Diễn đàn Tu viện Phật giáo Việt nam


Diễn đàn Tu Viện Phật Tử, Quý I-2015

Chuyên mục tin tức về Phật giáo trong và ngoài nước.

Các điều hành viên: Sen Hong, Bất Nhị, Quảng Hòa

Re: Diễn đàn Tu Viện Phật Tử, Quý I-2015

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 4 25 Tháng 2, 2015 2:02 pm

I. Giới học Ngày 25-02-2015 ( 07 tháng 1 năm Ất Mùi.)

CHÁNH NGỮ (SAMMÀ-VÀCÀ)

3. Nói ly gián hay nói hai lưỡi (Pisunàvàcà: ly gián ngữ)

là điều ác kế tiếp mà cái lưỡi có thể phạm, từ Pàli Pisunàvàcà nghĩa đen là "Phá vỡ tình bạn". Vu khống người khác là một điều độc ác nhất vì nó đòi hỏi phải đưa ra một lời tuyên bố dối trá với ý định làm hại thanh danh của người khác. Người nói lời ly gián thường phạm vào hai tội ác một lúc, vì lời vu cáo của họ không đúng sự thật nên họ đã phạm tội nói láo và sau đó họ còn phạm tội đâm thọc sau lưng người khác (ly gián).

Trong thi ca văn kệ Sanskrit người đâm thọc sau lưng người khác được so sánh với con muỗi tuy nhỏ nhưng rất độc. Nó bay đến với tiếng hát vo ve, đậu lên người bạn, hút máu và có thể, nếu là muỗi cái, truyền bệnh sốt rét vào bạn. Lại nữa những lời lẽ của người đâm bị thóc, thọc bị gạo này có thể ngọt ngào như mật ong, nhưng tâm địa của họ đầy nọc độc.

Như vậy chúng ta hãy tránh lời nói đâm thọc hay lời nói ly gián phá hủy tình thân hữu. Thay vì gây chia rẽ, chúng ta hãy nói những lời đem lại sự an vui và hoà giải.
Thay vì gieo hạt giống phân ly, chúng ta hãy mang an lạc và tình bạn đến những ai đang sống trong bất hoà và thù nghịch
.
(Ngày 25-2-2015, bài 4 - 4/6 Re: Bát Chánh Đạo: 3.Chánh ngữ. Tỳ khưu Pháp Thông)
*****************
Diễn đàn ghi chú:
Trong Pháp Kệ có nói rằng, người nín thinh ít nói thì chê ít nói, người nói nhiều thì cho lắm lời. Còn nói vừa vừa thì cũng trách là hiểm, là ít kỷ, là khó tánh...Thế gian không thể nào tìm cho được một người hoàn toàn bị chê bai hay trọn vẹn được khen ngợi. Thì tất nhiên tiếng đồn, thị phi của kẻ đâm thọc, nói lời ly gián sao tránh khỏi.
Nếu chúng ta không đủ bình tỉnh thì cũng bị ngay vòng thị phi của sân si. Do đó cần sáng suốt hơn đối với kẻ ấy, và ngược lại ta muốn nói lời không rõ đạt tình lý để người bị hàm oan thì cũng không nên làm.
Cần khéo như lý tác ý vào Chánh ngữ thì mới mong bớt được họa của cái lưỡi hai chiều. "lưỡi không xương trăm đường lắt léo, chính là nó vậy''.

*** *** *** *** *** ***
(Ngày 16-2-2015, Hết bài 2- ) Re: Tu Là Chuyển Nghiệp: Hòa Thượng Thích Thanh Từ
(Ngày 10-2-2015, đọc tiếp bài 3) Re: Bát Chánh Đạo: 4.Chánh nghiệp
(Ngày 2-2-2015, hết bài 1) Bát Chánh Đạo: 5 Chánh Mạng T.T Thích Đức Thắng.
(Ngày 22-1-2015 đọc tiếp bài 3) Re: Chánh mạng: nhiều Tác-giả

***********************************************************************
1. Diễn đàn Tu viện Phật tử
, Click >>> Forum: Or Forum.
2. Nhân sinh quan
:
(Ngày 12-2-2015) Tiêu điểm: Tết Ất Mùi 19-2-2015

*** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** ***
II. Định Học

7. Nhiệm vụ của Chánh Tinh Tấn có bốn là: Tinh tấn ngăn ngừa (Samvara), tinh tấn đoạn trừ (Pahàna), tinh tấn tu tập (Bhavàna) và tinh tấn duy trì (Anurakkhana).

