Diễn đàn Tu viện Phật giáo Việt nam


Ý nghĩa "Dâng hương cúng Phật" - Nghi lễ Phật giáo bắc truyề

Kính mong quý Chư Tôn Đức Tăng, Ni và quý Cư sĩ hoan hỷ viết vài dòng về Phật pháp và Phật học vấn đạo.

Các điều hành viên: Sen Hong, Bất Nhị, Phattutaigia, Nguyên Chiếu

Ý nghĩa "Dâng hương cúng Phật" - Nghi lễ Phật giáo bắc truyề

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 4 25 Tháng 6, 2014 4:13 pm

Dâng hương cúng Phật,

Thắp hương cúng Phật,

Xông hương cúng Phật.


Là nét văn hoá đặc trưng của Tăng Tín đồ Phật Giáo Bắc Truyền. Người Đông phương khi nhắc đến đi chùa lễ Phật hay đến đình chùa miếu mạo lễ các bậc Tiên Thánh thiện Thần, điều trước tiên mọi người nghĩ đến là phải thắp hương cúng dường.

Khi có duyên sự cần cầu nguyện Chư Phật Bồ Tát hay khấn vái các vị Thánh Thần để hộ trì, thì cũng dùng hương để gởi lời nguyện cầu của mình đến chư Phật Bồ Tát các bậc linh thiên.

Thắp hương cúng dường có mặt hầu hết trong các nghi thức, lễ tiết quan trọng cũng như trong sinh hoạt thường ngày của Tăng Tín đồ Phật Giáo Bắc Truyền.
[/color]
Hình ảnh


I. Truyền thống thắp hương cúng Phật trong Phật Giáo có từ thuở Đức Phật còn tại thế, trong Kinh Trường A Hàm quyển thứ hai Kinh Du Hành chép:“Đệ tử của Phật vì Đức Thế Tôn cất Tịnh Xá to lớn, chỉnh lý sửa sang quét dọn lại sân vườn, đốt hương cúng dường.”

Trong Kinh Phật Thuyết Giới Đức Hương cũng có chép: “Ngài A Nan lấy hương làm đề tài để thỉnh Phật thuyết pháp, Đức Phật tuỳ duyên khai thị, người tu trì thập thiện, đức hạnh được vang xa, cũng như hương báu có mùi vi diệu được mọi người tán thán.”

Trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa phẩm 19 Pháp Sư Công Đức chép:“…Như có người trì Kinh Pháp Hoa, có thể thành tựu 800 công đức của mũi căn, được mũi căn thanh tịnh, có thể ngửi được các loại hương thơm của các loại hoa trong tam thiên đại thiên thế giới.”


II. Tục xông hương, đốt hương hoặc thoa hương lên người có nguồn gốc từ Ấn Độ, do khí hậu khô nóng, thường ra mồ hôi cho nên thoa hương lên người để trừ khử mùi hôi, thứ nữa thời tiết nóng nực khô hanh thường làm cho không khí oi bức khó chịu, xông hương lên làm tan đi cảm giác khó ở tạo nên không khí thơm nhẹ dễ chịu cho nên người Ấn Độ thường xông hương trong nhà.

Từ những đặc điểm trên hương liệu trở thành vật liệu hữu ích và quý giá cho nên chỉ có tầng lớp Tu sĩ Bà La môn. Hoàng Gia, quý tộc mới có đủ điều kiện để sử dùng và dần dần trở thành cúng phẩm quý giá của những người thuộc các giai cấp dâng lên hiến cúng thần thánh trong các nghi tiết tôn giáo.


Đức Thích Tôn thành đạo Bồ đề bậc tôn quý nhất trên cỏi trần, thầy của trời người, cho nên chẳng những loài người dâng hết thảy các loại hương báu để cúng dường Ngài, mà chư Thiên cũng đem chủng chủng các loại thiên hương đến cúng dường Phật.

