Diễn đàn Tu viện Phật giáo Việt nam


CK.07 SỰ HIỂN LỘ CỦA CHÂN LÝ CHUNG CHO TẤT CẢ TÔN GIÁO

Kính mong quý Chư Tôn Đức Tăng, Ni và quý Cư sĩ hoan hỷ viết vài dòng về Phật pháp và Phật học vấn đạo.

Các điều hành viên: Sen Hong, Bất Nhị, Phattutaigia, Nguyên Chiếu

Nhất-xiển-đề thành Phật đến việc sám hối tội Ba-la-di

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 3 11 Tháng 11, 2014 12:15 pm

Nhất-xiển-đề thành Phật đến việc sám hối tội Ba-la-di: Khả tính cứu độ và khai phóng của Phật giáo

Có hai pháp trắng, có thể cứu độ chúng sanh.
Thứ nhất là Tàm, thứ hai là Quý
1.


NSGN - Pháp của Phật chỉ thuần một vị, đó là vị giải thoát. Tuy nhiên, do phải kinh qua nhiều lần kết tập và phải trải qua hơn 400 trăm năm sau khi Đức Phật nhập Niết-bàn, lời dạy của Ngài mới được ghi lại bằng văn bản2, nên đã nảy sinh những quan điểm dị biệt.


Sự khác biệt đó cũng được phát sinh do ảnh hưởng bởi quan điểm tông phái, do đề xuất từ những vị cao tăng, do rào cản thuật ngữ trong quá trình truyền dịch, do sự tác động có chủ ý của các bậc vương quyền… đã góp phần tạo nên tính sinh động đặc thù trong cách hiểu và luận giải về lời dạy của Đức Phật.

Hình ảnhPháp của Phật chỉ thuần một vị, đó là vị giải thoát


Cứ liệu kinh điển ghi nhận, bản thệ ra đời của Đức Phật nhằm khai phóng tâm thức của chúng sanh3. Nơi nào có chúng sanh đau khổ đang khuyến thỉnh, khẩn cầu, thì nơi đó luôn có Đức Thế Tôn. Các truyền thống kinh điển đều xác tín rằng, Đức Phật không một sát-na lìa khỏi bản thệ hóa độ chúng sanh kể từ khi Ngài thành đạo.


Căn cứ vào yếu tính đặc thù của kinh điển, dựa trên bản hoài xuất thế của Đức Thế Tôn, chúng tôi thử khảo sát về quan điểm Nhất-xiển-đề thành Phật và việc sám hối tội Ba-la-di, ngõ hầu góp thêm một hướng biện giải về sự bổ trợ và tính thống nhất trong giáo pháp của Đức Phật.


Quan điểm về Nhất-xiển-đề thành Phật
1- Khái luận về Nhất-xiển-đề

Trong kinh điển Nikaya không có khái niệm nhất-xiển-đề, thế nhưng rải rác đây đó vẫn xuất hiện vài trường hợp mang nghĩa tương đương.

Trong kinh Tăng chi, chương Ba pháp, khi mô tả về ba hạng người có mặt trong cuộc đời, thì có một hạng người được Đức Phật ví như con rắn đi vào đống phân, cần phải tránh xa, ghê tởm.

Cũng theo kinh Tăng chi, ở chương Bốn pháp, trong bốn hạng người được mô tả, thì có một hạng người được Đức Phật ví như một que củi, được lấy ra từ đống lửa dùng để thiêu xác.
Điều ấn tượng là hai đầu của que củi đó bị lửa cháy, còn ở giữa thì dính phân, nên không thể cầm nắm hay sử dụng vào bất cứ việc gì. Cũng trong chương này ở phẩm Kesi, đoạn hội thoại giữa Đức Phật và người đánh xe Kesi chuyên chở một nội dung lạ lẫm.

- Bạch Thế Tôn, nếu người đáng được điều phục không chịu nhiếp phục với lời nói mềm mỏng của Thế Tôn, không chịu nhiếp phục với lời nói cứng rắn, không chịu nhiếp phục với lời nói mềm mỏng và cứng rắn, thời Thế Tôn làm gì với người ấy?

- Này Kesi, nếu người đáng được điều phục không chịu nhiếp phục với lời nói mềm mỏng của Ta, không chịu nhiếp phục với lời nói cứng rắn, không chịu nhiếp phục với lời nói vừa mềm mỏng vừa cứng rắn, này Kesi, thời Ta giết hại người ấy!


Câu nói Ta giết hại người ấy làm sao có thể thốt ra từ một nhân cách siêu thoát như Đức Phật? Thắc mắc này của Kesi đã được chính Đức Phật xác tín rằng, đó là những hạng người không đáng được nói đến, không đáng được giáo giới. Theo một nghiên cứu gần đây, hạng người được mô tả trong đoạn kinh này tương đương như hạng nhất-xiển-đề4.


Như vậy, từ những hạng người đặc biệt được đề cập trong kinh Tăng chi qua ba bản kinh được nêu dẫn ở trên, đã phần nào cho thấy, trong kinh tạng Nikaya cũng đề cập đến một hạng người hội tụ nhiều điều xấu xa và tội lỗi cùng cực, nằm ngoài sự quan tâm và giáo hóa của Đức Thế Tôn.


Trong kinh điển Hán tạng, có sự phân biệt về xiển-đề và nhất-xiển-đề. Xiển-đề, vốn là tên riêng của một người, đó là người dì của Trưởng lão Xa Nặc, do vì phạm trọng tội nên bị tẩn xuất5. Ngoài ra, xiển-đề còn là phương thức lý luận6, một phương cách tu từ7.


Nhất-xiển-đề có nhiều nghĩa. Theo kinh Đại bát Niết-bàn8, bản dịch của ngài Đàm Vô Sấm, quyển 5 và quyển 19, nhất-xiển-đề là một hạng người hội tụ các tính chất:

1, Không có niềm tin.
2, Không thể chữa trị.
3, Đoạn diệt hết thảy căn lành.

4, Bổn tâm không liên hệ đến một chút thiện pháp.
5, Không tin nhân quả.
6, Vô tàm vô quý.

7, Không tin nghiệp báo.
8, Không tin hiểu hiện tại và tương lai.
9, Không có bạn lành.
10, Không được chư Phật thuyết giảng và giáo giới.


Qua những minh giải về tính chất của hạng nhất-xiển-đề trong kinh tạng Nikaya cũng như kinh điển Hán tạng, đã cho thấy, hạng người này rất khó có thể tìm thấy nguyên mẫu trong kinh điển cũng như trong hiện thực đời sống.


Theo chúng tôi, có thể đây chỉ là sự cường điệu quá mức nhằm đặc tả về một hạng người, trong một bối cảnh hay một thời điểm nhất định nào đó, nói theo ngôn ngữ học là vận dụng phương thức ngoa dụ trong phương thức biểu đạt.


Trở lại với thuật ngữ nhất-xiển-đề, Phạn ngữ ghi là Icchāntika. Có nhiều cách chuyển ngữ cũng như phiên âm về thuật ngữ này. Mỗi cách phiên âm ẩn tàng một nghĩa khác biệt, và mọi sự hiểu lầm về thuật ngữ này cũng bắt nguồn từ đây.


Theo Phiên dịch danh nghĩa tập9, quyển thứ hai, thuật ngữ nhất-xiển-đề có khi được gọi là a-điên-để-ca (阿顛底迦), mang nghĩa là cực ác (此云極惡), cũng có nghĩa là tối hậu không có tánh Niết-bàn (畢竟無涅槃性故), tức không thể thành Phật. Tác phẩm Nhất thiết kinh âm nghĩa10, quyển 47, giải thích rằng a-điên-để-ca có nghĩa là rốt cùng không có một chút thiện tâm (畢竟無有善心).


Tuy nhiên, cũng theo Nhất thiết kinh âm nghĩa, quyển 47, thuật ngữ nhất-xiển-đề có khi được gọi là nhất-xiển-để-kha (一闡底柯), thì có nghĩa là nhiều tham dục, cũng gọi là tham vui sanh tử, không cầu giải thoát nên không tín nhạo với Chánh pháp.