Thế nào là tinh tấn ngăn ngừa?
'Ở đây, vị Tỳ khưu vì mục đích khiến cho các ác bất thiện pháp từ trước chưa sanh không cho sanh khởi, khởi lên ý muốn cố gắng, phát triển nghị lực và củng cố tâm mình (để đạt được mục đích này)'.
'Ở đây, vị Tỳ khưu thấy một sắc, nghe một tiếng, ngửi một mùi, nếm một vị, xúc chạm một vật hay nhận thức một pháp trần, không nắm giữ tướng chung, không nắm bắt tướng riêng (đó là vị ấy không bị tác động bởi những nét chung hay bởi những chi tiết của chúng). Những nguyên nhân gì, vì nhãn căn không được ngăn ngừa, khiến tham ái, ưu bi và các ác bất thiện pháp khởi lên, vị ấy tự mình áp dụng sự chế ngự như vậy, vị ấy phòng hộ các căn, chế ngự các căn. Ðây gọi là 'tinh tấn ngăn ngừa'.

Thế nào là tinh tấn đoạn trừ?

'Ở đây, vị Tỳ khưu vì mục đích đoạn trừ các ác bất thiện pháp đã sanh khởi lên ý muốn cố gắng phát triển nghị lực và củng cố tâm mình (để đạt được mục đích này)'.
'Ở đây, vị Tỳ khưu không chấp nhận những tư duy tham dục đã khởi sanh, mà từ bỏ, đoạn trừ và khước từ những tham dục ấy, chấm dứt nó và khiến cho nó không còn hiện hữu. Ðối với các tư duy sân hận và não hại đã khởi lên cũng vậy. Ðây gọi là tinh tấn đoạn trừ.

Thế nào là tinh tấn tu tập?
'Ở đây, vị Tỳ khưu vì mục đích tạo ra và phát triển những tư duy thiện chưa sanh khởi lên ước muốn cố gắng phát triển nghị lực và củng cố tâm mình (để đạt được mục đích này)'.
'Ở đây, vị Tỳ khưu tu tập các chi phần Giác ngộ (Thất Giác Chi) y cứ viễn ly, y cứ ly tham, y cứ đoạn diệt đưa đến giải thoát, đó là: Niệm giác chi, trạch pháp giác chi, tinh tấn giác chi, hỷ giác chi, khinh an giác chi, định giác chi và xả giác chi. Ðây gọi là tinh tấn tu tập'.

Thế nào là tinh tấn hộ trì?
'Ở đây, vị Tỳ khưu với mục đích khiến cho các thiện pháp đã sanh có thể duy trì, không có mù mờ, được quảng đại, được tu tập, được viên mãn, khởi lên ý muốn cố gắng phát triển nghị lực và củng cố tâm mình (để đạt được mục đích ấy)'.
'Ở đây, vị Tỳ khưu duy trì một đề mục (thiền định) thuận lợi nào đó... đây gọi là tinh tấn hộ trì'.

Này các Tỳ khưu, như vậy là bốn pháp tinh tấn.
"Ngăn ngừa, đoạn tận, tu tập và hộ trì
Là bốn tinh tấn mà bậc Ðạo Sư,
Bà con của mặt trời đã tuyên bố
Ở đây, vị Tỳ khưu với tinh tấn nỗ lực
Sẽ đạt đến mục đích đoạn tận khổ đau"
.

