Diễn đàn Tu viện Phật giáo Việt nam


07###Niết Bàn là gì và làm sao ra khỏi nhà lửa?

Kính mong quý Chư Tôn Đức Tăng, Ni và quý Cư sĩ hoan hỷ viết vài dòng về Phật pháp và Phật học vấn đạo.

Các điều hành viên: Sen Hong, Bất Nhị, Phattutaigia, Nguyên Chiếu

07###Niết Bàn là gì và làm sao ra khỏi nhà lửa?

Gửi bàigửi bởi thichthientri » Chủ nhật 07 Tháng 6, 2015 5:22 am

07.-NIẾT BÀN LÀ GÌ VÀ LÀM SAO
RA KHỎI NHÀ LỬA?
(Đã đăng trên báo TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU PHẬT HỌC
của TRUNG ƯƠNG GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM)


Hai chữ Niết Bàn (Nivàna) là tiếng Phạn được dịch là Viên Tịch. Bởi vì, Vô Minh Trụ Địa Phiền Não đã sạch hết nên gọi là “Viên”, và hai cái chết (Nhị Tử) của những kẻ phàm phu và bậc Thánh nhân là “phân đoạn sanh tử” và “biến dịch sanh tử” đã được vĩnh viễn xa lìa nên gọi là “tịch”.

Niết Bàn còn được dịch là Diệt, Bất Sinh Bất Diệt.

Diệt là chỉ cho những thứ “Tự Ngôn Tự Ngữ” (Vọng tưởng Tạp niệm) ở trong tâm linh bị tiêu diệt hoàn toàn.

Bất Sinh Bất Diệt là chỉ cho sau khi áp dụng một phương pháp đặc thù nào đó, để thể nhập vào một thế giới chẳng sinh chẳng diệt, khác hẳn với các thế giới còn sinh diệt sinh ra và mất đi.

Niết Bàn là một trong tam (ba) pháp ấn của nhà Phật (Chư hành vô thường, Chư pháp vô ngã, Niết Bàn tịch tĩnh), và được chia ra làm thành bốn thứ Niết Bàn như đướ đây:

1.-Tự Tính Niết Bàn: tức là một tâm nầy cùng khắp mọi nơi, là thể của các pháp, tự tính vốn tịch diệt. Cũng như nói: Có Phật hay không Phật, tính tướng thường trụ, tất cả chúng sanh vốn thường trụ, tất cả chúng sanh vốn diệt độ, chẳng cần diệt nữa, nên gọi là “Tự tính Niết Bàn”.

2.-Hữu Dư Niết Bàn: nói đến sự chứng của Tam Thừa (A La Hán, Bích Chi Phật và Bồ Tát). Vì Vô Minh chưa sạch hết, biến dịch sinh tử chưa dứt, chứng lý chưa được viên tròn, ba thứ đều còn sót lại, nên gọi là: Hữu Dư Niết Bàn.

3.-Vô Dư Niết Bàn: tức là Phật đã thành Đạo, vọng đã sạch, chân đã cùng, thể dụng không hai (bất nhị), cũng là chứng được đạo quả Vô Thượng Đại Niết Bàn, nên gọi là “Vô Dư Niết Bàn”.

4.-Vô Trụ Niết Bàn: Tất cả bậc Thánh chẳng lấy hữu vi, chẳng trụ vô vi, nhị biên đều chẳng trụ, trung đạo cũng chẳng lập, động tĩnh bất nhị (chẳng hai), tổng danh là Niết Bàn, nên gọi Vô Trụ Niết Bàn.

Ở trên có nói, Niết Bàn là một thế giới chẳng sinh chẳng diệt. Cho nên, Niết Bàn hay Vũ Trụ Tri Giác, hoặc Vũ Trụ Tuyệt Đối, mà các nhà khoa học hay gọi là Vũ Trụ Phi Vật Chất hay Tông Cơ Quan Áo Bí của Vũ Trụ, chính là bản thể của vạn pháp, nguồn gốc của muôn vật. Và tên khác của Niết Bàn là: Chân Như, Chân Tâm, Phật Tính, Pháp Thân, Pháp Giới Tính, Bản Lai Diện Mục, Ông Chủ, Vô Sư Trí, Phật Tri Kiến, Thiền và Đạo…

Thí dụ như, chúng ta đem Vũ Trụ Cảm Giác hay Vũ Trụ Tương Đối so sánh với Vũ Trụ Tri Giác hay Niết Bàn, thì Vũ Trụ Cảm Giác hay cái thế giới còn có sinh có diệt nầy chỉ là hòn bọt nhỏ bé trong biển cả của Vũ Trụ Tri Giác hay Niết Bàn mà thôi.