Thuật ngữ này xưa dịch là a-xiển-đề11
. Trong Nhất thiết kinh âm nghĩa12, quyển 23, ngài Huyền Ứng cho rằng a-xiển-để-ca (阿闡底迦) cũng chính là nhất-xiển-để-kha (一闡底柯) với nghĩa tương đồng như trên. Trong Phiên dịch danh nghĩa tập, quyển thứ hai, cũng ghi rằng, nhất-xiển-đề có khi cũng gọi là xiển-đề-ca, nghĩa là nhiều tham dục13.


Căn cứ vào từ điển Phạn ngữ của Monier Williams, thuật ngữ Icchāntika có căn ngữ là ish, nghĩa là mong muốn, khao khát, mong mỏi, kỳ vọng… Các từ phái sinh của nó là Icchaka (n), Icchā (n) có nghĩa là: muốn, ham muốn, khuynh hướng14. Ở đây, cả ngài Huyền Ứng và Monier Williams đều nhất trí rằng, thuật ngữ Icchāntika có nghĩa là nhiều tham dục.


Như vậy thì đã rõ, căn cứ vào tính nhất quán của tư tưởng Phật giáo, thì thuật ngữ nhất-xiển-đề có khi mang nghĩa là cực ác, hoặc mang nghĩa là một kẻ quá nhiều tham dục, tham luyến sanh tử, không cầu giải thoát. Cần phải thấy, dù cực ác hay tham dục có tràn đầy, thì chỉ làm lu mờ nhưng không đánh mất Phật tánh, đó là cơ sở quan trọng đề hàng phàm ngu có cơ may tìm về với Thánh quả.


2- Quan điểm nhất-xiển-đề thành Phật
Do hạng Nhất-xiển-đề đặc hữu mười tính chất theo kinh Đại bát Niết-bàn nên nhiều bản kinh như kinh Lăng-già-a-bạt-đa-la-bảo, quyển thứ nhất15, kinh Nhập lăng-già, quyển thứ hai16, cho rằng hạng nhất-xiển đề không thể thành Phật.

Đáng chú ý, kinh Phật thuyết Đại bát Nê hoàn, quyển 4, bản dịch của ngài Pháp Hiển, ghi: Lại có Tỳ-kheo diễn thuyết rộng rãi kinh tạng Như Lai, nói rằng: “Tất cả chúng sinh đều có Phật tính của mình. Một khi vô lượng phiền não trong thân đã trừ diệt hết thì tính Phật ấy sẽ hiển lộ ra, trừ nhất-xiển-đề” (Thích Nguyên Hùng dịch)17.

Từ quan điểm này, nhiều bộ kinh luận và sớ giải về sau18 đều cho rằng, kinh Phật thuyết Đại bát Nê hoàn chủ trương hạng nhất-xiển-đề không có Phật tánh và không có khả năng thành Phật. Tâm điểm của mọi sự phản bác liên quan đến giai thoại về ngài Đạo Sanh (355-434).


Hình ảnh
Thành tâm sám hối


Theo Xuất tam tạng ký tập, quyển 15, Cao tăng truyện quyển 7, Phật tổ thống kỷ, quyển 26, quyển 36, ghi rằng, kinh Phật thuyết Đại bát Nê hoàn chủ trương hạng nhất-xiển-đề không có Phật tánh,

ngài Đạo Sanh chủ trương điều ngược lại và đã lập thệ để chứng tỏ quan điểm của mình. Theo giai thoại được đề cập trong những tác phẩm vừa nêu, ngài Đạo Sanh đã thuyết giảng cho tượng đá về quan điểm nhất-xiển-đề có Phật tánh, hỏi tượng đá rằng, lời ngài nói có đúng với ý Phật hay không và tượng đá đã gật đầu19!. Theo đó, mãi đến khi kinh Đại bát Niết-bàn do ngài Đàm Vô Sấm truyền đến, thì quan điểm của ngài Đạo Sanh mới được thừa nhận.


Thực ra, mặc dù ở quyển thứ tư kinh Phật thuyết Đại bát Nê hoàn có ghi như thế, tuy nhiên, ở quyển sáu đã khẳng định rõ ràng rằng: Cho rằng ác nghiệp của nhất-xiển-đề là xấu xa nhất ở giữa cuộc đời, bởi nhất-xiển-đề mất hẳn nhân duyên công đức bồ-đề, cho nên gọi là xấu nhất thế gian.


Trong pháp Đại thừa, cuối cùng cũng được giác ngộ thành Phật, nhưng cũng gọi là xấu xa, bỉ lậu. Pháp của chư Phật vốn là như vậy20.
Đáng chú ý, cũng ở quyển sáu, phẩm Tùy hỷ, đã tiếp tục khẳng định: Khiến cho nhất-xiển-đề/ Sẽ thành bình đẳng giác21 (Thích Nguyên Hùng dịch).


Mặt khác, căn cứ vào bộ Nhất thiết kinh âm nghĩa của ngài Huyền Ứng, một bộ đại từ điển Phạn-Hán và thuật ngữ Phật học đầu tiên trong lịch sử phiên dịch, thì thuật ngữ nhất-xiển-đề còn có nghĩa là nhiều tham dục, tham luyến sanh tử, không cầu giải thoát, không tín nhạo Chánh pháp22. Nếu vận dụng nghĩa này trong một số ngữ cảnh của kinh Phật thuyết Đại bát Nê hoàn, bản dịch của ngài Pháp Hiển, thì hoàn toàn hợp lý. Vì lẽ, một khi còn tham dục, thì không thể chứng Niết-bàn.



Như vậy, trong quyển sáu của kinh Phật thuyết Đại bát Nê hoàn do ngài Pháp Hiển (337-418)23 dịch, đã cho thấy rằng, cuối cùng thì hạng nhất-xiển-đề vẫn thành Phật. Từ đây đã mở ra một thông tin quan trọng. Đó là, nếu như chỉ dựa vào quan điểm gián tiếp (Lại có Tỳ-kheo diễn thuyết…) được ghi ở quyển 4, hoặc những đoạn khác mang tính nhấn mạnh, đặc tả về một hạng người tội lỗi và xấu xa cùng cực, mà cho rằng kinh Phật thuyết Đại bát Nê hoàn chủ trương hạng nhất-xiển-đề không có Phật tánh, và không thể thành Phật, thì gần nhất là oan cho ngài Pháp Hiển và xa hơn là oan cho chư Phật ba đời.


Cần phải thấy rằng, quan điểm hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh (一切眾生皆有佛性) là một quan điểm mang tính nhất quán của tư tưởng Phật giáo Đại thừa. Ngoài kinh Phật thuyết Đại bát Nê hoàn, quyển 4, quyển 5, quyển 6, bản dịch của ngài Pháp Hiển, kinh Đại bát Niết-bàn, quyển 7, quyển 8, quyển 9, bản dịch của ngài Đàm Vô Sấm thì quan điểm này còn xuất hiện trong các bản kinh, luận như kinh Phạm võng24; kinh Đại phương đẳng vô tưởng25; Phật tánh luận26, quyển 1, quyển 4; Kim cang tiên luận27, quyển 3; Pháp hoa huyền luận28, quyển 1… Đặc biệt, quan điểm Ta là Phật đã thành, các ngươi là Phật sẽ thành29 được ghi lại trong kinh Phạm võng là sự khẳng định mang tính tuyên ngôn của Đại thừa Phật giáo.


Xét trong liên hệ sâu xa, thì quan điểm nhất-xiển-đề thành Phật không hẳn là chủ trương riêng của Phật giáo Đại thừa mà có nguồn gốc trong kinh tạng Nikaya và trong cả hệ A-hàm. Cơ sở của quan điểm này liên quan đến cuộc đời và hành hoạt của Đề Bà Đạt Đa.