(Ngày 24-2-2015, đọc tiếp bài 2 - 8/15) Re: Bát Chánh Đạo: 6.Chánh Tinh Tấn
****************
Diễn đàn ghi chú
:5. Chánh tinh tấn tức là nghị lực vận hành của chánh kiến. Ở đây khác với nghị lực của ngũ dục. Nghị lực là sức mạnh của thân tâm sẽ chống các phiền não chướng như: hôm trầm thụy miên và phóng dật..
6. Phần này, chúng ta hiểu thêm sự tinh tân không phải bằng thể lực cho là đủ, mà con phải bằng tâm thức. (Xem lại tứ chánh cần, tứ như ý túc.)
7. Phần này, chúng ta học thế nào gọi là: Tinh tấn ngăn ngừa (Samvara), tinh tấn đoạn trừ (Pahàna), tinh tấn tu tập (Bhavàna) và tinh tấn duy trì (Anurakkhana).
*** *** *** *** *** ***
(Ngày 7-2-2015, đọc tiếp bài 3) Re: Bát Chánh Đạo: 7. Chánh Niệm
(Ngày 3-2-2015 hết bài Tịnh Nghiệp 1: Khi lái xe Tư duy: Pháp hành Chánh Niệm ? Pháp Hành Minh Sát Thực Tiễn, Tác giả Mahasi Saydaw, Dịch giả: Pháp Thông. )
*** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** ***
III. Huệ học

TỪ KINH ĐIỂN TRỞ LẠI CÁI THỰC

8. Đọc cuốn “Chứng Đạo Ca” của Ngài Huyền Giác do một dịch giả nào đó diễn giải. Chúng ta thấy có đoạn ông nói rất đúng, đoạn khác lại sai. Đơn giản chỉ vì ông không thấy điều ngài Huyền Giác thấy. Chỗ đúng chỗ sai của người diễn giải chỉ nằm trong phạm vi ngữ nghĩa chứ không phải là cái lý, cái thực mà Ngài Huyền Giác muốn chia sẻ với chúng ta.

Thử liên hệ một câu chuyện tương tự. Có anh Phật tử kia hay nói về lý vô ngã trong Phật Giáo. Khi được hỏi: Vậy vô ngã là gì?
Anh ta trả lời ngay: “Vô ngã là không có gì là ta, là tôi cả. Ta, tôi, đã không có thì làm gì có ngã sở như cái gọi là xe của tôi, nhà của tôi”!

Nói thế là anh ta chỉ nói theo kinh điển, chính xác hơn là anh ta đang nói theo ngữ nghĩa hay quan điểm lý luận mà anh hiểu thôi.
Thực ra vô ngã thì vốn đã là vô ngã rồi, không ai thay đổi được, còn tôi, ta chỉ là đại từ để tiện xưng hô chứ có ảnh hưởng gì đến vô ngã? Của tôi, của ta cũng vậy, chỉ là quy định với nhau để nhà của tôi tôi ở, xe của anh anh đi, đừng có lộn xộn vậy thôi chứ nó có liên hệ gì đến vô ngã đâu?

Nếu vô ngã để không có cái nhà của tôi, thì ai thấy vô ngã, chứng ngộ vô ngã đều hoặc là đi lang thang không nhà không cửa, hoặc là nhà ai cũng cứ vào ở được hết sao? Tất nhiên là không phải vậy. Cái chính là phá đi ảo tưởng tôi và của tôi. Còn vô ngã thì muôn đời vẫn vậy.

Trường hợp người diễn giảng Chứng Đạo Ca cho ta hiểu một điều là người sau cứ bàn về người trước. Và cứ vậy… ta cứ nghe rằng người dịch là một học giả uyên bác, một nhà nghiên cứu thâm sâu là chúng ta sẵn sàng tin theo, bắt chước theo, không cần biết ông ta nói sai hay đúng với cái thực.

