi: “Từ đâu đến?”
Sư thưa: “Ở Việt Châu chùa Đại Vân đến”.
Mã Tổ lại hỏi: “Đến đây tính cầu việc gì?”
Sư thưa: “Đến cầu Phật pháp”.
Mã Tổ liền nói: “Kho báu nhà mình chẳng chịu đoái hoài, bỏ nhà chạy đi tìm cái gì? Ta trong ấy không có một vật, cầu Phật pháp cái gì?”
Sư lễ bái thưa: “Cái gì là kho báu nhà mình của Huệ Hải?”.
Mã Tổ nói: “Chính nay ngươi hỏi ta, là kho báu của ngươi, đầy đủ tất cả không thiếu thốn, tự do sử dụng, đâu nhờ tìm cầu bên ngoài”.
Ngay câu nói nầy, Sư tự nhận bản tâm không do hiểu biết, vui mừng lễ tạ. Sư ở hầu Mã Tổ sáu năm.

Sau đó, vì bổn sư tuổi già, Sư phải về phụng dưỡng. Từ đây Sư tàng ẩn chỗ thâm ngộ của mình, chỉ hiện bề ngoài như kẻ tầm thường. Sư có soạn quyển “Đốn ngộ nhập đạo yếu môn luận”, bị Huyền Ấn là cháu trong pháp môn lén lấy đem trình Mã Tổ. Mã Tổ xem xong bảo chúng: “Việt Châu có Đại Châu (hạt châu lớn) tròn sáng thấu suốt, tự tại không ngại”. (Ấn chứng là như thế đấy).

SỰ NGỘ ĐẠO CỦA THIỀN SƯ SÙNG TÍN (LONG ĐÀM)
Sư nguyên là con nhà bán bánh. Nhà Sư ở đầu đường vào chùa Thiên Vương, nên ngày nào Sư cũng đem 10 cái bánh cúng dàng cho Thiền sư Đạo Ngộ, Đạo Ngộ nhận ăn xong, thường để lại một cái, bảo: “Ta cho ngươi để ân huệ cho con cháu”.
Một hôm, Sư tự nghĩ: “Bánh là ta đêm đến, cớ sao Hòa thượng lại cho ngược lại ta? Biết đâu không có ý chỉ”. Sư bèn hỏi Đạo Ngộ, Đạo Ngộ bảo: “Bánh của ngươi đem đến, ta cho lại ngươi có lỗi gì?”. Sư nghe lời nầy hiểu thâm ý liền xin xuất gia.
Đạo Ngộ bảo: “Ngươi trước sùng phúc thiện, nay tin lời ta, có thể gọi là Sùng Tín”.
Từ đây, Sư hầu hạ bên thầy.
Một hôm, Sư thưa: “Từ ngày con vào đây đến giờ, chưa được thầy chỉ dạy tâm yếu”.
Đạo Ngộ bảo: “Từ ngày ngươi vào đây, ta chưa từng chẳng chỉ dạy tâm yếu”.
__MCE_ITEM__- “Chỉ dạy chỗ nào?”.
__MCE_ITEM__- “Ngươi dâng trà lên, ta vì ngươi mà tiếp. Ngươi bưng cơm đến, ta vì ngươi mà nhận. Ngươi xá lui ra, thì ta gật đầu. Chỗ nào chẳng chỉ dạy tâm yếu?”.
Sư cúi đầu lặng thinh giây lâu.
Đạo Ngộ bảo: “Thấy thì thẳng đó liền thấy, suy nghĩ liền sai”. (ít có ai vượt qua cửa ải nầy – tác giả).
Ngay câu nói đó, Sư liền được Khai Ngộ (Kiến Tính). Lại hỏi thêm: “Làm sao gìn giữ?”.
-“Mặc tình tiêu dao, tùy duyên phóng khoáng, chỉ hết tâm phàm, chẳng có thánh giải khác”.
Sau Sư đến Lễ Dương và dừng trụ tại Long Đàm.