Lại nữa, Vũ Trụ Cảm Giác, Vũ Trụ Tương Đối hay Vũ Trụ Vật Chất là thế giới ở bờ bên nầy (Bờ Mê). Còn Vũ Trụ Tri Giác, Tổng Cơ Quan Áo Bí của Vũ Trụ hay Niết Bàn là thế giới chẳng sinh chẳng diệt thì ở bờ bên kia (Bờ Giác). Bờ Mê và Bờ Giác chỉ cách nhau có một đường tơ mà thôi, nhưng chúng ta cũng có thể nói, hai bờ (bờ mê và bờ giác) cách xa nhau mười muôn ức cõi nước!

Do vậy, xưa kia Tổ Huyền Giác đến tham vấn Đức Lục Tổ Huệ Năng. Sư cầm tích trượng, vai mang bình bát, đi nhiễu Tổ ba vòng, chớ không lễ bái chi cả. Tổ hỏi:

-“Phàm Sa Môn phải đủ ba ngàn uy nghi, tám muôn tế hạnh, đại đức là người phương nào đến, mà sinh đại ngã mạn như vậy?”
-Sư thưa: “Sinh tử là việc lớn, vô thường quá nhanh”.
-Tổ bảo: “Sao không ngay nơi đó thể nhận lấy vô sinh, liễu chẳng mau ư?”
-Sư thưa: “Thể tức vô sinh, liễu vốn không mau”.
-Tổ khen: “Đúng thế! Đúng thế!”

Lúc đó, đại chúng nghe nói đều ngạc nhiên. Sư bèn đầy đủ uy nghi lễ tạ Tổ. Chốc lát sau, Sư xin cáo từ ra về.

-Tổ bảo: “Trở về quá nhanh!”.
-Sư thưa: “Vốn tự không động thì đâu có nhanh”.
-Tổ bảo: “Cái gì biết không động?”
-Sư thưa: “Ngài tự phân biệt”.
-Tổ bảo: “Ngươi được ý vô sinh rất sâu”.
-Sư thưa: “Vô sinh có ý sao?”.
-Tổ bảo: “Không ý, cái gì biết phân biệt?”.
-sư thưa: “Phân biệt cũng không phải ý”.
-Tổ khen: “Lành thay! Lành thay!”.

Sư ở lại đây một đêm để hỏi thêm đạo lý. Sáng hôm sau, Sư cùng Huyền Sách đồng xuống núi trở về Ôn Giang. Thời nhân gọi Sư là Nhất Túc Giác (một đêm giác ngộ).

Sao? qua công án nêu trên, Quý Vị có biết Vũ Trụ Tri Giác, Niết Bàn hay Tổng Cơ Quan Áo Bí của Vũ Trụ là cái gì và ở đâu chưa? Nếu chưa, thì thử hỏi Quý Vị làm sao để đi đến đó, để “liễu sinh thoát tử” chứ?

Quý Vị nên biết rằng, Niết Bàn hay Vũ Trụ Tri Giác hay Vũ Trụ Phi Vật chất không có ở trên trời xanh mây trắng đâu, mà nó ở ngay trong tấm thân bảy thước của Quý vị đấy, vì kinh Duy Ma có nói: “Duy kỳ tâm tịnh, tức Phật độ tịnh”. Nhưng, người tu muốn được giáp mặt hay tiếp cận với Niết Bàn hay Tổng Cơ Quan Áo Bí của Vũ Trụ không phải là chuyện đơn giản và dễ dàng gì đâu! Bằng cớ là, từ xưa đến nay đã có muôn muôn ngàn ngàn người cũng chỉ vì vấn đề nầy mà phải dậm chân tại chỗ hoặc xoay lưng trở bước mà đi!