Theo Cullavagga, chương 7, Đề Bà Đạt Đa đã nhiều lần mưu hại Đức Phật, từ việc thuê sát thủ hành thích, thả voi say và thậm chí tự mình lăn đá hãm hại, những âm mưu đó hoàn toàn thất bại nên ông ta bỏ Phật ra đi. Kinh điển của hai truyền thống, Hán tạng và Nikaya đã liệt Đề Bà Đạt Đa vào hạng người phạm tội trọng không thể chữa trị30. Mặc dù vậy, vào phút cuối của đời mình, Đề Bà Đạt Đa đã hồi tâm sám hối và sau đó được Đức Phật thọ ký sẽ thành Phật ở vị lai. Sự kiện đặc biệt này đã được hai truyền thống kinh điển cùng ghi nhận.


Kinh Tăng nhất A-hàm, ghi rằng Đề-bà-đạt-đâu (đa - nv) vào giây phút cuối cùng trước khi mạng chung đã khởi tâm vui vẻ xưng ‘Nam-mô Phật’, cho nên sau này thành Bích Chi Phật hiệu là Nam-mô”31.
Kinh Tiểu bộ, tập 7, Chuyện thương nhân trên biển cả, số 466 lược ghi, ray rứt với những việc làm trước đây, nên Đề Bà Đạt Đa đã nhờ người khiêng mình đến sám hối với Đức Phật.

Kinh Mi Tiên vấn đáp bổ sung thêm, nhờ ý niệm sám hối lúc cuối đời này, nên sau khi trải qua thọ khổ trong địa ngục, Đề Bà Đạt Đa trở thành một vị Độc Giác Phật hiệu là Atthissara32.

Kinh Diệu pháp liên hoa (Saddharma Pundarīka Sūtra), bản dịch của ngài Cưu Ma La Thập33, Đề Bà Đạt Đa được chính Đức Phật Thích Ca thọ ký thành Phật trong đời vị lai hiệu là Thiên vương Như Lai.
Từ sự thống nhất của những bản kinh vừa nêu, đã chuyển tải một thông điệp mang tính nhân văn của Phật giáo: dù phạm trọng tội không thể chữa trị như Đề Bà Đạt Đa, nhưng nếu như biết hồi tâm sám hối, thì sẽ thành Phật ở thời vị lai. Thông điệp này đã mở ra một sinh lộ một giải pháp cứu độ dành cho nhiều người, kể cả những người phạm tội trọng theo giới luật Phật chế.


Việc sám hối tội Ba-la-di trong kinh điển


1- Tội Ba-la-di
Trong giới luật Tỳ-kheo, phạm Ba-la-di là một tội rất nặng. Đó là bốn giới đại dâm dục, đại trộm cắp, đại sát hại và đại vọng ngữ34.


Theo luật Ma-ha-tăng-kỳ: Ba-la-di còn có nghĩa là: Ðối với phạm hạnh bị lui sụt, đọa lạc, không đạt được đạo quả, đó gọi là Ba-la-di. Ba-la-di còn có nghĩa là: Những tội đã phạm không chịu phát lồ sám hối, nên gọi là Ba-la-di35.

Theo luật Thập tụng, Ba-la-di gọi là bị rơi vào nơi không như ý, tội đó cực ác nặng nề. Phạm vào tội đó, sẽ đọa vào nơi bất như ý, không xứng danh là Tỳ-kheo, chẳng phải là Sa-môn, không còn là Thích tử, mất hết pháp Tỳ-kheo36.

Theo luật Tứ phần: Thế nào là Ba-la-di? Ví như cái đầu của con người đã bị chặt thì không thể mọc trở lại. Tỳ-kheo cũng như vậy, người phạm pháp này không còn thành Tỳ-kheo nữa, cho nên gọi là Ba-la-di.

Thế nào gọi là không được sống chung? Có hai trường hợp gọi là được sống chung: đồng một yết-ma, đồng một thuyết giới. Không được cùng chung làm hai việc này cho nên gọi không được sống chung37.

Như vậy, tội Ba-la-di là một tội rất nặng, phạm vào tội này thì mất hết danh nghĩa Tỳ-kheo. Ở đây, cả ba bộ luật vừa nêu dẫn, mặc dù dùng những ngôn ngữ và hình ảnh minh họa mạnh mẽ để mô tả cho tội danh này, tuy nhiên cả ba bộ luật trên không cấm chỉ việc phát lồ sám hối đối với tội danh Ba-la-di. Và như vậy, có chăng một phương cách dùng để sám hối tội Ba-la-di?


2- Cơ sở kinh điển về việc sám hối các tội
Mong mỏi tìm kiếm một giải pháp sám hối các trọng tội là một khát vọng đã manh nha từ thời Phật tại thế. Dấu hiệu đó được phát hiện trong kinh tạng Nikaya, cụ thể là Tăng chi, chương Bốn pháp, phẩm Nghiệp, kinh Phạm tội. Tuy thông tin quan trọng chỉ xuất hiện trong một câu cực ngắn ở cuối đoạn văn, nhưng đã đề cập đến việc sám hối tội Ba-la-di.


Thật sự người này đã làm một điều ác đáng bị quở trách, đáng bị chém đầu. Vì rằng những người của vua lấy dây thật chắc trói cánh tay nó thật chặt lại về phía sau, cạo trọc đầu, dắt nó đi xung quanh với một cái trống, có tiếng chát tai, đi từ đường này đến đường khác, từ ngã ba này đến ngã ba khác, dắt người ấy ra khỏi cửa thành phía Nam, và hãy chặt đầu người ấy tại thành phía Nam. Chắc chắn ta chớ có làm nghiệp ác như vậy, đáng bị quở trách, đáng bị chém đầu”. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, đối với các Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo-ni nào, các tưởng sợ hãi sắc bén như vậy, được an trú, thời trong những pháp, tội ba-la-di được chờ đợi như sau về vị ấy: Nếu không phạm tội, thời không rơi vào tội ba-la-di; nếu đã phạm tội, thời sẽ như pháp sám hối pháp ba-la-di.

Nếu như kinh tạng Nikaya chưa làm sáng tỏ, cũng như chưa khẳng định rõ có hay không việc sám hối tội Ba-la-di, thì kinh Đại bát Niết-bàn, quyển thứ 10 đã bổ sung chi tiết.


Thuần-đà lại bạch Phật rằng: Thế-Tôn! Như Phật nói phá giới, nghĩa đó thế nào?
- Này Thuần-đà! Nếu phạm bốn tội nặng và năm tội nghịch, cùng hủy báng Chánh pháp, người như vậy gọi là phá giới. Thuần-đà bạch Phật :
- Thế-Tôn! Người phá giới như vậy có thể cứu vớt được chăng ?

- Này Thuần-đà! Có nhơn duyên thời cứu vớt được. Nếu người đó còn mặc pháp phục chưa bỏ, trong tâm luôn hổ thẹn sợ sệt, tự trách cứ lấy mình, trong lòng ăn năn, sanh tâm hộ trì Chánh pháp, muốn kiến lập Chánh pháp và nguyện sẽ cúng dường người hộ pháp. Nếu có người đọc tụng kinh điển Đại thừa, Tôi sẽ đến han hỏi để được thọ trì đọc tụng. Khi đã thông thuộc rồi, Tôi sẽ vì người khác giảng nói. Này Thuần-đà người như trên đây, Phật gọi là chẳng phá giới38. (HT.Thích Trí Tịnh dịch).


Ngoài sự khẳng định rõ ràng Có nhơn duyên thời cứu vớt được như kinh Đại bát Niết-bàn; trong kinh Đại Bảo Tích, quyển thứ 90, đã tiến xa hơn khi đề xuất một hình thức sám hối tội Ba-la-di: Này Xá Lợi Phất. Nếu có Bồ-tát phạm Ba-la-di thì nên đối trước mười vị Tỳ-kheo thanh tịnh rồi dùng tâm chất trực mà ân trọng sám hối39. (HT.Thích Trí Tịnh dịch). Ở đây, có thể còn nhiều điều phải bàn đến hình thức sám hối được đề cập trong bản kinh này, nhưng qua đó bước đầu cho thấy, đã có một phương cách sám hối tội Ba-la-di.