4.-SỰ NGỘ ĐẠO CỦA THIỀN SƯ NGHĨA TỒN (TUYẾT PHONG)
SƯ cùng Nham Đầu đi đến Ngao Sơn ở Lễ Châu gặp lúc tuyết xuống nhiều quá nên cả hai phải vào một cái miếu nhỏ ở tạm. Nham Đầu mỗi ngày cứ ngủ. Sư một bề ngồi thiền. Một hôm, Sư gọi: “Sư huynh! Sư huyng! Hãy dậy”.
Nham Đầu hỏi: “Làm cái gì?”.
Sư nói: “Đời nầy chẳng giải quyết xong, lão Văn Thúy hành cước đi đến nơi đến chốn, bị y chê cười, từ ngày đến đây sao chỉ lo ngủ?”.
Nham Đầu nạt: “Ngủ đi! Mỗi ngày ngủ trên giường như Thổ địa, ngày sao bọn ma quỷ nam nữ vẫn còn”.
Sư chỉ trong ngực nói: “Tôi trong ấy còn chưa ổn, không dám tự dối”.
Nham Đầu nói: “Nếu huynh thật như thế, cứ chỗ thấy của huynh mỗi mỗi thông qua, chỗ phải tôi sẽ chứng minh cho huynh, chỗ chẳng phải tôi sẽ vì huynh đuổi dẹp”.
Sư nói: “Khi xưa, tôi mới đến chỗ Thiền sư Diêm Quan, thấy Ngài thượng đường nói nghĩa Sắc – Không, ngay nơi đó tôi liền được cửa vào”.
Nham Đầu nói: “Từ đây đến 30 mươi năm sau rất kỵ không được nói đến”.
Sư kể tiếp: “Tôi thấy bài kệ của Ngài Động Sơn khi qua cầu Ngộ Đạo (khi Động Sơn qua cầu, nhìn dưới dòng suối thấy bóng của mình, ngay đó Ngài ngộ, liền làm bài kệ: Thiết kỵ tùng nha mít/ Điều điều dữ ngã sơ/ Cừ kim chính thị ngã/ Ngã kim bất thị cừ), nên cũng có tỉnh”.
Nham Đầu nói: “Nếu chừng ấy tự cứu cũng chư tột”.
Sư kể thêm: “Một hôm, tôi hỏi Ngài Đức Sơn, việc trong tông thừa con có phần chăng, ngài Đức Sơn đánh một gậy hỏi tôi nói cái gì? Tôi khi ấy như thùng lủng đáy”.
Nham Đầu nạt: “Huynh chẳng nghe nói từ cửa vào chẳng phải của báu trong nhà sao!?
Sư hỏi: “Về sau làm thế nào mới phải?”
Nham Đầu bảo: “Về sau muốn xiển dương Đại giáo, mỗi mỗi từ trong lồng ngực mình lưu xuất, sau nầy sẽ cùng ta che trời che đất mà đi!”.
Ngay cau nói nầy, sư liền được Khai Ngộ nên nói là Ngộ Đạo ở Ngao Sơn.

Sao? Giờ đây, các bạn thấy những câu chuyện Ngộ Đạo của người xưa nêu trên như thế nào, là khó hay dễ? Và có phải chăng, người xưa nhờ biết cách thức thoát ra khỏi vũ trụ cảm giác để tiến nhập vào vũ trụ tri giác nên được kiến tính hay ngộ đạo?

Nhưng làm thế nào thoát ra khỏi vũ trụ cảm giác, để tiến nhập vào vũ trụ tri giác?

Các bạn nên biết rằng, Tứ Tổ và Thiền sư Nghĩa Tồn nhờ nắm bắt được THIỀN, vì Đức Phật có dạy: Có Thiền trí tuệ sinh… (xem lại bài kệ). Còn Thiền sư HUỆ HẢI và Thiền sư SÙNG TÍN thì nhờ biết nương vào cái DỤNG khi nghe lời khai thị, NÊN MỚI THỂ HỘI HAY THẤY (nhận ra) được cái Thể của Tâm, tức là Tâm Thanh Tịnh hay “Tâm Thể Vô Niệm”. Do vậy, nên các Ngài mới được khai ngộ hay kiến tính.