Zen, qua Suzuki chúng ta thấy ông đã lý luận rất là chi ly, rất là uyên bác, nhưng cũng chỉ là lý luận, qua đó ta được giới thiệu về mặt văn học, nghệ thuật, lịch sử và lý thuyết về Zen hơn chính là đạo Zen.
Vì vậy, ta thấy có chỗ nói đúng, có chỗ nói sai. Rồi lại qua ngôn ngữ của các nhà dịch thuật, rồi một lần nữa lại qua tư kiến của đọc giả, không biết trở lại tay Suzuki, có còn được Suzuki chấp nhận không, huống hồ là thấy được cái thực.

Rõ ràng là một người đoán mò, dẫn theo một đoàn người đoán mò. Những đoàn người đoán mò, không biết họ sẽ dẫn nhau tới đâu?

(Ngày 25-2-2015 Xem tiếp bài 1 - 9/19 Tỳ Kheo Viên Minh: Từ Kinh điển trở lại cái thực)
****************
Diễn đàn ghi chú : 4.Triết lý, chính là suy nghĩ về đạo lý. Triết lý thì chỉ thấy được cái nghĩa. Cái nghĩa, chính là nơi, là chỗ sinh ra tranh cãi, luận biện bất đồng. Do đó chỉ có người đã trải nghiệm qua và cùng cảnh ngộ với nhau mới hiểu cho nhiều. Riêng thiền định thì cùng cảnh ngộ cũng chưa chắc bởi ai ăn nấy lo, là vậy.
5. Đạo > Đạo lý là khi chúng ta hiểu kinh rồi, thì sau đó để thực hành. Nhưng lại có nhiều người bàn thêm về yếu nghĩa > đến luận biện để rồi pháp không tu mà chỉ tu cái nghĩa, cái triết lý cho sâu rộng để làm chi!
6;7 các phần này, HT phân tích rõ về các học phái mới sau này, không phải là không có các vị chư liệt tổ, liệt tông điều không đắc đạo, và ngộ đạo. Xin thưa, có rất nhiều và những vị đó đã để lại cho hậu nhân những gì, thì chúng ta cứ y theo đó mà nhận xét. Cho nên các vị đừng bi oan và phủ nhận đời này khó ngộ. Đây cũng là chướng 'Nghi' phiền não phát sanh...!?
8. Phần này đa số chúng ta bị lọt vào ngã chấp trên ngôn từ, trên kinh điển của dịch giả, mà quên rằng giữa ta và nhân vật chánh trong kinh sách hoàn toàn khác nhau giữa người đọc sách và hành giả tu hành...!?

*** *** *** *** *** ***
(Ngày 18-2-2015 đọc bài 2 Bát Chánh Đạo: 1.Chánh kiến. )
(Ngày 10-2-2015 bài 2- 2/20 Re: Bát Chánh Đạo: 2.Chánh tư duy. Dịch giả Pháp Thông.)

*** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** ***
IV. Huân Tu

Dưỡng sinh 1
: Ngừa bệnh: tim mạch Re: Alzheimer: ngừa bệnh mất trí nhớ thế nào?
Sức khỏe và đời sống: 10 Bí quyết trường thọ, yêu đời
Dưỡng sinh 2: Huân Tu: Lễ Phật Ứng Dụng
Dưỡng sinh 3 (sát-na thiền): Tịnh Nghiệp 1

************************
Tuần thứ
09 : Hình ảnh Bản tin Ngày An Viên phát sóng ngày 23.02.2015
Links tháng: 01; 02; 03; 04; 05; 06; 07; 08; 09; 10; 11; 12. 2015
Thông tin Phật giáo. Quý II, III, IV 2013. Quý I, II, III, IV- 2014; Quí I; II; III; IV - 2015

*******************************************************************
[/quote]
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Diễn đàn Tu Viện Phật Tử, Quý I-2015

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 5 26 Tháng 2, 2015 6:25 pm

I. Giới học Ngày 26-02-2015 ( 08 tháng 1 năm Ất Mùi.)

CHÁNH NGỮ (SAMMÀ-VÀCÀ)