3- Phương thức sám hối tội Ba-la-di
Trong luật tạng, có nhiều tác phẩm đề cập đến các thể thức sám hối tội Ba-la-di. Một trong những tác phẩm Việt ngữ mang tính tiên phong khi đề cập về vấn đề này, đó là tác phẩm Một số vấn đề về giới luật của HT.Thích Phước Sơn40. Ở đây, ngoài việc tham chiếu tác phẩm vừa nêu, chúng tôi còn căn cứ vào một số tác phẩm về luật học của ngài Đạo Tuyên (596-667), nhằm làm sáng tỏ phương thức sám hối tội Ba-la-di. Cụ thể có các tác phẩm sau: Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao41; Tứ phần luật san bổ tùy cơ yết-ma42; Tứ phần luật Tỳ-kheo-ni sao43.


Về phương diện tư liệu, sau khi phối kiểm từ các nguồn như Tống cao tăng truyện44, quyển 14; Đại đường nội điển lục45, quyển 5; Khai nguyên thích giáo lục46, quyển 8, Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục47, quyển 2; Chi viên di tập48, quyển hạ, đã khẳng định rằng, ngài Đạo Tuyên chính là tác giả của ba tác phẩm nêu trên.


Ngài Đạo Tuyên là một cao tăng am tường nhiều truyền thống luật học, trong khi biện giải về pháp thức sám hối tội Ba-la-di, ngài đã vận dụng một vài bộ kinh liên quan như kinh Đại bát Niết-bàn, Trị thiền bệnh bí yếu pháp49, kinh Tỳ-ni mẫu50. Không những vậy, ngài còn căn cứ vào những quan điểm luật học căn bản của ba bộ phái, như Hữu bộ (Thập tụng luật51, Tát-bà-đa Tỳ-ni Tỳ-bà-sa52), Đại chúng bộ (Ma-ha-tăng-kỳ-luật53) và Thượng tọa bộ (Tứ-phần-luật54), để đề xuất pháp thức sám hối tội Ba-la-di. Từ những định hướng, gợi mở của ngài Đạo Tuyên, chúng tôi đã phác thảo vài nét về pháp thức sám hối tội Ba-la-di.


Trước hết, nếu Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo-ni lỡ phạm tội Ba-la-di thì phải khởi tâm tàm quý, thường e sợ, luôn tự trách mình, thống thiết khẩn cầu và không nên che giấu, sau đó phát lộ sám hối cùng với Đại tăng. Theo luật Thập tụng, không che giấu là một trong hai loại trí, là cửa ngõ của quả báo nhân, thiên55.


Căn cứ vào Tăng yết-ma56, quyển trung và luật Ma-ha-tăng-kỳ57, quyển 26, pháp tác bạch và yết-ma pháp học hối Ba-la-di như sau:
- Thưa Đại đức Tăng! Tôi là Tỳ-kheo… phạm giới… Ba-la-di mà không có một chút tâm niệm che giấu. Nay theo Tăng xin pháp học hối Ba-la-di. Kính mong Tăng xót thương cho tôi pháp yết-ma học hối Ba-la-di (xin như vậy ba lần).


Người làm yết-ma nên nói:
- Xin Đại đức Tăng lắng nghe. Tỳ-kheo… phạm giới… Ba-la-di mà không có một chút tâm niệm che giấu, đã theo Tăng xin pháp yết-ma học hối Ba-la-di. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng cho Tỳ-kheo… pháp yết-ma học hối Ba-la-di. Ðây là lời tác bạch.
Xin Đại đức Tăng lắng nghe. Tỳ-kheo… phạm giới Ba-la-di mà không có một chút tâm niệm che giấu, đã theo Tăng xin pháp yết-ma học hối Ba-la-di. Tăng nay cho Tỳ-kheo… pháp yết-ma học hối Ba-la-di. Các Đại đức nào bằng lòng Tăng cho Tỳ-kheo… pháp yết-ma học hối ba-la-di thì im lặng, ai không bằng lòng hãy nói. Ðây là yết-ma lần thứ nhất. (lần thứ hai, thứ ba cũng nói như thế).
Tăng đã bằng lòng cho Tỳ-kheo… pháp yết-ma học hối Ba-la-di xong, vì Tăng im lặng. Tôi ghi nhận việc này như vậy58.


Căn cứ tác phẩm Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao, ngài Đạo Tuyên chỉ đề cập đến việc sám hối tội dâm Ba-la-di mà không đề xuất ba trọng tội còn lại59. Đặc biệt, trong tác phẩm Tứ phần luật Tỳ-kheo-ni sao, quyển hạ, ngài còn lưu ý rằng, pháp thức sám hối tội Ba-la-di vẫn được phép tiến hành đối với Tỳ-kheo-ni60.


Cũng theo tác phẩm, Một số vấn đề về giới luật61, pháp thức sám hối ba-la-di được tiến hành như sau: Nếu Tỳ-kheo nào phạm tội ba-la-di, ngoại trừ tội giết người, mà có tâm tàm quý, hối hận, quyết chí sửa chữa, bạch với Tăng chúng ngay sau khi phạm, thì Tăng chúng sẽ tập hợp ít nhất là 20 Tỳ-kheo62, bạch tứ yết-ma (một lần bạch, ba lần biểu quyết) ban cho vị ấy pháp học hối Ba-la-di hay Dữ học ba-la-di. Đồng thời ban cho 35 pháp Tùy thuận bắt phải tuân thủ suốt đời.


Ba mươi lăm pháp Tùy thuận này được chúng tôi trích tập từ các bộ như Tỳ-ni tâm63; Tam bộ luật sao64; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao65. Bao gồm:

1, Không nên đăng đàn truyền đại giới.
2, Không nên làm thầy y chỉ.
3, Không nên nuôi dưỡng Sa-di.

4, Không nên vâng mệnh Tăng sai làm giáo thọ Tỳ-kheo-ni.
5, Nếu như Tăng sai làm giáo thọ Tỳ-kheo-ni, không nên đảm nhận.
6, Không nên thuyết giới.

7, Nếu trong Tăng có vấn hỏi về nghĩa giới luật, không nên ứng đối.
8, Nếu Tăng sai làm yết-ma, nên khéo chối từ.
9, Nếu trong Tăng tuyển chọn người có trí tuệ và ứng đối các việc, không nên dự phần.

10, Nếu Tăng chọn làm người tin cẩn, không nên đảm đương.
11, Không được vào thôn xóm khi quá sớm.
12, Không được rời thôn xóm trở về chùa khi quá muộn.

13, Nên thân cận Tỳ-kheo.
14, Không nên thân cận cư sĩ, ngoại đạo.
15, Nên thuận theo dạy bảo của Tỳ-kheo, không nên viện dẫn điển cố để ứng đối.

16, Không nên tái phạm tội này, dù việc gì cũng không nên phạm.
17, Không được phạm tội tương tự.
18, Không được trùng phạm các tội.

19, Không nên nghi ngờ yết-ma.
20, Không nên quở trách người tác pháp yết-ma,
21, Nếu có Tỳ-kheo phát tâm trải tọa cụ cúng dường, không nên ngồi.

22, Không nên để người khác rửa chân cho mình.
23, Không nên nhận các cúng vật dùng để rửa chân.
24, Không nên để người lau, rửa giày dép của mình.

25, Không nên để người kỳ cọ thân thể.
26, Không nên ứng cử là Tỳ-kheo xuất sắc.
27, Không nên cùng người bàn chuyện quá khứ của mình.

28, Không nên đảm nhận các việc liên quan đến chứng minh.
29, Không nên ngăn trở bố-tát, tự tứ.
30, Không nên tranh tụng với Tỳ-kheo.