Vì vậy xông hương, thắp hương, ướp hương cúng dường Phật là một nghi tức để đệ tử tỏ lòng cung kính cúng dường đối với Đức Phật, là nghi tiết không thể thiếu đối với Tăng Tín đồ Phật Giáo:

“Nguyện thử diệu hương vân, biến mãn thập phương giới, cúng dường nhất thiết Phật ,Tôn Pháp chư Bồ Tát, vô biên Thanh Văn chúng, cập nhất thiết Thánh Hiền.”


III. Đại Thừa Phật Giáo hưng khởi cúng dường hương cho Phật đã trở thành một nghi tiết quan trọng không thể thiếu trong Phật Giáo Đại Thừa cho nên các vị Đại Thừa hưng giáo Tổ sư đều có những tác phẩm nói về hương, như...

Ngài Long Thọ Đại Luận Sư có bộ “Hương Hàm Bảo Man” và “Hoà Hợp Hương Pháp”
Ngài Đông Phương Chi Quang, Đại Đường Huyền Trang Tam Tạng Đại Pháp Sư trong bộ Đại Đường Tây Vực Ký có chép về những loại hương được nhắc đến trong Kinh Pháp Hoa như:

“Tu Mạn Nhiễm Hoa, Xà Đề Hoa Hương, Ba La Hoa Hương, Thanh Xích Bạch Liên Hoa Hương, Hoa Thụ Hương, Quả Thụ Hương, Chiên Đàn Hương, Trầm Thuỷ Hương, Đa Ma La Mạt Hương, Đa Già La Hương, Câu Đà La Thụ Hương, Mạn Đà La Thụ Hương, Thù Sa Hoa Hương, Man Thù Sa Hoa Hương.v.v…”

***
**
*
IV. Từ Buổi đầu lịch sử khi Phật Giáo truyền đến phương Đông, Tín ngưỡng thờ cúng của Phật Giáo là phương pháp hữu hiệu để truyền đạt chân đế của Phật Đà và đồng thời là con đường nhanh nhất đưa Đạo Phật hoà nhập vào trong xã hội, phong tục tập quán của người bản xứ, trong Hán Đường Phật Giáo Tư Tưởng Luận Tập chép:

“Thời Nhà Hán hoàng gia và quý tộc vì tìm cầu thuật trường sanh, nên trong cung lập đền thờ Phật để cầu sự gia hộ của Phật để được trường sanh bất tử…


Đương thời Tôn Giáo tại Trung Quốc có ưu thế là lo việc thờ tự cúng kiến cho thế lực thống tri cho nên Phật Giáo khi mới truyền vào cũng biến thành một trong những tôn giáo phục vụ cho việc cúng kính và cầu nguyện” .


Trong Hán Nguỵ Lưỡng Tấn Nam Bắc Triều Phật Giáo Sử cũng cho rằng: “Phật Giáo Thời Nhà Hán được coi nư một tôn giáo chuyên về thờ cúng với học thuyết đặc thù quỷ thần và báo ứng.”,

Trong Hậu Hán Thư có đoạn Nhượng Giai Thượng Thư nói: “Lại nghe trong cung có lập đền thờ Hoàng Lão Phù Đồ, đây là đạo thanh tịnh hư vô, quý trọng vô vi…”.


Lễ nghi cúng kính cầu nguyện thì không thể thiếu thắp hương để khấn vái cho nên từ rất sớm trong những bộ sách xưa có nói về tục thắp hương hành lễ của Phật Giáo.

Trong Nguỵ Thư Thích Lão Chí có đoạn chép: “…Côn Tà Vương giết Hưu Đồ Vương…chiếm được tượng người vàng (Đức Phật thời ấy được gọi là kim tiên) Vua Nhà Hán cho là vị Đại Thần đem thờ trong cung Cam Tuyền…đốt hương lễ bái…”

Trong sách Ngô Chí có đoạn chép về thời kỳ đầu Phật Giáo du nhập vào Việt Nam cũng chuyên về tín ngưỡng thờ cúng, thắp hương lễ bái: “…ở Giao Châu…khi ra đường người ta thương nghe tiếng kiển, lẫn tiếng trống kèn những người rợ Hồ ( chỉ các vị Tăng và Phật tử người Ấn) đi theo thắp hương hai bên có từng đoàn xe có mười người..”.