3. Nói ly gián hay nói hai lưỡi (Pisunàvàcà: ly gián ngữ)

là điều ác kế tiếp mà cái lưỡi có thể phạm, từ Pàli Pisunàvàcà nghĩa đen là "Phá vỡ tình bạn". Vu khống người khác là một điều độc ác nhất vì nó đòi hỏi phải đưa ra một lời tuyên bố dối trá với ý định làm hại thanh danh của người khác. Người nói lời ly gián thường phạm vào hai tội ác một lúc, vì lời vu cáo của họ không đúng sự thật nên họ đã phạm tội nói láo và sau đó họ còn phạm tội đâm thọc sau lưng người khác (ly gián).

Trong thi ca văn kệ Sanskrit người đâm thọc sau lưng người khác được so sánh với con muỗi tuy nhỏ nhưng rất độc. Nó bay đến với tiếng hát vo ve, đậu lên người bạn, hút máu và có thể, nếu là muỗi cái, truyền bệnh sốt rét vào bạn. Lại nữa những lời lẽ của người đâm bị thóc, thọc bị gạo này có thể ngọt ngào như mật ong, nhưng tâm địa của họ đầy nọc độc.

Như vậy chúng ta hãy tránh lời nói đâm thọc hay lời nói ly gián phá hủy tình thân hữu. Thay vì gây chia rẽ, chúng ta hãy nói những lời đem lại sự an vui và hoà giải.
Thay vì gieo hạt giống phân ly, chúng ta hãy mang an lạc và tình bạn đến những ai đang sống trong bất hoà và thù nghịch
.
(Ngày 25-2-2015, bài 4 - 4/6 Re: Bát Chánh Đạo: 3.Chánh ngữ. Tỳ khưu Pháp Thông)
*****************
Diễn đàn ghi chú:
Trong Pháp Kệ có nói rằng, người nín thinh ít nói thì chê ít nói, người nói nhiều thì cho lắm lời. Còn nói vừa vừa thì cũng trách là hiểm, là ít kỷ, là khó tánh...Thế gian không thể nào tìm cho được một người hoàn toàn bị chê bai hay trọn vẹn được khen ngợi. Thì tất nhiên tiếng đồn, thị phi của kẻ đâm thọc, nói lời ly gián sao tránh khỏi.
Nếu chúng ta không đủ bình tỉnh thì cũng bị ngay vòng thị phi của sân si. Do đó cần sáng suốt hơn đối với kẻ ấy, và ngược lại ta muốn nói lời không rõ đạt tình lý để người bị hàm oan thì cũng không nên làm.
Cần khéo như lý tác ý vào Chánh ngữ thì mới mong bớt được họa của cái lưỡi hai chiều. "lưỡi không xương trăm đường lắt léo, chính là nó vậy''.

*** *** *** *** *** ***
(Ngày 16-2-2015, Hết bài 2- ) Re: Tu Là Chuyển Nghiệp: Hòa Thượng Thích Thanh Từ
(Ngày 10-2-2015, đọc tiếp bài 3) Re: Bát Chánh Đạo: 4.Chánh nghiệp
(Ngày 2-2-2015, hết bài 1) Bát Chánh Đạo: 5 Chánh Mạng T.T Thích Đức Thắng.
(Ngày 22-1-2015 đọc tiếp bài 3) Re: Chánh mạng: nhiều Tác-giả

***********************************************************************
1. Diễn đàn Tu viện Phật tử
, Click >>> Forum: Or Forum.
2. Nhân sinh quan
: (Ngày 12-2-2015) Tiêu điểm: Tết Ất Mùi 19-2-2015

*** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** ***
II. Định Học

8. Những tư duy bất thiện đề cập ở đây là ba nhân căn để của mọi điều ác, đó là tư duy tham dục, tư duy sân hận và tư duy si mê. Tất cả các dục khác đều gồm trong ba nhân căn để này, trong khi các tư duy thiện là những gì đối nghịch lại với chúng.