31, Không nên thọ Tỳ-kheo khác lễ lạy.
32, Không nên thọ Tỳ-kheo khác chắp tay xá chào.
33, Không nên nhận sự vấn an thăm hỏi từ Tỳ-kheo khác.

34, Không nên nhận sự cung đón, tống tiễn trang trọng.
35, Không nên nhận làm người truyền thừa y bát. Đó là
35 việc nhất nhất phải tuân hành, không được vi phạm66.


Ngoài ba mươi lăm pháp Tùy thuận phải vâng giữ suốt đời, theo Trị thiền bệnh yếu pháp67, người phạm Ba-la-di tội trước phải tạm cởi Đại y (Tăng-già-lê), mà chỉ mang Tạp tác y (An-đa-hội) chấp lao phục dịch, phát tâm đảm nhiệm những công việc nặng nề, dơ bẩn như vệ sinh nhà xí, với thời gian 800 ngày, sau đó tắm rửa sạch sẽ rồi mới được mặc lại Đại y68 .

Hình ảnh


Trong hành hoạt đời thường, người thọ pháp Học hối Ba-la-di, theo luật Thập tụng69, thì ngồi sau các vị Tỳ-kheo và ngồi trước các Sa-di, được tham dự hai pháp yết-ma bố-tát và tự-tứ, nhưng không tính vào túc số của Tăng; ngoài ra, các pháp yết-ma khác của Tăng đều không được tham dự, nhưng được thọ tuế. Nếu như trùng phạm Ba-la-di, Tăng sẽ làm pháp yết-ma diệt tẩn, tước y bát và đuổi ra khỏi trú xứ.
Nếu như thực hiện đầy đủ pháp thức sám hối Ba-la-di trên đây, theo kinh Tỳ-ni mẫu70 thì đời này tuy không thể thoát tử, siêu sanh, hoặc chứng đắc Tứ thánh quả, lại cũng không được công đức vô lậu, nhưng sẽ ngăn ngừa để không bị đọa vào địa ngục.


Kết luận
Bằng nhiều cách thức khác nhau, Đức Phật đã khai mở cho chúng sanh nhận ra yếu tính bình đẳng trong bản thân của mỗi người và mỗi loài, đó là khả năng thăng tiến và tìm về ngôi vị Phật quả.

Khả năng đó không phân biệt bất kỳ ai. Khi cho rằng, nhất-xiển-đề thành Phật là một cách biểu đạt khác của tuyên ngôn mà Đức Phật đã tuyên thuyết: Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành. Đây là một tuyên ngôn thấm đẩm tuệ giác của Đức Phật và được các tông phái Phật giáo thừa nhận. Quan điểm nhất-xiển-đề không có Phật tánh hay không thể thành Phật, sở dĩ được hình thành là do điều kiện giới hạn của lịch sử, hoặc do cách hiểu của một cá nhân, hoặc do sự hiểu lầm về một thuật ngữ trong khi chuyển dịch. Vì thực sự, nếu cho rằng nhất-xiển-đề không có Phật tánh và không thể thành Phật, là chưa đúng với nội dung kinh Phật thuyết Đại bát Nê hoàn.


Là chúng sanh sống trong cõi dục, dù nhân loại hay chư thiên, dù thường nhân hay xuất gia phạm hạnh, phải nỗ lực rất lớn, mới có thể thoát khỏi sự chi phối của dục vọng. Đối với người xuất gia, do đặc thù của lý tưởng sống nên Đức Phật chế định phải đoạn trừ sắc dục.

Nếu phạm, thì được xem như là kẻ lâm trọng bệnh và không có cơ may sống sót. Tuy vậy, Đức Phật không bao giờ buông tay với bất kỳ ai nên đã tạo ra những cơ may, dù ít ỏi, với người phạm trọng giới. Bên cạnh đó, Ngài cũng lưu ý thêm rằng, cơ hội đã rất hiếm hoi, thì cần nên trân trọng và nghiêm túc thực hiện.


Không ai muốn con mình uống thuốc độc rồi cầu thầy chữa trị. Việc chỉ bày chúng sanh phương thức sám hối khi phạm trọng giới, cũng là việc mà bậc Y vương như Đức Phật không hề trông mong!
Chúc Phú
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Đàm đạo về “như huyễn”

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 3 25 Tháng 11, 2014 8:22 am

(PGVN) Tôi có người bạn thích trò chuyện về thiền về đạo. Chú ấy ít hơn tôi chừng mười tuổi. Chúng tôi quen nhau đã lâu nên thường thật lòng với nhau. Một buổi sáng đẹp trời, chúng tôi đang đàm đạo thì có hai người hàng xóm ghé chơi. Họ cũng còn trẻ. Sau khi chào hỏi và dùng trà, một người hỏi tôi:


- Mấy bữa nay anh có theo dõi thời sự không?
- Độ này tôi ít xem tivi.
- Anh bận thiền, tôi biết quá mà!... Họ đang xử án mấy tay tham nhũng cỡ bự.


Thế là hai người hàng xóm hăng say phê phán tệ nạn tham ô, hối lộ, bè phái… Họ đang nhiệt tình bày tỏ quan điểm của mình, đột nhiên người bạn của tôi chen ngang:

- Mấy thứ huyễn mộng đó, quý vị quan tâm làm gì? Để tâm trí lo làm ăn nuôi con nuôi vợ, các tệ nạn thì có nhà nước lo, chứ quý vị thì làm được gì. Chỉ là ôm ấp thị phi vô thường!


Hình ảnh
Thưởng trà, đàm đạo


Hai người hàng xóm vừa bất mãn, vừa có vẻ mắc cỡ. Họ đứng dậy gượng gạo bắt tay chúng tôi cáo về.

Tôi châm thêm trà và ngồi im lặng một lúc. Rồi tôi đọc một bài kệ của Phật giáo:

“Chư ác mạc tác
Chúng thiện phụng hành
Tự tịnh kì ý
Thị chư Phật giáo”.

(Chớ làm các điều ác/Nên làm các việc lành/Tự thanh tịnh ý kia/Đó là lời dạy của chư Phật).

Tỏ vẻ băn khoăn, người bạn hỏi tôi:
- Anh muốn nói điều gì vậy?

- Chú không thấy hai người kia có cái tâm thiện, biết yêu điều tốt, biết ghét điều xấu hay sao?
Là người biết phục thiện nên nghe tôi nhắc nhở, người bạn chợt hiểu. Cạn chung trà, chú ấy hỏi:

- Nhưng trong trường hợp này, cái thiện tâm đó của họ có ý nghĩa gì đâu.

- Chú lại quên lí tương quan tương duyên của vạn sự vạn vật. Tâm ý hướng thiện của họ, dù là cái thiện tương đối, mang năng lượng tích cực ảnh hưởng đến nhiều người khác, đến tất cả. Khi xã hội bớt đi tệ nạn hối lộ tham ô bè phái, chắc chắn có sự đóng góp năng lượng thiện lành của họ. Mà xã hội thì có cuộc sống của tôi và chú, dù rằng mình chọn sự nghiệp thiền định, mang năng lượng tuệ giác.
Người bạn mỉm cười:

- Xin lỗi anh nhé! Học Thiền mà anh quên thuyết Như Huyễn rồi sao? Tất cả các tướng đều là hư vọng, không thật.
Tôi tỏ thái độ nghiêm túc:

- Nếu chú muốn chúng ta cùng khơi sáng vấn đề, xin nghe tôi trình bày.

- Thì xin anh cứ nói. Anh em mình thẳng thắn với nhau mà.