Chính vì thế cho nên, người tu Thiền ở vào thời buổi hiện nay cần phải có một vị Minh Sư thứ thiệt hướng dẫn đưa đường chỉ lối và một phương pháp đặc thù nào đó, để dừng bặt hay ngừng dứt cho được những thứ “Tự Ngôn Tự Ngữ”, “Tự Nói Tự Rằng” (Vọng tưởng Tạp niệm) ở trong tâm linh, thì lúc bấy giờ người tu mới có thể thoát ra khỏi Vũ Trụ Cảm Giác để tiến nhập vào Niết Bàn hay Vũ Trụ Tri Giác. Và lẽ dĩ nhiên, chỉ và chỉ có khi nào vào được Niết Bàn hay Vũ Trụ Tri Giác rồi, người tu mới có thể được như thực Kiến Tính (Giác tự tâm hiện lượng) hay Ngộ Đạo như Nhị Tổ Huệ Khả, Thượng tọa Minh (Kinh Pháp Bảo Đàn) và Tổ Vô Ngôn Thông… mà thôi. Đó là điều hết sức quan trọng trong công việc tu cái Đạo Nhất Thừa. Quý vị cần phải đặc biệt lưu ý.

Thời gian gần đây có một Phật tử viết thư hỏi chúng tôi rằng những pháp tu mà những người ở trong cũng như ngoài nước đang tu như: Pháp Lễ Bái và Cầu Nguyện, Pháp Quán Tưởng, Pháp Đếm Hơi Thở (Sổ Tức), Pháp Quán Hơi Thở (Quán Tức Pháp), Pháp Quán Lửa (Quán Hỏa Pháp), Pháp Lau Quét (Phất Thức Pháp), Pháp Mặc Kệ (Nhậm Do Pháp), Pháp Phồng Xẹp (Phù Trầm Pháp), Pháp Niệm Phật và Pháp Tham Thoại Đầu, có pháp tu nào có đủ khả năng và uy lực để “Diệt vọng tưởng, hiện chân như” không?

Chúng tôi đã trả lời cho vị Phật tử ấy như sau:

-“Đạo hữu nên biết rằng, những “Vọng tưởng Tạp niệm” hay những thứ “Tự Ngôn Tự Ngữ”, “Tự Nói Tự Rằng” đang thì thì thầm thầm, rối rối rít rít suốt cả ngày đêm không bao giờ chịu ngừng nghĩ chính là Vô Minh (Căn Bản Vô Thủy Sanh Tử) hay Hoặc + Nghiệp + khổ. Nó chính là động cơ dẫn dắt chúng ta trầm luân trong biển khổ sinh tử từ vô thủy đến nay đấy. Nó lại còn có tên khác nữa như là: “Vô Minh Trụ Địa Phiền Não” hay “Biến dịch Sanh Tử”.

Thế nên, muốn ra khỏi nhà lửa (Tam Giới) để được đại tự tại và giải thoát lớn (thành Phật), người tu Thiền phải có một pháp tu cho thật tốt, để tiêu diệt cho kỳ được “Vô Minh TRụ Địa Phiền Não” hay “Biến dịch Sanh Tử”, thì lúc bấy giờ người tu mới có hy vọng được toại nguyện. Còn các pháp tu đã nêu trên, thì không có một pháp nào có đủ khả năng để làm cái công việc đó!”

Và nhân cơ hội nầy, chúng tôi có giới thiệu với vị Phật tử đó một pháp tu có tên là Diệu Pháp Giải Thoát hay Nhiếp Hóa Pháp để cho vị ấy tu tập. Nhưng không biết vị ấy có đủ niềm tin vào pháp tu nầy hay không, thì chúng tôi chưa biết được.

Tóm lại, muốn được”liễu sinh thoát tử” người tu phải thoát ra khỏi “Vũ Trụ Cảm Giác” hay “Tam Giới” (3 cõi). Và để làm cho được cái công việc nầy, người tu theo Tam Thừa phải giác ngộ cho sâu hai cái Không là: Ngã Không và Pháp Không (100%), để cắt cho được cái Ái (dục) và tiêu diệt cho sạch hết: Tham Sân Si (Kiến nhất thiết trụ địa phiền não) thì sẽ bỏ được cái thân “phần đoạn sinh tử” thân chứng quả vị A La Hán hay Bích Chi Phật hoặc Bồ Tát và an trụ nơi Hữu Dư Niết Bàn.