V. Văn hoá thắp hương cúng Phật đến với Phật Giáo Bắc Truyền sớm nhất trong tất cả các truyền thống văn hoá Phật Giáo khác, khi đến với Phương Đông loại hình văn hoá này như được chắp thêm cánh vì nó hấp thụ hết thảy những kiến thức văn hoá khoa học về hương liệu của người phương Đông, và nó thăng hoa vì sự tinh tế trong triết lý sống cũng như hoà mình vào thiên nhiên của người Đông Độ, nó huyền ảo hơn trong nghệ thuật huyền học tiên khí của nền kiến thức Lão Nho.
Văn hoá dâng hương cúng Phật trong Phật Giáo Bắc Truyền được chia ra hai loại chính đó là Huân Hương và Phần Hương.


1- Huân Hương: dùng các loại hương phẩm nguyên gốc có mùi vị đặc trưng như hương cây cỏ, hương của trái cây, hương của tinh dầu, những loại này không cần thông qua một điều kiện nào như xông hay đốt để có mùi hương mà chính từ bản thân của loại hương đó tự nhiên toả hương, làm cho Phật Điện cũng như tượng Phật và nơi thờ Phật thoang thoảng mùi hương đó là loại thứ nhất gọi là Huân Hương cúng Phật.


2- Phần Hương: Còn goi là thắp hương, đốt hương, loại hương này được chế từ các loại cây cỏ có hương vị tổng hợp tạo thành, những thành phần trong hương dùng để đốt thường có Hương của cỏ, Hương của cây, Hương của hoa, Phấn hương, các loại bột trộn vào để trợ hoả khi đốt như Não hương, Cam thảo, Đinh hương và Nhục Quế.

Khi tạo các loại hương cao cấp người ta thường dùng Trầm hương hay Chiên Đàn hương, những loại bột hương này sau khi được phối trộn xong, người ta tạo thành các loại hương mà tuỳ theo khi sử dụng mà có hình dáng khác nhau.


Thường thì nững thể loại hương được dùng trong các nghi lễ của Phật Giáo Bắc Truyền có ba loại:

Nhang cây, nhang vòng và nhang có hình trụ và các loại Hương này khi dâng lên cúng dường Phật đều phải đốt thì mới có mùi hương, tất cả những thể loại hương này đều không còn thuần nguyên chất mà đều là hợp hương.


VI. Thắp hương cúng Phật thường thì ta thắp một cây hoặc ba cây. Một cây hương tượng trưng cho ý nghĩa “Nhất thiết biến lễ sát trần Phật” là dùng một nén hương này dâng lên đãnh lễ cúng dường hết thảy mười phương chư Phật chư Đại Bồ Tát chư Hiền Thánh Tăng trong mười Phương.

Ba cây hương tượng trưng cho Giới Hương, Định Hương và Huệ Hương, nguyện đem hết thảy lòng thành kính tâm nguyện tu Giới, tu Định, tu Huệ của mình dâng lên cúng dường hết thảy Tam Bảo trong Mười Phương và nguyện cầu sự gia hộ của Tam Bảo làm cho chí tu học của mình luôn vững bền và một ngày không xa sẽ đến được Đạo Tràng của chư Phật.


Thắp hương cúng dường Phật luôn làm cho tâm ta định về một chổ, và rất dễ dàng để cho tâm của mình và chư Phật tương ưng, sự tương ưng này làm cho tam nghiệp của chúng ta hoàn toàn thanh tịnh mà đã thanh tịnh rồi thì trong giây phút đó chúng ta đến được đạo tràng của chư Phật chứng được Đạo Bồ Đề, trong Du Già Diệm Khẩu Yếu Tập có đoạn chép:

“Thân thường thanh tịnh chứng Vô Thượng Đạo, Khẩu thường thanh tịnh chứng vô thượng đạo, Ý thường thanh tịnh chứng Vô Thượng Đạo.”.