- Thuyết Như Huyễn không phủ nhận thế giới huyễn tướng, tức là thế giới hiện tượng. Thế giới hiện tượng đang hiện hữu, phiền não khổ đau của chúng sinh đang hiện hữu.
Thuyết Như Huyễn nhắc mình rằng, có thực tại bất sinh bất diệt “đằng sau” thế giới huyễn tướng sinh diệt vô thường. Người hiểu đạo phải nỗ lực ngộ nhập thực tại bất sinh bất diệt, ngay khi đang sống với quy luật của thế giới sinh diệt vô thường này…
Tôi xin nhấn mạnh, thân tâm chúng ta đang sống trong thế giới như huyễn cùng với những quy luật của nó. Người hiểu đạo thì không si mê theo thế giới huyễn tướng, nhưng không thể phủ nhận các quy luật của nó. Theo cách nói của nhà thiền, chúng ta “bất mị nhân quả”, chứ không thể “bất lạc nhân quả”.


Tôi mừng vì thấy bạn có biểu hiện hoan hỉ. Tôi chậm rãi nói tiếp:
- Học tập thuyết Như Huyễn để ngộ nhập tâm phi huyễn (pháp thân, tánh Không, pháp nhãn); ngộ nhập tâm phi huyễn thì sẽ soi sáng hành tác của mình (báo thân) giữa mọi huyễn tướng (hóa thân)…


Không có thực tại phi huyễn ở ngoài huyễn tướng; không có huyễn tướng ở ngoài thực tại phi huyễn. “Tam thân nhất thể” nên huyễn và phi huyễn “bất nhị”; không thiên chấp Không (phi huyễn) và cũng không thiên chấp Hữu (huyễn tướng). Giác ngộ đích thực là hiện tiền Tâm Không - diệu dụng (Chân Không - diệu hữu).


Bạn tôi cười vui:
- Xin cảm ơn anh. Giờ thì tôi mới hiểu tại sao kinh luận nói rằng Bồ-tát quán thấy thế gian, thấy chúng sinh, thấy nghiệp chướng đều như huyễn như mộng, mà lại từ bi cứu khổ chúng sinh.


- Người có tâm giác ngộ thì không chấp thủ những thị phi thiện-ác, nhưng biết tùy hỉ với những thị phi thiện lành… Kinh luận cho mình biết, Bồ-tát tùy căn cơ chúng sinh mà ban vui cứu khổ. Họ cũng biết tùy nhân duyên của mình mà chọn cho mình cách tu tập phù hợp thực tế…
Bạn tôi hoan hỉ, tự thưởng mình một chung trà.

Tuệ Thiền Lê Bá Bôn
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Nói dối - nghiệp ác tự tạo

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 4 26 Tháng 11, 2014 5:52 am

Trong cuộc sống, nếu ai đó nói ra những lời không đúng sự thật hay có ác tâm, khiến nhiều người cảm thấy tức giận, buồn khổ… chính là đã gây ra nghiệp ác.

Tin liên quan
10 lời nói dối cô nàng nào cũng từng nói với bạn trai
"Người nói dối như cái chậu đựng nước rửa chân"
Nói dối nhiều dễ bị trầm cảm

Cách phát hiện nói dối hiệu quả
Thú nhận của cha về 10 lời nói dối con
Tuyệt chiêu của cha mẹ khi con nói dối

Tự mình phải gánh chịu
Đức Phật dạy, nói dối chia làm 4 loại: vọng ngữ, ỷ ngữ, ác khẩu, lưỡng thiệt. Đây là 4 loại nói dối khiến bản thân mỗi người tạo gây nghiệp ác.


Hình ảnh


Để cho đệ tử không tạo nghiệp ác từ lời nói, đức Phật đã chế ra giới thứ 4: cấm nói dối
Chính những cách nói này là tội ác mà người nói khiến cho những người xung quanh bị hại hay xa lánh. Vì thế, cần phải tránh xa.

Cả những người hay nói dối không ác ý mà chỉ có tính đùa vui cũng gây ra nghiệp quả không tốt, vì nó làm cho họ quen với thói xấu ấy và khiến mọi người xung quanh không tin vào lời nói của họ nữa, dù đôi khi họ nói thật.

Ví dụ: một anh chàng thích trêu đùa người khác. Anh hay nói dối, kiểu như mình bị xe đụng, nhà cháy, mất tiền… để mọi người tin và hốt hoảng.

Thế rồi có lần nhà anh cháy thật, khi đi nhờ mọi người giúp thì không ai chịu đi. Ngôi nhà bị cháy hoàn toàn chỉ vì anh đã nói dối quá nhiều.

Người hay nói dối, dù chỉ để đùa vui cũng tạo ra nghiệp ác. Họ khiến nhiều người không tin tưởng, dễ bị xếp vào hạng người lừa lọc, không đạo đức.

Cũng có những người do bản thân khiếp nhược, không bản lĩnh, nên khi bị ai đó ép buộc đã phải nói dối. Họ nói không đúng sự thật khi bị người xấu ép khai khống, hoặc đổ tại ai đó. Việc làm đó khiến những người bị họ khai mắc họa.

Hay có những người vì hám danh, thích địa vị nên cứ khoe khoang. Họ nói dối để khiến người khác nghĩ mình tài giỏi, thông minh, hơn người… nhưng đó là sự giả tạo. Đây là nghiệp ác tự tạo, chỉ vì sở thích hám danh đem lại.

Và theo kinh Phật, nếu người nào nói dối mình đã chứng Thánh mà chưa có thì mắc tội đại vọng ngữ, sẽ bị đọa vào ba đường ác (địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh). Đó là những tội ác mà cá nhân nào làm phải nhận lãnh.

Hình ảnh
Việc nói dối chỉ gây họa cho bản thân, khiến nhiều người xa lánh


Gây họa cho nhiều người

Việc nói dối không chỉ gây ra hậu quả cho bản thân, cũng có những lời nói dối khiến người khác bị ảnh hưởng…

Chẳng hạn, một giám đốc công ty xây dựng dối trá khi thực hiện dự án, rút ruột công trình… khiến công trình vừa xây xong đã hư, thậm chí bị sập, gây chết người.

Cũng không ít người nói kiểu "lưỡi hai chiều" làm tan vỡ hạnh phúc gia đình người khác, hay khiến mọi người nghi ngờ lẫn nhau.
Họ thường tạo khẩu nghiệp nặng, ngậm máu phun người, bới chuyện thiên hạ, kích động bên đông, kiếm chuyện bên tây, đâm bị thóc, chọc bị gạo, chòng ghẹo mọi người…
Hay trong quan hệ gia đình, có những người con ăn nói với đấng sinh thành bằng những lời thô ác, gây thương tổn tình cảm trong lòng cha mẹ.


Thậm chí, có những đứa con còn nhẫn tâm đuổi cả cha mẹ ra khỏi nhà, kèm theo những lời lẽ độc ác và thái độ hằn học.
Họ quên rằng, đó là những người đã sinh thành và nuôi dưỡng họ từ nhỏ cho đến lớn khôn.

Hình ảnh

Nói dối không chỉ hại mình mà còn hại nhiều người, vì thế cần tránh xa

Họ cũng quên mất rằng, những lời lẽ như thế đối với cha mẹ sẽ ảnh hướng rất xấu tới chính những đứa con do họ sinh ra. Điều này sẽ hằn sâu trong tâm trí trẻ và biết đâu về sau họ lại bị ngược đãi bởi chính con mình.

Những đứa con này cũng biết đâu rằng, những hành động và lời nói đó tạo ra cho họ một nghiệp ác rất sâu nặng, một tội ác lớn nhất của đời người: tội bất hiếu mà đức Phật luôn dạy phải tránh xa.
Còn rất nhiều kiểu nói dối, những cách nói khiến cho bản thân và người khác bị tổn thương...
Để giải trừ điều này, mỗi người luôn cần phải sống cho đúng đạo đức, giá trị xã hội; nói năng phải chính ngữ, diệt trừ tật xấu, tính tham, cắt đứt ác ý.


