Diễn đàn Tu viện Phật giáo Việt nam


Tứ Diệu Đế: Đạo Đế có phải là Chánh Đạo ?

Kính mong quý Chư Tôn Đức Tăng, Ni và quý Cư sĩ hoan hỷ viết vài dòng về Phật pháp và Phật học vấn đạo.

Các điều hành viên: Sen Hong, Bất Nhị, Phattutaigia, Nguyên Chiếu

Tứ Diệu Đế: Đạo Đế có phải là Chánh Đạo ?

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 3 23 Tháng 12, 2014 3:50 pm

Đạo đế có phải là Chánh Đạo? Nếu là Chánh Đạo thì tại sao chư Tổ lại gọi là 37 phẩm trợ đạo?
Thế nào gọi là đúng, mà thế nào lại cho rằng sai...


Tôi là một Phật tử rất tin tưởng thực hành theo bát chánh đạo, hay nói đúng hơn là thực hành theo 37 phẩm trợ đạo trong Đạo Đế. Nhưng đã nhiều năm các nghi vấn vẫn còn nặng lòng. Xin được cùng Thiện tri thức giải bài.


Nghi vấn 1: nếu chỉ tu theo Bát Chánh Đạo hay đủ 37 phẩm trợ đạo là giải thoát, thế tại sao chúng ta không gọi là 37 phẩm Chánh đạo, mà lại gọi là 37 trợ đạo?


Nghi vấn 2: PT từ ngày đã học hiểu Tứ Diệu Đế là nhân/quả thiện/ác của Khổ Tập Diệt Đạo Đế.

Theo Phật sử, Thời đó Đức Phật Cù Đàm, sau khi thành đạo, Ngài đã truyền dạy Tứ Thánh Đế này cho 5 anh em Kiều Trần Như. Sau đó 5 Vị chứng ngay 1 trong 4 quả Thánh Vị. Mà tôi thì không thấy trong kinh có nói rõ ở phần nào, và nhờ phẩm trợ đạo nào để chứng thánh quả.v.v.?


Nghi vấn 3: Nếu học và hành Đạo đế thôi, thì có sự khập khễnh ở phần Thiền Định hay không?

- Theo Phật sử truyền dạy, Chính Ngài cũng mất một thời gian 49 ngày đêm Thiền định, mới thành đạo chánh đẳng, chánh giác.

- Tổ Bồ Đề Đạt Ma 9 năm, Tọa thiền, quay mặt vào vách đá. Sau đó mới sáng lập ra sơ tổ thiền tông Trung Quốc.

- Ngài Lục Tổ chỉ nghe 1 câu kinh Kim Cang, đã ngộ và 16 năm tu hành ẩn danh...Sau đó mới thành tổ của Tâm tông.

- Ngày nay có nhiều Chánh Phái Phật Giáo đã thuyết giảng nhiều loại thiền: Công án, Tham thoại đầu, Thiền Quán, Thiền Chỉ, Minh sát thiền (sát-na thiền). Và những Tôn giáo lấy Lục Tự Di Đà; tọa thiền; Lễ Phật, Tụng kinh; lấy Mật Ngữ (kim Cang Thừa); hay Duy Thức Tôn... Làm chánh tông (Tức bản thể của Thiền định).

Nếu nghi vấn 3 này là Chánh Hạnh thì nghi vấn 1 mới đúng là trợ hạnh (tức là 37 phẩm trợ đạo của Đạo Đế.) lập luận như vậy thế nào là sai, mà thế nào là đúng?


Nghi vấn 3 này, theo Pt hiểu là dùng để đối trị với Tâm viên ý mã.

Là cách hàng phục tâm của kinh Kim Cang. ''Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm''

Là cách điều phục tâm trong ''Thập mục ngưu đồ''.

Hoặc dụ như người muốn biết ly nước đó uống vào sẽ thấy cảm giác lạnh thế nào thì người đó biết, chớ người khác dầu biện tài, giảng thuyết không có kẻ hở (sai) thì cũng không biết cái cảm giác của nước lạnh thế nào.
Lại nữa, căn tánh và phúc đức của mỗi người cũng không giống nhau, tuy cùng một ly nước nhưng uống vào thì có cảm giác cũng khác theo sự phân tích của mỗi người. Mong được hồi âm.