***
**
*

VII. Trong hầu hết các nghi thức trong lễ nghi của Phật Giáo Bắc Truyền như: tụng Kinh, ngồi Thiền, lễ tắm Phật, Đàn tràng Thuỷ lục, lễ khai quang, truyền giới, phóng sanh, cầu an, cầu siêu, chẩn tế..v.v.. hầu như không thể thiếu nghi thức nguyện hương, thắp hương cúng Phật và trong mỗi nghi thức dâng hương cúng Phật đều có tên gọi riêng biệt để phân loại Pháp Hội ý nghĩa.
***
**
*
Khi tín đồ vô chùa thắp hương lễ Phật thì được gọi là “Khách Hương” đem hương vào chùa cúng dường để thắp hương cúng Phật được gọi là “Kính Hương” hoặc là “ Tấn Hương”.

Phật tử đem tiền cúng chùa dể mua hương cúng Phật gọi là “Hương Tư”
Chùa nhiều Phật tử gọi là “Hương Hoả Đảnh Thạnh” Bài chư tăng đọc khi cúng hương gọi là “Hương Tán” bàn Phật gọi là “Hương Án”

chư Tăng tại Phật tiền cúng hương gọi là “Nguyện Hương” hay là “Niệm Hương”
những trai chủ phát tâm làm Pháp Hội khi dâng hương cúng Phật gọi là “Thượng Hương”
đại diện cho người khác dâng hương gọi là “Đại Hương”.

Hình ảnh

Trai chủ thiết trai cúng dường chư tăng trước nên dâng hương nhiễu quanh đại chúng cúng dường hoặc thắp hương nhiễu tháp gọi là “Hành Hương”

lễ Phật đạt tới Đại Thừa cảnh giới gọi là “Tâm Hương” cùng nhau Phát tâm tín phụng Phật Pháp, cùng nhau tu hành, tâm đầu ý hợp gọi là “Hương Hoả Nhân Duyên” người lo việc hương hoả trong chùa gọi là “Hương Đăng”.

Chưởng quảng về bộ phận hương đền gọi là “Hương Ty” Ngồi Thiền có đốt hương để làm thời gian biểu gọi là “Toạ Hương”
Ngồi Thiền xong đứng lên đi nhiễu Phật gọi là “Bào Hương” Thiền bản dùng để cảnh sách chư tăng khi toạ thiền gọi là “Cảnh Sách Hương Bảng” dùng trong Giới Đàn gọi là “Thanh Quy Hương Bảng”

Phật Điện cũng còn gọi là “ Hương Điện” nhà bết trong chùa gọi là “Hương Thụ” còn người tu hành khi phạm thanh quy bị phạt thì gọi là “Quỳ Hương”.


VIII. Dùng Hương cúng dường Phật là pháp môn cúng dường tối thắng nhất, đồng thời thể hiện hết tấm lòng cung kính đối với Phật và tượng trưng cho phiền não đã được gội rữa, trong thân và tâm cảm thấy được an lạc, được như vậy mới đúng như ý nghĩa cúng dường Phật.trong các Kinh Đại Thừa hầu như luôn có những phần nói về cúng dường hương cho Phật.

Trong Kinh Đà La Ni Tập quyển 3 có chép về 21 loại cúng dường cho Phật trong đó có nói đến hương: “Hương Thuỷ, hương để đốt và các loại hương thơm, dùng những thứ hương đó dâng lên cúng Phật..”

Trong Kinh Tô Tất Địa có chép 5 loại cúng dường: “Bột hương, hương để đốt, hoa, đèn, ẩm thực”, trong “Hành Pháp Can Diệp Sao” chép: “sáu Pháp cúng dường tượng trưng cho sáu Ba La Mật…Hương thuỷ tượng trưng cho Giới Ba La Mật..”.


Thắp Hương cúng dường Phật làm cho chúng ta khởi tâm cung kính chí thành đến với Tam Bảo, thâm tín Tam Bảo, có công năng làm cho ta có thể hoà nhập vào tâm từ bi và trí tuệ của Phật và Bồ Tát, lại khiến cho ta luôn phát tâm dõng mãnh tinh tấn trên con đường học theo ngôn hạnh của Phật và Bồ Tát.