Chỉ như vậy mới đem lại cuộc sống yên vui, thân tâm an lạc cho mình và những người xung quanh.
Vô Thường
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Kinh nghiệm hoằng pháp

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 3 02 Tháng 12, 2014 5:39 am

Tôi tham gia ngành hoằng pháp rất sớm, từ thời kỳ hoạt động của Giáo hội Tăng già Nam Việt do Hòa thượng Thiện Hoa lãnh đạo, cho đến thời Giáo hội Phật giáo thống nhất dưới sự lãnh đạo của Hòa thượng Trí Thủ và tiếp tục với Ban Hoằng pháp của Giáo hội hiện tại.

Nhờ đó, tôi đã học được và tâm đắc những pháp thành tựu của các vị Hòa thượng tiền nhiệm. Theo tôi, mỗi vị đều có đặc tài hay năng khiếu. Nếu không, thì chỉ đạt ở mức độ bình thường, không thể là Giảng sư nổi tiếng hay lãnh đạo được. Tuy mỗi người có một cách diễn đạt riêng, nhưng điểm chung nhứt là phải nói sao cho người nghe được, làm thế nào đưa tâm tư ta vào lòng quần chúng. Còn nói mà người không nghe, không cảm tâm, chắc chắn thất bại.


Tôi còn nhớ cách nay hơn ba mươi năm, Hòa thượng Huyền Vy giảng Vu Lan, tôi thấy thính chúng cười khi ngài cười, thính chúng khóc khi ngài khóc. Đó là điểm thành công của Giảng sư khi dẫn được quần chúng đi theo mục tiêu đã định sẵn.


Ý này được Trí Giả đại Sư gọi là Phiêu chương trong Ngũ trùng huyền nghĩa. Hoặc Hòa thượng Từ Thông cũng có sức thu hút người, có thể ca, vẽ, chọc cười

.
Hình ảnh


Thiết nghĩ mỗi vị Giảng sư có sở đắc, sở trường riêng. Tuy nhiên, tôi khuyên các Thầy cô trên bước đường truyền giáo đừng nên bắt chước, kể cả đừng bắt chước theo tôi, vì bắt chước sẽ thất bại.

Đương nhiên chúng ta không phủ nhận sự kế thừa, nhưng phải có sáng tạo. Giảng sư luôn luôn sáng tạo để đáp ứng yêu cầu của quần chúng thì mới thành công.


Trên bước đường hoằng pháp, theo ngài Nhật Liên, không thể áp dụng giáo lý chung chung, vì pháp muốn có tác dụng cần thích hợp với đối tượng, thời gian và quốc độ. Trong kinh thường diễn tả là Phật tùy bệnh cho thuốc. Giảng sư nhận được bệnh, tức đáp ứng được tâm tư, nguyện vọng của người thì mới đến.

Ngay cả đức Phật cũng có lúc Ngài phải Niết bàn vì xuất hiện làm cho chúng sanh buông lung, kiêu tứ. Không xuất hiện thì họ sanh tâm khát ngưỡng và xuất hiện để đáp ứng yêu cầu, tức biết rõ lúc nào nên hay không nên xuất hiện.


Thông thường lần đầu ta đến với tư cách Giảng sư, họ đều quý trọng và thỉnh ta ở lại. Riêng tôi, chưa ở lâu chỗ nào, có lẽ nhờ vậy mà được người thương. Tôi thường cân nhắc làm được gì cho người. Nếu họ mời ta đến nhằm mục tiêu tập hợp quần chúng và huy động tiền bạc cho họ xây chùa. Yêu cầu này quá lớn, nhưng không làm nổi thì chắc chắn họ chẳng quý trọng ta nữa.


Tôi khuyên các anh em chọn nghề Giảng sư phải lo rèn luyện năng lực, hoàn tất trách nhiệm mà Giáo hội giao phó.
Đừng làm nghề tay trái, không thành công. Làm chuyên một việc cho đến nơi đến chốn.


Quần chúng tập trung nghe giảng là để tìm hiểu đạo lý cao sâu của Phật giáo và muốn nhìn thấy pháp Phật thể hiện trong cuộc sống của Giảng sư. Nếu quý Thầy không thể hiện được điều này, họ sẽ rời bỏ ta. Họ tha thiết cầu giải thoát, nhưng ta không có tâm hồn giải thoát, tướng mạo giải thoát, ngôn ngữ giải thoát thì họ theo ta làm chi.


Theo tôi, luyện tập điệu bộ, giọng nói và thuộc lòng điển tích chỉ giúp ta thành công ở cấp thấp, vì những thứ này chỉ là vay mượn của người, không phải thực của ta, nên không lâu dài. Đạo Phật đòi hỏi phải thực tu, thực chứng.

Ngoài việc học ở trường lớp, chính yếu đối với tôi là tự rèn luyện cho mình bản chất của tu sĩ Phật giáo bằng cách đọc tụng kinh điển để tìm nghĩa lý. Tôi giảng không hay, nhưng rất quý trọng kinh Đại thừa, lấy đó làm sinh mạng mình, có lẽ nhờ vậy mà người có cảm tình khi nghe tôi giảng.


Tôi khuyên các anh em nên chọn bộ kinh mà mình ưa thích và lấy kinh này gắn liền với cuộc sống của ta, từ đó mới thấy hiệu nghiệm của kinh. Tôi say mê bộ kinh Pháp Hoa và bắt đầu thọ trì đọc tụng, nghiên cứu nhiều. Lúc đó, tôi không nghĩ đến hoằng pháp.

Một hôm, từ chùa Ấn Quang ra Xá Lợi, có một gia đình mà tôi không quen biết. Họ ăn mặc sang trọng và sụp lạy tôi ở cửa chùa, khiến tôi nhận ra ý kinh, trong khi tụng kinh bao nhiêu năm nhưng không biết.

Tôi nhận chân được rằng lúc đó tâm tôi đang nghĩ về Phật, về kinh Đại thừa, hoàn toàn vắng lặng, trong sáng, nên hiện tướng giải thoát, khiến cho người nhìn thấy quý trọng. Vì vậy, tôi mạnh dạn viết trong

kinh Bổn môn Pháp Hoa rằng: “… tâm họ là Thiền, thân làm giống Phật, giảng pháp chân thật, khai thị Nhứt thừa, được Phật xoa đầu và trao y bát…”



Theo tôi, các Thầy cô làm sao đem Phật ngự trị lòng ta để thủ tiêu ác nghiệp, hiện được tướng giải thoát, mới có ngôn ngữ của chánh pháp. Lúc đó, ta không nói y theo kinh sách, nhưng không trái ý Phật vì thể hiện được mục tiêu làm đẹp cho đời, cho tứ chúng. Đó là bài pháp thực sự có giá trị.


Có lần Hòa thượng Thiện Siêu dạy tôi ý này. Ngài nhắc rằng người tu có sức thuyết phục cao, như các Thiền sư truyền giáo từ nước này sang nước khác, có thể không đủ ngôn ngữ diễn đạt, nhưng lời nói các ngài phát xuất từ tâm, không nói thành lời mà quần chúng hiểu và cảm thông được. Nhiều khi ta giải thích đủ kiểu, nhưng họ cũng hiểu sai. Bài pháp đi thẳng vào tâm quần chúng, họ thầm hiểu trong lòng, đồng cảm với Giảng sư, mới là cách truyền đạo của Phật giáo.


Thực tế cho thấy các vị Khất sĩ không tốt nghiệp trường lớp, không đủ tiêu chuẩn chúng ta đặt ra như điệu bộ, văn chương, ngôn ngữ, nhưng lại thành công trong việc thuyết phục được quần chúng. Các anh em lưu tâm, đừng biến mình thành danh tự Pháp sư, tức Giảng sư chỉ vay mượn, lặp lại của người khác.

Chúng ta có thể chia ra giáo hóa trên Nhơn môn hay Quả môn, trên Tích môn hay Bổn môn.

Giáo hóa trên Tích môn thì lợi lạc ít, vì chúng ta nói về giáo lý cao siêu, về Phật, Tổ đầy uy đức, nhưng bản thân ta không thể hiện chút nào giống như vậy, là phản tác dụng.