Pt kính, viết ngày 23-12-2014
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

10 sự thật thú vị về đức Phật

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 6 26 Tháng 12, 2014 7:10 am

Đức Phật là bậc thầy giác ngộ, người sáng lập ra Phật giáo. Ngài vốn là thái tử Tất Đạt Đa Cồ Đàm của 1 vương quốc cổ xưa (nay thuộc Nepal) từ khoảng thế kỷ 6-4 TCN. Sau đây là 10 sự thật thú vị về Phật Thích Ca.

Tin liên quan
Phật Thích Ca và Phật A Di Đà khác nhau thế nào?
Những bức tượng Phật giáo cao nhất thế giới
Cuộc đời đức Phật qua tranh (2)
Cuộc đời đức Phật qua tranh (1)

25 bài học để đời từ đức Phật (2)
25 bài học để đời từ đức Phật

10 sự thật thú vị về Phật Thích Ca
Đức Phật là bậc thầy giác ngộ, người sáng lập ra Phật giáo. Xung quanh cuộc đời của Ngài có nhiều ý kiến bất đồng, tuy nhiên tất cả đều đồng ý rằng đây là nhân vật có thật trong lịch sử, vốn là thái tử Tất Đạt Đa Cồ Đàm của 1 vương quốc cổ xưa. Ngài sống ở Nepal trong khoảng từ thế kỷ 6 tới thế kỷ 4 TCN. Có một số sự thật thú vị về đức Phật mà bạn nên biết như sau.


1. Lời tiên đoán
Khi thái tử Cồ Đàm mới vừa sinh ra được ít ngày, một nhà tiên tri nổi riếng nói rằng khi lớn lên, thái tử hoặc là sẽ trở thành một vị vua vĩ đại, hoặc là sẽ trở thành 1 vị thánh. Vua cha thì thích thái tử trở thành vua hơn, vì vậy đã nhốt Tất Đạt Đa trong cung điện, không cho ra ngoài.
Cũng chính vì thế, thái tử không biết chút gì về cuộc sống bên ngoài cung điện mà chỉ được dạy những kiến thức phục vụ cho công cuộc trị vì sau này mà thôi.


2. 4 cảnh tượng
Ngày nọ, vì tò mò, thái tử Tất Đạt Đa Cồ Đàm đã yêu cầu người phu xe đưa Ngài tới vùng nông thôn. Ở đây, Ngài đã nhìn thấy 1 người đàn ông già, 1 người ốm, 1 xác chết và một thầy tu khổ hạnh lang thang.
Lần đầu tiên trong đời, Ngài nhận ra rằng thực tế cuộc sống khắc nghiệt như thế nào, thực tế đó hiện hữu hàng ngày bên ngoài cung điện tráng lệ của Ngài.

Ngài bị bởi tất cả những cảnh tượng mình chứng kiến làm cho cảm động.


3. Thức tỉnh
Trở về cung điện, Tất Đạt Đa Cồ Đàm không tài nào tận hưởng những niềm vui và lạc thú nơi đây. Đêm xuống, Ngài đi dạo một mình và nhận ra rằng tất cả những điều tốt đẹp cuối cùng rồi cũng lụi tàn và tan biến vào cát bụi.
Ngay cả khi biết tin con trai mình vừa mới ra đời, Ngài cũng không tài nào vui nổi. Vì vậy, Ngài đã từ bỏ cuộc sống hoàng tộc quyền quý và mặc vào người quần áo ăn xin, rời khỏi cung điện và bắt đầu hành trình tìm kiếm sự giác ngộ.


4. Con đường tu học
Sau khi rời cung điện, Tất Đạt Đa bắt đầu tìm kiếm thầy dạy có thể giảng cho Ngài về những tôn giáo khác nhau và cách thức để hành thiền. Dù đã thử nhiều cách khác nhau, Ngài vẫn không thể đạt được những câu trả lời mà mình tìm kiếm. Rồi Ngài phát hiện ra chỉ con đường trung đạo mới có thể giúp cho mình đạt được giác ngộ.