Đốt hương cúng Phật là tu Phước nếu như ta khi niệm hương với tâm chí thành không loạn “Tâm Hương Nhất Biện” thì tự nhiên sẽ cảm ứng được với Chư Phật, như vậy mới đạt đến cảnh giới của “Giải Thoát Tri Kiến Hương”.
Thích Tâm Mãn
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Ý nghĩa "Dâng hương cúng Phật" - Nghi lễ Phật giáo bắc t

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 4 25 Tháng 6, 2014 4:39 pm

NGHI LỄ CÚNG KHẤN
THÍCH VIÊN THÀNH


NỘI DUNG NGHI LỄ

Đức Phật Thích Ca đã giáng sanh tại thành Ca Tỳ La Vệ, xứ trung Ấn Độ (trước Tây lịch 624 năm). Thời bấy giờ đã có đến 94 thứ Đạo, thế mà Đức Phật còn ra đời làm gì nữa? Chẳng qua các Đạo ấy tuy nhiều mà chưa được toàn: CHƠN, THIỆN, MỸ. Đức Phật mới ứng thân thị hiện để hướng dẫn cho chúng sanh chuyển Mê thành Ngộ, thấy Tánh tỏ Tâm, vượt Sống khỏi Chết, lìa Khổ được Vui, hầu chứng Đạo quả VÔ THƯỢNG CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC.

Đạo Phật từ Ấn Độ truyền sang Trung Hoa. Tây Lịch năm 67, Nghi Lễ của Phật Giáo, làm pháp môn hoằng hóa , hướng dẫn những kẻ sơ cơ nhập Đạo một cách rất đắc lực.

Thời gian Đạo Phật Bắt Tông, từ Trung Hoa (thuộc thế kỷ thứ I) và Nam Tông, Miên, Thái, Lào truyền sang, thịnh hành ở Việt Nam, rộng rãi trên Thế Giới đến ngày nay. Phần đông dân số nước ta là tín đồ Phật Giáo. Đạo Phật là Đạo hiếu, hạnh Phật là hạnh hiếu, tâm Phật là tâm hiếu.

Người theo Đạo Phật chính nhờ đạo lý duyên phúc nhiều đời tổ tiên hoặc do tình cảm với thân quyến, hay do ý thức trải nghiệm khổ đau của trần thế, Đạo Phật đã đi sâu vào quần chúng, để chia xẻ nỗi buồn vui trong lúc họ có ma chay, cưới hỏi. Nhờ vậy mà đa số dân tộc Việt Nam đã phát tâm quy y ngưỡng mộ Đạo Phật.


Nghi lễ là một pháp môn hoằng Đạo không thể thiếu được. Do pháp môn này, nhiên hậu chúng ta lần lượt đưa người vào chỗ hiểu đúng giá trị cao siêu và lợi ích rộng lớn của Đạo Phật. Muốn đáp ứng nhu cầu nói trên, cần phải có một tài liệu Nghi Lễ để học tập. Nói riêng VN về Nghi Lễ Phật Giáo Bắt Tông quá phong phú đa dạn.


Ý NGHĨA NGHI LỄ

Khi nói đến Nghi Lễ chúng ta cần phải hiểu qua nhiều ý nghĩa:

Nghi: Nghi thức, lễ nghi, lễ phép, khuôn phép, oai nghi.v.v..
Lễ: Lễ giáo, lễ nhạc, lễ bái, cúng tế, tôn thờ, cung kính.v.v...


Nghi Lễ là chỉ chung cho nghi thức tụng niệm hành lễ, sinh hoạt, trong phạm vi tín ngưỡng thờ phụng. Bất cứ một tôn giáo hay một tập thể nào, đều phải có những hình thức Nghi Lễ. Mặc dầu trên thể thức âm điệu có phần sai khác, nhưng mục đích vẫn là chí thành cầu nguyện, nhờ có sinh hoạt lễ nghi mà đưa người vào Đạo Phật một cách dễ dàng.