Tuy nhiên, với hai cách thức để được ngộ đạo nói trên chỉ và chỉ có ai thuộc vào bậc thượng thượng căn, thượng thượng trí mới có hy vọng được như thực kiến tính mà thôi! Bằng cớ là từ xưa đến nay đã có không biết bao nhiêu người tu cũng chỉ vì vấn đề nầy mà phải kéo cờ trắng đầu hàng, xếp giáp lui binh đấy!

Thời nay, tuy có cách Phật quá xa, lại còn rơi vào thời kỳ mạt pháp nữa, nhưng các bạn hãy yên tâm, vì trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm có nói: “Cuồng tâm ký yết, yết tức Bồ Đề” (cuồng tâm ngừng nghĩ, ngừng nghĩ tức Bồ Đề). Còn Đức Lục Tổ thì nói: “Tà chính tận đã khước, Bồ Đề tính uuyễn nhiên” (Niệm tà niệm chính đều dẹp sạch, thì tính Bồ Đề hiện rõ ràng), và đặc biệt là câu nói của Đức Phật khi Ngài mới thành Đạo như sau:

“Lạ thay! Lạ thay! Tất cả chúng sanh đều có đầy đủ đức tướng trí tuệ Như Lai, nhưng vid vọng tưởng trói vuộc nên không chứng được. Nếu lìa vọng tưởng thì Vô Sư Trí, Tự Nhiên Trí và các năng lực to lớn khác sẽ hiện bày tha hồ mà thụ dụng”.

Thế nên, nếu y theo lời dạy nêu trên mà tu thì các bạn thoát ra khỏi vũ trụ cảm giác và tiến nhập vào vũ trụ tri giác, để được kiến tính hay ngộ đạo một cách dễ dàng. Nhưng các bạn phải có một pháp tu cho thật tốt để dừng bặt (ngừng dứt) cho được những thứ “Tự ngôn tự ngữ”, “tự nói tự rằng” (Vọng tưởng tạp niệm) ở trong tâm linh, thì lúc bấy giờ mới có hy vọng được toại nguyện.

Bằng cớ là, khi cầu pháp An Tâm với Sơ Tổ Bồ Đề Đạt Ma, Nhị Tổ Huệ Khả bạch rằng: “Tâm con không an, xin Hòa thượng ban cho con pháp An Tâm”. Sơ Tổ bảo: “Con đưa tâm đây, thầy an cho”. Nhị Tổ liền tìm lại tâm mình thì không thấy. Sơ Tổ Đạt Ma liền bảo: “Ta đã an tâm cho con rồi đấy!”. Thế là Nhị Tổ Huệ Khả liền được khai ngộ.

-Còn Thượng tọa Minh (Kinh Pháp Bảo Đàn) khi đuổi theo Lục Tổ để dành lại y và bát, nhưng khi thấy không thể lấy được, nên nói lớn: “Nhân giả, tôi đến đây là vì pháp, chứ không phải vì y, bát”. Lúc bấy giờ, đức Lục Tổ từ trong bụi rậm bước ra nói: “ Nếu ông vì pháp, hãy ngồi yên đó một lát ta nói cho nghe”.
Sau đó, thình lình đức Lục Tổ hỏi: “Hồi không nghĩ thiện, không nghĩ ác, cái gì là bản lai diện mục của Thượng tọa Minh?”.
Ngay nơi câu nói nầy của đức Lục Tổ, Thượng tọa Minh liền được kiến tính hay ngộ đạo.

Sao, qua hai câu chuyện ngộ đạo nêu trên, các bạn thấy thế nào? Có phải chăng Nhị Tổ Huệ Khả và Thượng tọa Minh nhờ dừng bặt (ngưng dứt) được những thứ “Tự ngôn tự ngữ” (Vọng tưởng tạp niệm) ở trong tâm linh, nên vượt được bức tường PLANK tiến vào Vũ Trụ Tri Giác, để được Kiến tính?

Nói tóm lại, muốn có được lợi ích thiết thực trong việc tu hành, người tu Thiền phải như thực Kiến tính (Giác tự tâm hiện lượng). Và để làm cho được công việc nầy, các bạn phải chọn một trong ba phương thức nêu trên để hạ thủ công phu. Chớ không có cách nào khác nữa đâu!?

***

Thiền Sư Thích Thanh Phước