5. Giác ngộ

Hình ảnh
Đức Phật ngồi thiền nơi gốc Bồ đề.


Một ngày nọ, Tất Đạt Đa quyết tâm đạt được sự giác ngộ. Ngài ngồi dưới 1 cây Bồ đề thiêng liêng và bắt đầu thiền định. Sau suốt 49 ngày ngồi thiền, Tất Đạt Đa cuối cùng đã biết được tất cả lời giải đáp cho câu hỏi của mình, thấu suốt vũ trụ và trở thành đức Phật.


6. Người thầy bất đắc dĩ
Đầu tiên, đức Phật không sẵn lòng truyền đạo bởi Ngài tin rằng những gì ngài biết hoặc nhận ra rất khó để diễn tả bằng lời. Chỉ những người có tâm trí thuần khiết và kỷ luật mới có thể biết được chân lý tối thượng. Tuy nhiên, lòng từ bi đã thuyết phục Ngài thay đổi quyết định. Ngài bắt đầu giảng dạy các học thuyết về sự giác ngộ.


7. Giáo lý của đức Phật
Đức Phật dạy các đệ tử mình cách đạt được tri kiến, thoát khỏi phiền não và si mê.


8. Đệ tử
Vừa bắt đầu truyền đạo, đức Phật đã được hàng trăm người hưởng ứng và nghe theo.


9. Đoàn tụ với gia đình

Cuối cùng, đức Phật cũng hòa giải với cha của mình - quốc vương Tịnh Phạn của vương quốc Ca Tỳ La Vệ. Vợ của Ngài, nàng Da Du Đà La tận tụy đã trở thành Phật tử, cũng là nữ tu đầu tiên. Con trai của đức Phật tên là La Hầu La trở thành nhà sư trẻ nhất vào năm 7 tuổi và bắt đầu sống với cha mình.


10. Lời trăn trối

Cho tới tận năm 80 tuổi khi Ngài tạ thế, đức Phật đã đi khắp nơi và giảng đạo không ngừng nghỉ. Lời cuối cùng mà Ngài dặn dò các đệ tử là phải tự mình bước đi trên con đường giải thoát, bởi vì không có gì trên thế giới này là trường tồn.

Lam Lan
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Tứ Diệu Đế: Đạo Đế có phải là Chánh Đạo ?

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 6 26 Tháng 12, 2014 2:55 pm

Câu hỏi 9: Có thực rằng để trở thành một bậc thánh Tu-đà-hoàn (giai đoạn đầu tiên của sự giác ngộ), không cần phải thực hành thiền chỉ - Samatha, hay thiền Minh sát, mà tất cả cái mà người ta cần làm chỉ là lĩnh hội những gì người thầy giảng dạy?

Ở đây, một sự tranh luận có thể phát sanh về đoạn kinh Pāli vừa trích dẫn (từ Dhammacakkapavattana sutta - Kinh Chuyển Pháp Luân), không đề cập đến việc Tôn giả Koṇdañña (Kiều-trần-như) thực hành Minh sát, đúng không?


Ngài đạt đến thánh quả Tu-đà-hoàn gọi là Pháp Nhãn (Dhamma - cakkhu) trong khi Đức Phật giảng Kinh Chuyển Pháp Luân, hoặc ngay sau đó, có phải vậy không?

Vậy thì đâu nhất thiết phải giải thích việc tôn giả Kiều-trần-như đã thực hành như thế nào, có đúng không? Vâng, không nhất thiết, bởi vì chính bài kinh còn nói rằng bát thánh đạo phải được tu tập cơ mà.


Trong kinh điển Pāli và Chú giải của kinh về đoạn “Dukkhe Ñāṇaṃ” có nói rằng khổ đế và tập đế (nhân sanh của khổ) là những sự thực phải được đoạn trừ bằng tu tập hay thực hành.