Ví dụ: Cầu an, hôn lễ, nhà mới, bệnh hoạn, tai nạn... bắt đầu cho sự xây dựng gia đình, thờ tự chư Phật, Bồ Tát, ông bà tổ tiên, cầu siêu bạt độ kẻ lâm chung, người chiến sĩ, đồng bào hồn thiêng, vị quốc vong thân, oan hồn uổng tử không nơi nương tựa v.v...Đó là những phương tiện thực tế để điều hòa tâm lý, gieo rắc tình cảm, an ủi tinh thần cho người còn cũng như kẻ mất đem lại nhiều lợi lạc.

Vậy hành giả cần phải học tập và hiểu rõ ý nghĩa về Nghi Lễ. Mỗi khi hành lễ, muốn được điều hòa âm thanh nhịp nhàng trang nghiêm và linh cảm, cần phải có những pháp khí để làm phương tiện hổ tương trong những khóa lễ như sau:


TIẾT THỨ LÀM NGHI: - Chuông trống Bát Nhã. - Cử nhạc khai đàn. - Chủ lễ đăng điện - Cử nhạc tham lễ. - Chủ lễ niệm hương. - Dâng hương - tác lễ.

Muốn trang nghiêm, trọng thể, ban nghi lễ thành tâm bưng khay trầm hương hoa, khánh, linh, đến trước Chư Tôn Đức hành lễ, đặc trên bàn.

Một lạy quỳ thưa thỉnh: “Kính bạch Chư Tôn Đức đã đến giờ hành lễ, chúng con cung thỉnh Chư Tôn Thiền Đức quan lâm đạo tràng hành lễ. Ngưỡng mong Chư Tôn từ bi nạp thọ”.

Chư Tôn đồng thanh niệm: “Nam Mô A Di Đà Phật”, tức đã liễu tri nhận cho rồi.

Ban nghi lễ, thưa: “Kính bạch Chư Tôn Thiền Đức đã hoan hỷ hứa khả cho rồi, chúng con xin chí thành đảnh lễ cúng dường ba lạy”, đứng dậy đánh khánh, bưng khay trầm, đèn, hoa dẫn đường đi trước, tiến về đạo tràng hành lễ, nếu có lọng, bê, tích, trượng đi hai bên càng trang nghiêm, đến nơi đứng, để pháp khí, đồ lễ hai bên, Chư Tôn Đức hành lễ.

Trong lúc bắt đầu rước, đánh chuông trống bát nhã thỉnh đi...Tổ chức các lễ lộc trang trọng đều như thế. Nếu có nhạc sẽ thêm vào.
***
**
*
Bài Kệ Chuông Trống Bát Nhã: (song hành là có chuông) Bát nhã hội (3 lần). Thỉnh Phật thượng đường (1 lần). Đại chúng đồng văn (1 lần), Bát nhã âm (1 lần). Phổ nguyện pháp giới (1 lần), Đẳng hữu tình (1 lần), Nhập Bát Nhã (1 lần), Ba La Mật Môn (5, 10, 20 lần một hồi, tùy theo ngắn hay dài ba hồi)
(Nghĩa là : Thỉnh chư Tăng, Phật tử vào chánh điện, hay nơi hành lễ. Xin tất cả quý vị hiện diện lưu ý trang nghiêm).


LỜI KHẤN NGUYỆN CÚNG LỄ
Xưa nay lưu truyền nhiều lời khấn nguyện rất linh nghiệm. Như Thái Tử Tất Đạt Đa ngồi dưới gốc cây Bồ Đề (Tất bát la ở Ấn Độ) nguyện nếu ta không thành Đạo, thì dầu thịt nát, xương tan, cũng quyết không đứng dậy khỏi chổ này. Với ý chí hùng dũng cương quyết ấy, sau 49 ngày đêm tư duy, Ngài thấu rõ chân tướng của vũ trụ nhân sanh và chứng Đạo Bồ Đề.


Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi bài khấn Vua Lý Thái Tổ. Lời lẽ rất linh thiêng cảm động đến cả quỷ thần, chép rằng: Năm Nhâm Tý 1012, Vua tự cầm quân đánh trận ở Diển Châu, khi đến đất Tĩnh Gia, Thanh Hoá, gặp lúc trời đất tối tăm sấm gió dữ dội, Vua đốt hương thành tâm nguyện rằng:

Tôi là người ít đức, lạm ở trên dân, nơm nớp lo sợ như sắp sa xuống vực sâu, không dám cậy binh uy mà đi đánh dẹp càn bậy. Chỉ vì người Diễn Châu không theo giáo hóa, ngu bạo làm càn, tàn ngược dân chúng, tội ác chất chồng, không thể dung tha. Còn như trong khi đánh nhau, hoặc giết oan kẻ trung hiếu hiền lương, đến nỗi hoàng thiên nổi giận, tỏ ý trách móc chỉ bảo. Tôi dẫu gặp tổn hại không giám oán trách. Như quân sĩ có ai sai phạm, thì nên dung thứ, xin trời cao soi xét chứng giám.


Lạ thay, lời nguyện vừa dứt thì trời quang mây tạnh, ba quân vô cùng mừng rỡ. Ấy là điều ghi trong chánh sử, còn trong dân gian thì lưu truyền biết bao câu chuyện linh hiển.


Người VN rất coi trọng lễ nghĩa. Người xưa có câu: “Tiếng chào cao hơn cổ”. Thường nhật có công việc gì bày biện cổ bàn thịnh soạn, mời mọc khách khứa đến nhà. Ông chủ không có lời mời trước, khách nào dám cầm đũa. Đến diệp Tết lễ, nếu như mâm cao cổ đầy, dâng lên cầu cúng, không có lời khấn nguyện, thì ai biết chứng cho. Vậy dâng lễ cần có lời khấn nguyện để giải tỏ lòng thành.


Đây là một tập tục của người VN. Nó phản ảnh một khác vọng sống, chân chánh, mong được sống ấm no hạnh phúc. Vậy điều cốt yếu lời khấn nguyện thế nào? là bày tỏ tâm thành cầu xin đấng linh thiêng, oai lực Chư Phật Bồ Tát…Chủ yếu là thành tâm, chứ chẳng phải lời văn hoa mỹ, cầu kỳ, cũng chẳng phải cầu cho nhiều là được. Nhất niệm thông tam giới. Nhất niệm chí thành thiêng linh cảm cách...


Ngày nay có người dâng hương truyền thống, nhưng lại canh tân chỉ cần thắp hương, đến trước bàn thờ, chẳng mật niệm, chấp tay, khấn vái, đó là tuỳ tâm.

Nhưng cần nghĩ, chỉ nên bỏ phần rườm rà, mê tín dị đoan, giữ lại cái hay đạo lý, triết lý cổ nhân, vẽ đẹp văn hoá, mang tính cách giáo dục thuần phong mỹ tục đạo đức của cha ông thầy tổ, song không ít người phải lúng túng, chẳng biết khấn nguyện ước muốn ra sao? để bày tỏ với Tổ Tiên, Phật Thánh…Vì thế mới có lời khấn nguyện này, hầu giúp phần nào cho người thực thi tín ngưỡng dễ đọc, dễ biết, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ lưu truyền để phát huy nét hay, đẹp, đạo lý của dân tộc Việt.


Điều cần lưu ý: Mặc dù tiết, lễ đơn sơ, nhưng cũng phải có những qui ước như:

-Cúng thần nội (Tổ tiên): thì không nên nhập quán xưng quốc hiệu, địa chỉ.

-Cúng thần ngoại (Thổ công,Táo quân,Thần thánh): thì phải nhập quán xưng quốc hiệu. địa chỉ...

Phong tục thờ cúng, để được tiện dụng, xin chia nhiều loại: Lễ tại gia, tại chùa, đình đền, miếu phủ, tượng đài, nghĩa trang, nhà quàn, hội trường, cộng đồng tổ chức v.v... không phân biệt sang hèn, trẻ già, nam nữ, đều có thể sử dụng.

***
**
*

Lễ Giao Thừa Ngoài Trời:
Nam Mô A Di Đà Phật (3 lần)
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam Mô Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật.