Còn những người tu Thiền, khi dừng bặt được Vọng tưởng Tạp niệm, thì mở ra được Cánh Cửa giải Thoát, ra khỏi Vũ Trụ Cảm giác tiến nhập vào được Vũ Trụ Tri giác hay Niết Bàn, khám phá ra được Ông Chủ nên nói là được Khai Ngộ hay Kiến Tính.

Được Kiến Tính, là một niềm vui lớn đối với những người tu Thiền, nhưng việc làm của họ chưa xong, vì họ còn phải thể nhập Niết Bàn hay Pháp Thân, bằng cách lần hồi tiêu diệt cho hết Vọng tưởng Tạp niệm, tức là “Vô Minh Trụ Địa Phiền Não” hay “ Biến Dịch Sanh Tử” cho đến khi nào nắm bắt được 3 cái Định là: Đại Định, Diệu Định và Viên Định, thì lúc bấy giờ người tu biết rằng mình đã được đại tự tại và giải thoát lớn (thành Phật) rồi vậy.

Nhà lửa chỉ cho Tam Giới (Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới), vì kinh Pháp hoa có nói: “Tam giới không an dụ như hỏa trạch”. Nhưng làm sao ra khỏi nhà lửa?

Người tu chúng ta nên biết rằng, thế giới có hai thứ: Thế giới chẳng sinh chẳng diệt tức là Niết Bàn, và thế giới có sinh có diệt chính là cõi Ta bà nầy.

Và theo lời dạy của Đức thế Tôn, thì có ba cách thức giúp cho người tu chúng ta thoát ra khỏi nhà lửa (thế giới có sinh có diệt) để được giải thoát từng phần hoặc được đại tự tại và giải thoát lớn (thành Phật) như dưới đây:

1.-Cách thức thứ nhất: tu theo Tam Thừa
a.-Người tu theo Tiểu Thừa phải thấy (giác ngộ) cái thân ngũ uẫn hay cái thân tứ đại vật chất nầy là Không 100% (Bát Nhã Tâm Kinh nói: “Chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách”). Để tiêu diệt cho hết tất cả những kiến giải mê lầm của Tam Giới (Kiến nhất thiết trụ địa phiền não hay Tham, Sân, Si) đồng thời tiêu diệt được cái thân “phần đoạn sanh tử” chứng quả vị A La Hán, ra khỏi Tam Giới (Dục, Sắc và Vô Sắc Giới), và vào Hữu Dư Niết Bàn.

b.-Người tu theo Trung Thừa phải thấy (giác ngộ) tất cả các pháp (những gì mà mắt chúng ta có thể thấy tay có thể chỉ ra được) ở trong cái Vũ Trụ Cảm giác hay Vũ Trụ tương Đối nầy đều Không 100%, để đoạn cho được cái Ái (sản phẩm của Vô Minh) hay những kiến giải mê lầm của Tam Giới (Kiến nhất thiết trụ địa phiền não) thì lúc bấy giờ sẽ tiêu diệt được cái thân “phần đoạn sinh tử” để thân chứng quả vị Bích Chi Phật và vào Hữu Dư Niết Bàn.

c.-Người tu theo Đại Thừa hay Bồ Tát Thừa phải như thực thấy (giác ngộ) hai cái Không: Ngã Không và Pháp Không 100%, tức là thấy (giác ngộ) xưa nay không có một vật (Bản lai vô nhất vật), thì lúc bấy giờ sẽ tiêu diệt được những kiến giải mê lầm của Tam Giới (Kiến nhất thiết trụ địa phiền não), và đoạn được cái thân “phần đoạn sinh tử”, thân chứng quả vị Bồ Tát, để vào Hữu Dư Niết Bàn. Vì kinh Kim Cang có nói: “Bồ Tát bố thí mà trụ tướng, thì không phải Bồ Tát”
2.-Cách thứ hai: tu theo Thiền Tông
Tu theo Thiền Tông, bắt buộc người tu phải được như thực Kiến Tính (Giác tự tâm hiện lượng) hay Ngộ Đạo thì lúc bấy giờ mới có được lợi ích thiết thực trong công việc tu hành. Thế nên, người tu phải nắm bắt cho được những vấn đề hết sức quan trọng dưới đây:

1.-Phải biết Tâm là cái gì và ở đâu?
2.-Phải biết cho rõ Thể, Tướng, và Dụng của Tâm.
3.-Phải biết tu cái gì trong Tâm?
4.-Không nên lìa Tâm hay phân Tâm mà tu.
5.-Phải biết Đại tự nhiên tức Vũ Trụ Cảm Giác hay Vũ Trụ Tương Đối, hoặc Vũ Trụ Vật Chất là thế giới có sinh có diệt ở bờ bên nầy (Bờ mê) thuộc về thế gian.