Có nhiều nguồn tham khảo giải thích rằng sự chứng ngộ Đạo trí - Magga-ñāṇa chỉ có thể hoàn thành sau khi đã hoàn thành công việc Minh sát, gọi là tuệ Minh sát đi trước Đạo (Pubba-bhaga-Magga).


Cũng có những giải thích trong kinh điển Pāli cho rằng người ta không thể phát sinh các tuệ Minh sát và chứng ngộ Đạo Quả mà không quan sát một trong bốn đối tượng, đó là thân, thọ, tâm và pháp.


Một số những trích dẫn Pāli còn nói rằng chỉ khi người ta tu tập pháp hành chánh niệm (trên Tứ Niệm Xứ), thì niệm, một trong những chi phần của Thánh Đạo, mới phát sinh.

Theo những điểm vừa nêu, rõ ràng không thể phát triển Bát Thánh Đạo mà không phát triển Minh sát Đạo.


Vì thế, chúng ta đi đến kết luận, Tôn giả Kiều-trần-như và các vị sư bạn đồng tu đã hoàn tất Tu-đà-hoàn Đạo (Sotāpanna Magga) của họ bằng cách thực hành Vipassanā ngay tại chỗ ngồi trong lúc nghe giảng Pháp như đã giải thích.


Nếu như người ta có thể trở thành một bậc Tu-đà-hoàn chỉ do nghe và lĩnh hội Pháp, thời Tôn giả Vappa (Nhóm năm người bạn đồng tu thường gọi là năm anh em Kiều-trần-như gồm: khôngṇḍañña, Vappa, Bhaddiya, Mahānāma, và Assaji), và các vị sư khác có lẽ đã không gặp rắc rối để phải thực hành thêm hai hay ba ngày nữa.

Bản thân Đức Phật có lẽ cũng không cần phải khích lệ họ thực hành như vậy. Thay vào đó, Ngài sẽ thuyết pháp liên tục cho đến khi họ hoàn tất sự giác ngộ Tu-đà-hoàn cho xong việc.


Lý do tại sao Đức Phật lại khuyến khích các vị thực hành mà không thuyết pháp thêm một lần nữa, cũng cần phải xét đến.
Như vậy, rõ ràng là Đức Phật đã chỉ dẫn những người thuộc hạng Neyya (những người cần thực hành lâu hơn) giúp họ thực hành để trở thành một bậc Tu-đà-hoàn

(Có bốn hạng trí giả - Ñātapuggala: 1. Ugghaṭitaññū - Lược khai trí giả, người có trí tuệ nhạy bén, chỉ trong thời gian thuyết đề kinh là đã chứng ngộ (ở đây phải hiểu vị này khi nghe thuyết đề kinh, thì trong lúc ấy đã hành Minh Sát và chứng ngộ. Các trường hợp sau cũng cần phải hiểu như vậy).

2. Vipacitaññū - Quảng khai trí giả, người có trí tuệ tương đối khá nhạy bén, khi nghe giải rộng bài pháp thì chứng ngộ.
3. Neyya - Ứng dẫn trí giả, người có trí tuệ chậm lụt, phải được hướng dẫn thực hành từng bước một rồi sau mới chứng đắc.
4. Padaparama - Văn cú tối vi giả, người thiếu cơ trí giác ngộ trong kiếp hiện tại, nhưng nếu thực hành kiên trì sẽ tạo được Ba-la-mật để chứng đắc giải thoát trong những kiếp sau).


Do đó, sẽ là không thực tiễn, và có tính cách phá hoại hoặc làm băng hoại Giáo pháp nếu ai dạy rằng để trở thành một bậc Tu-đà-hoàn, người ta không cần phải thực hành Samātha (thiền chỉ) hoặc Vipassanā (thiền quán), và tất cả cái người ta cần làm chỉ là lĩnh hội những gì người thầy giảng dạy. Nếu bạn tin nơi quan điểm đó, con đường đi đến Niết-bàn của bạn sẽ bị đóng lại. http://trungtamhotong.org/NoiDung/ThuVien/MinhSatThuc/MinhSatThucTien2.htm
********
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland


Quay về Phật học vấn đạo

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến2 khách

cron