Nay phút thiêng giao thừa vừa tới, năm cũ đã qua, đón mừng năm mới, tam dương khai thái, vạn tượng canh tân, lưu phúc lưu ân, hiếu sanh tiếp lộc. Nhân buổi tân xuân, chúng con thành tâm, sắm sửa phẩm vật, cúng dường Phật Thánh, kính hiến Thánh Thần, dâng nén tâm hương, thỉnh giáng lai lâm chứng kỳ lễ vật. Chúng con nguyện, minh niên khương thái, trú dạ cát tường, gia tăng phước thọ.Trải tấm lòng thành cúi xin chứng giám. Cẩn cáo.


Lễ Trong Nhà Bàn Phật, Tổ Tiên Ngày Mùng 1 Tết Nguyên Đán:
Nam Mô A Di Đà Phật (3 lần)
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam Mô Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật.

Cẩn tấu Chư vị Đường trung chiêu mục, Cửu Huyền Thất Tổ Cao Tằng Tổ khảo tỷ, bá thúc, huynh đệ, cô di, tỷ muội, nam nữ, nội ngoại, hữu danh, vô danh, chư hương hồn, thỉnh đáo gia đường thọ tài hưởng thực.

Nay theo tuế luật, âm dương vận khí lưu hành, nguyên đán đầu xuân, đón mừng năm mới. Con cháu tưởng niệm ân đức Tổ Tiên, sánh như trời biển. Do đó. Toàn thể con cháu, đem lòng thành kính, sắm
sửa lễ nghi, hương hoa trà quả, thứ phẩm kính dâng, cuối xin chư vị Tổ Tiên linh thiêng chứng giám. Phù hộ cho con cháu người gần kẻ xa, năm mới khương an, sự nghiệp hanh thông, bình an hạnh phúc. Trải tấm lòng thành, tri ân Tiên Tổ, cầu xin chứng giám. Cẩn tấu.


Ý NGHĨA TÁN TỤNG NIỆM
Tụng: Đọc tụng kinh, chú Phật dạy. Niệm: Suy nghĩ, nhớ tưởng bi trí danh hiệu và tướng tốt của Đức Phật. Tụng niệm mục đích để làm cho tâm và miệng được hợp nhất vào câu Kinh tiếng Pháp của Phật. Tụng niệm để giữ ba nghiệp cho được thanh tịnh, trang nghiêm và huân tập những điều hay tốt, đồng thời ôn lại những lời chánh đạo, chánh pháp Phật dạy, để làm phương châm đời sống hằng ngày và huân tập giống Bồ Đề giải thoát cho mình cùng người. Tụng niệm để làm cho Pháp âm lưu chuyển trong nhân gian, cảm hóa mọi người cải tà qui chánh và khuyến khích, nhắc nhở mình, người cùng tất cả chúng sanh trên đường làm lành học Đạo, an lạc giải thoát. Vậy Phật tử bất luận tại gia hay xuất gia, đều cần phải học và hiểu ý nghĩa Nghi Lễ tụng niệm.


TỤNG NIỆM ĐỂ CẦU AN VÀ CẦU SIÊU
Ý nghĩa cầu an, mục đích sám hối dứt trừ nghiệp chướng, diệt những tai ương, phước huệ trang nghiêm, thân tâm an lạc, đạo tâm tăng trưởng, chóng thành chánh giác.

Ý nghĩa cầu siêu, mục đích kỳ nguyện hối lỗi giúp người, hầu chuyển nghiệp nhân, khiến họ xa lìa quả báo khổ đau, khỏi cảnh tối tăm đọa đày, cầu cho thần thức nhẹ nhàng, siêu sanh Phật Quốc, chóng thoát luân hồi. Trong Kinh Phật dạy: Tụng niệm và làm các việc phước, đem công đức ấy hồi hướng cho hương linh, cũng như gởi lương hướng cho người đi xa vậy.

Đó là ý nghĩa cầu siêu và cầu an trong việc cần làm của Phật tử đối với người còn kẻ mất vậy.
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland


Quay về Phật học vấn đạo

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến1 khách

cron