Còn Vũ Trụ Tri giác Phật học gọi Vũ Trụ Tuyệt Đối, các nhà khoa học gọi là Vũ Trụ Phi Vật chất hay Tổng Cơ Quan Áo Bí của Vũ Trụ là thế giới chẳng sinh chẳng diệt ở bờ bên kia (Bờ giác) thuộc về xuất thế gian.

Nếu như đem Vũ Trụ Cảm giác so sánh với vũ Trụ Tri Giác, thì Vũ Trụ Cảm giác chỉ là hòn bọt nhỏ bé trong biển lớn Vũ Trụ Tri Giác mà thôi!

Tên khác của Vũ Trụ Tri giác hay Tổng Cơ Quan Áo Bí của Vũ Trụ, Phật học gọi là: Chân Như, Chân Tâm, Phật Tính, Pháp Thân, Bản Lai Diện Mục, Ông Chủ, Vô Sư Trí, Niết Bàn v.v…

6.-Mấu chốt của định luật Đại Tự Nhiên hay định luật Luân hồi không ở trên trời xanh mây trắng, mà nó ở ngay trong cái thân vật chất máu mủ nầy. Và lẽ dĩ nhiên cửa Ra và Vào vòng Luân hồi ở chỗ nào thì nó cũng ở chỗ đó. Cho nên, hễ còn thấy có Vọng tưởng Tạp niệm khởi lên, thì nên biết rằng mình vẫn còn dính mắc, còn kẹt trong vòng Luân hồi. Còn như thấy Vọng tưởng Tạp niệm đã bị dừng bặt không còn khởi lên được nữa, thì nên biết rằng mình đã thoát ra khỏi vòng Luân hồi, đã tiến nhập vào Vũ Trụ Tri Giác rồi vậy.

7.-Muốn được khai Ngộ hay Kiến Tính, người tu phải có một Pháp tu cho thật tốt để dừng bặt cho được những thứ “Tự Ngôn Tự Ngữ” (Vọng tưởng Tạp niệm) ở trong tâm, để tiến nhập vào Vũ Trụ Tri Giác. Và chỉ có khi nào vào được Vũ Trụ Tri Giác rồi, người tu mới có thể thấy hay thể hội được cái “Tâm Tĩnh Lặng Mà Biết” đó chính là Ông Phật Thật (Pháp Thân). Thế là người tu đã được Khai Ngộ hay Kiến Tính rồi vậy!

Tuy nhiên, kinh nghiệm cho biết, có một số người tu đã ngừng dứt hay dừng bặt được những thứ “Tự Ngôn Tự Ngữ” (Vọng tưởng Tạp niệm), đã vào được cảnh giới Vô Niệm, tức là đã vào được Vũ Trụ Tri giác rồi, nhưng họ vẫn chưa nhận ra hay chưa thể hội được cái Bản Lai Diện Mục của chính mình. Nếu gặp phải trường hợp nầy, người tu phải nhờ người có cặp mắt sáng là thầy hay bạn nhổ đinh tháo chốt giùm cho.

Xưa kia, Nhị Tổ Huệ Khả, Thượng Tọa Minh và Tổ Vô Ngôn Thông… đâu không nhờ dừng bặt được Vọng tưởng tạp niệm mà được Minh Tâm Kiến Tính?

Thế nên, người tu Thiền ở vào thời buổi hiện nay nên biết rằng: “Tâm cuồng dừng bặt là Ngộ Đạo”. Vì kinh Lăng Nghiêm và kinh Đại Bát Niết Bàn có nói như sau:

-“Cuồng tâm ký yết, yết tức Bồ Đề” (Cuồng tâm ngừng nghỉ, ngừng nghỉ tức Bồ Đề”.

-“Sinh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc” (Sinh diệt (Vọng tưởng) diệt rồi, tịch diệt (Niết Bàn) là vui”.

Hiện nay, có rất nhiều người tu Thiền nương vào cái Dụng (của tâm), để suy đoán, so lường hay nhận định về cái Thể (của tâm) như thế nào đó, rồi bèn có kết luận rằng mình đã được Kiến Tính. Cái kiểu Kiến Tính nầy, Ngộ Đạo nầy không có gì bảo đảm cả!