Giáo hóa trên Quả môn là mang thành quả tu được để dạy người, tức đức hạnh của ta giáo hóa mọi người, ta không giáo hóa.

Tôi còn nhớ lúc mới làm Giảng sư, vì bị thiếu ăn lâu ngày nên mặt mét xanh, bệnh hoạn mà lại khuyên người ăn chay. Họ trả lời rằng thương Thầy, nhưng con không dám tu. Học dở thì họ nói tại ta ăn thiếu dinh dưỡng.
Về sau, tôi khắc phục được bệnh nghiệp, mới bắt đầu giáo hóa trên Quả môn. Tôi xuất thân từ cậu bé chăn trâu, nhưng nhờ Phật pháp un đúc mà được như ngày nay.
Khỏe mạnh, học giỏi hơn người, làm việc hơn người, chịu đựng hơn người, lúc đó nói lên được tu hành của đạo Phật để rèn luyện con người thành phi thường. Theo kinh nghiệm riêng tôi, ta nói ít, nhưng nỗ lực bên trong phải nhiều hơn.


Điều tâm đắc nữa trong việc hoằng pháp, tôi chia cuộc đời thành ba giai đoạn. Giai đoạn một từ lúc xuất gia học đạo cho đến trên dưới 40 tuổi. Trong giai đoạn này, việc chính yếu của tôi là học và ứng dụng giáo lý. Cần phải trang bị vốn liếng này, vì sức còn mạnh, ta làm được bao nhiêu việc, mà không làm là hỏng, đầu óc còn nhạy bén, sáng suốt, trí nhớ còn tốt, không học thật uổng phí. Theo tôi, ở tuổi này học và làm không biết chán và truyền bá diễn giảng nhằm ứng dụng pháp tu, không phải giảng là chính. Làm sao ứng dụng giáo pháp càng có kết quả càng tốt và tiếp xúc với cuộc đời để hiểu người, để sau này giáo hóa, mang an vui cho người.


Giai đoạn hai của cuộc đời từ 40 tuổi trở đi, bước vào tuổi lãnh đạo rất tốt. Từ 40 đến 60 tuổi cống hiến tài năng, đức hạnh cho đời, thể hiện bản lĩnh, ý chí, hiểu biết, trong sạch của mình. Nếu ở tuổi này đã lớn, làm việc với cương vị lãnh đạo mà không chứng tỏ được những đức tánh trên coi như thất bại.


Giai đoạn ba từ 60 tuổi trở về sau, đương nhiên không còn hoạt động mạnh nữa, chỉ còn đức hạnh để lại, tức việc làm của ta trong suốt hai mươi năm trước. Người không quý trọng xác thân già yếu, nhưng quý trọng công sức của ta đã dâng hiến trọn vẹn cho Giáo hội, cho đời.
Giai đoạn ba, từ từ xa lần cuộc đời, chỉ còn lại cho đời một tấm gương sáng. Không phải ngày nay tôi mới hành đạo, nhưng người biết thì sức đã mòn, hơi đã cạn.

Đức Phật cũng dạy nghe được mùi hương là hương đã tàn. Phần còn lại cuối cuộc đời là công đức của chúng ta cũng xin dâng trọn.
Tôi kỳ vọng quý Thầy cô sẽ có nhiều sáng kiến, nhiều kinh nghiệm quý báu trên đường truyền giáo để dâng hiến tất cả tinh ba cho nhân loại, xây dựng được tịnh độ ngay trên nhân gian này, đáp đền công ơn muôn một của đức Từ phụ và tiền nhân.

(Bài giảng tại khóa Bồi dưỡng Giảng sư ngắn ngày cho 23 tỉnh thành miền Đông, miền Tây và TpHồ Chí Minh, tổ chức tại Thiền viện Quảng Đức, ngày 10-5-1999)

HT. Thích Trí Quảng
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Phật pháp căn bản: Có nghiệp báo không?

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 6 05 Tháng 12, 2014 1:21 pm

Phạn ngữ là Karma, Trung Hoa dịch là nghiệp, là những hành động có ý thức của chúng ta.

Nó là tiếng gọi chung của hết thảy hành vi thiện ác. Báo là kết quả do nghiệp lực đem lại

Tin liên quan Phật pháp căn bản: Bát Chánh Đạo là gì?
Phật pháp căn bản: Hiểu đúng về quy y Tam Bảo?
Phật pháp căn bản: Tứ Diệu Đế là gì?
Nghiệp có hai loại chính là thiện nghiệp và ác nghiệp. Những nghiệp thiện ác này sẽ dẫn dắt chúng ta tái sinh ở những kiếp khác.
Hình ảnh
Mỗi người tùy nghiệp lực mà thọ quả báo khác nhau (ảnh minh họa)


Có 4 loại nghiệp tái sinh

Cực trọng nghiệp: Bất cứ nghiệp lành hay dữ được tạo ra và có ảnh hưởng đến chủ của nó, đến khi chết người ấy sẽ theo nghiệp này mà đi.

Cận tử nghiệp: là nghiệp được tạo khi gần chết, chúng ta sẽ đi theo đường lành hay đường ác, vào cõi thiện hay cõi dữ là do nghiệp này.

Tập quán nghiệp: Nghiệp được tạo theo thói quen hằng ngày. Chính từng thói quen này sẽ dẫn dắt chúng ta theo các nẻo mà luân hồi.

Tích lũy nghiệp: Là nghiệp được cất chứa từ đời này sang đời khác.

Do vì nghiệp trên mà chúng ta lãnh thọ quả báo trong đời này và đời sau.

Có 3 loại quả báo:
Hiện báo là nghiệp thiện ác do đời này làm ra và ngay đời này chịu quả báo.
Sinh báo là nghiệp thiện ác đã được tạo ra đời này đến đời sau mới thọ quả.
Hậu báo đó nghiệp thiện ác đã được tạo ra từ nhiều đời kiếp của quá khứ nhưng đến đời này hoặc nhiều đời sau nữa mới chịu quả báo.

Đặc tánh của nghiệp
Đời sống của chúng ta do năng lực hành động của chúng ta tạo thành. Năng lực ấy được gọi là nghiệp lực.

Ví dụ: tu tập 5 giới thì nghiệp lực sẽ dẫn dắt chúng ta đến cõi người.
Hình ảnh
Phải cố gắng tu tập để ra khỏi nghiệp báo thế gian (ảnh minh họa)


Thế giới loài người này được gọi là y báo. Thân thể của chúng ta trong đó được gọi là chánh báo. Năng lực hành động của ta và mọi người trong thế giới này tạo thành một đời sống chung gọi là cộng nghiệp. Trong cộng nghiệp có nghiệp riêng của từng cá nhân gọi là biệt nghiệp.


Sực mạnh của nghiệp rất lớn. Phật dạy: “Ngang với sức mạnh tâm trí vật chất sức mạnh của nghiệp là một sức mạnh không thể nghĩ bàn”. Hiểu rõ nghiệp báo ta tránh được những học thuyết tà kiến chủ trương “Tự nhiên sinh”, “thượng đế tạo vật” và “định mạng”.


Thế giới và xã hội mà chúng ta sống không phải là một thực tại bất di bất dịch. Với hành vi, ngôn ngữ và ý tưởng trong sinh hoạt thường nhật, chúng ta sống tạo liên tiếp thế giới và xã hội này.

Tất cả đều biến động không ngừng theo cộng nghiệp và biệt nghiệp.

Vì thế, chúng ta có thể tạo một nếp sống mới đẹp đẽ và an lành nếu chúng ta muốn. Người Phật tử phải nhận thức được khả năng chuyển nghiệp của mình. Hãy chuyển những hành vi ngôn ngữ và ý tưởng xấu xa thành tốt đẹp để thay đổi tình trạng tối tăm và khổ đau của thời hiện tại.

Minh Thiện (Trích bài giảng tại Trường TCPH Đà Nẵng)
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland


Quay về Phật học vấn đạo

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến1 khách

cron