8.-Sau khi được Kiến Tính hay Ngộ Đạo rồi, người tu còn phải thể nhập PHáp Thân hay Niết Bàn bằng cách lần hồi tiêu diệt cho sạch hết những thứ “Tự Ngôn Tự Ngữ” (Vọng tưởng Tạp niệm hay Biến dịch sanh tử) ở trong tâm linh, để được ba cái Định: Đại Định, Diệu Định và Viên Định.

Khi được Viên Định rồi, ngưởi tu nên biết rằng mình đã được Đại tự tại và Giải thoát lớn (thành Phật hay là vào Vô Dư Niết Bàn) ngay trong hiện kiếp rồi vậy.

iii.-Cách thứ ba: tu theo Tịnh Độ

Trong kinh Tiểu bản A Di Đà có dạy như sau:
“Muốn được vãng sanh về Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà người tu phải đáp ứng đủ ba điều kiện dưới đây:
1.-Phúc đức căn lành phải lớn (Nguyên văn: Bất khả dĩ thiểu thiện căn phước đức nhân duyên đắc sinh bỉ quốc).
2.-Niệm Phật cho được “Nhất tâm bất loạn” từ một cho tới bảy ngày (Nguyên văn: chấp trì danh hiệu, nhược nhất nhật, nhược nhị nhật, nhược tam nhật, nhược tứ nhật, nhược ngũ nhật, nhược lục nhật, nhược thất nhật “Nhất Tâm Bất Loạn”.
3.-Khi sắp lâm chung tâm không loạn động (Nguyên văn: Kỳ nhân lâm mạng chung thời, A Di Đà Phật dữ chư Thánh chúng hiện tại kỳ tiền, thị nhân chung thời, tâm bất điên đảo (không loạn động), tức đắc vãng sinh A Di Đà Phật, Cực lạc Quốc độ).

Có thể nói, đa phần trong bốn chúng Phật tử ở vào thời buổi hiện nay, muôn người như một đều rất muốn được Vãng sinh về Tây phương Cực lạc thế giới của Đức Phật A Di Đà, để rồi sau đó tu tiếp cho đến ngày thành Phật mới thôi. Nhưng, khổ một nổi họ lại chẳng biết niệm Phật như thế nào để được “Nhất Tâm Bất Loạn”!? Thật đáng tiếc và cũng đáng thương thay!

Thực ra muốn niệm Phật cho được “Nhất Tâm Bất Loạn”, người tu phải có phương pháp để Niệm, chớ không phải ai muốn niệm sao thì cứ niệm. Thời gian gần đây, chúng tôi có giới thiệu với bốn chúng Phật tử “Phương pháp niệm Phật để được: Nhất tâm bất loạn” đăng trên tờ Tạp chí nghiên cứu Phật học số 5, năm 2004 (Hà Nội) và đăng trên tờ Nguyệt san ‘Vô Ưu” (tỉnh Darlak) số 19, tháng 8 năm 2004.

Với phương pháp niệm Phật nói trên, người tu chỉ cần dụng công vài ba tuần lễ là được “Nhất Tâm Bất Loạn” ngay. Chúng tôi dám cam đoan như thế.

Tóm lại, muốn ra khỏi nhà lửa để chấm dứt mọi nỗi khổ đau và phiền não ở trên cõi đời nầy, người tu tùy theo sở thích chọn lấy một trong ba cách thức tu nêu trên để tiến tu, nhất định sẽ được mãn nguyện. Tuy nhiên, người tu chúng ta nên biết rằng, cái việc niệm Phật để đươc Vãng Sanh về Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà là dễ tu nhất. Còn tu Thiền, thì phải có Minh Sư đưa đường chỉ lối và một Pháp Tu có đủ khả năng (Diệt Vọng Tưởng, Hiện Chân Như) mới có hy vọng được mãn nguyện.
***


Thiền Sư THÍCH THANH PHƯỚC
thichthientri
Cảm ơn, Thành viên Moderator (Xin thông báo BQT)
 
Bài viết: 157
Ngày tham gia: Thứ 2 09 Tháng 4, 2012 2:17 am

Quay về Phật học vấn đạo

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến1 khách

cron