Mục đích duy nhất của bốn pháp tinh tấn này là để thành tựu thiền định. Chánh tinh tấn là những điều kiện cần thiết cho sự định tâm. Như chúng ta đã thấy ở trên, chánh tinh tấn được kể trong nhóm định (Samàdhi).

Như vậy chánh tinh tấn tương quan, tương duyên lẫn nhau. Nó vận hành đồng thời với hai chi phần khác của nhóm, đó là chánh niệm và chánh định. Không có chánh tinh tấn thực khó có thể vượt qua được các triền cái ngăn che tiến bộ tâm linh. Chánh tinh tấn loại bỏ các tư duy ác và không lành mạnh tác động như một rào cản đối với sự định tâm, đồng thời thúc đẩy và duy trì những tâm sở tốt đẹp trợ giúp cho sự phát triển tâm định.

Khi tâm của hành giả lơi lỏng, đó là lúc mà vị ấy cần phải tập trung dõng lực, khơi dậy tinh tấn và chế ngự lười biếng. Sự ngoan cố của tâm và các tâm sở là kẻ thù nguy hiểm nhất của thiền định, vì khi tâm của con người bị trì trệ, uể oải sẽ phát sanh. Từ sự trì trệ và uể oải này dẫn đến những lơi lỏng trầm trọng hơn tạo ra tình trạng hờ hững, buồn nản.

Ðức Phật cảnh báo tính cách yếu đuối này như sau:
"Khi cần không nỗ lực,
Dù trẻ khoẻ nhưng lười
Buông thả tâm
, thụ động.
Tuệ đâu mà thấy Ðạo".

"Này các Tỳ khưu, Như Lai không thấy một pháp nào khác có khả năng ngăn ngừa hôn trầm - thuỵ miên chưa sanh, không cho sanh khởi, hay nếu đã sanh, khiến cho bị đoạn trừ, như pháp tinh tấn này. Người nào có tinh tấn nỗ lực, hôn trầm - thụy miên sẽ không sanh, hoặc nếu đã sanh sẽ được đoạn trừ".

(Ngày 26-2-2015, đọc tiếp bài 2 - 9/15) Re: Bát Chánh Đạo: 6.Chánh Tinh Tấn
****************
Diễn đàn ghi chú
:5. Chánh tinh tấn tức là nghị lực vận hành của chánh kiến. Ở đây khác với nghị lực của ngũ dục. Nghị lực là sức mạnh của thân tâm sẽ chống các phiền não chướng như: hôm trầm thụy miên và phóng dật..
6. Phần này, chúng ta hiểu thêm sự tinh tân không phải bằng thể lực cho là đủ, mà con phải bằng tâm thức. (Xem lại tứ chánh cần, tứ như ý túc.)
7. Phần này, chúng ta học thế nào gọi là: Tinh tấn ngăn ngừa (Samvara), tinh tấn đoạn trừ (Pahàna), tinh tấn tu tập (Bhavàna) và tinh tấn duy trì (Anurakkhana).
8. Bất cứ sự việc nào cũng phải cần có sự tinh tấn ở đời hay đạo. Chánh tinh tấn là sức mạnh hổ trợ cho chánh niệm và chánh định. Hành giả muốn có thắng trí cũng chính là nhờ tập trung vào tinh tấn vậy.
*** *** *** *** *** ***
(Ngày 7-2-2015, đọc tiếp bài 3) Re: Bát Chánh Đạo: 7. Chánh Niệm
(Ngày 3-2-2015 hết bài Tịnh Nghiệp 1: Khi lái xe Tư duy: Pháp hành Chánh Niệm ? Pháp Hành Minh Sát Thực Tiễn, Tác giả Mahasi Saydaw, Dịch giả: Pháp Thông. )
*** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** ***
III. Huệ học

TỪ KINH ĐIỂN TRỞ LẠI CÁI THỰC

9. Cũng cùng nội dung như trên, nhưng để thay đổi không khí, tôi sẽ kể chuyện kiếm hiệp, kiếm hiệp của Kim Dung, truyện Cô Gái Đồ Long, về cái anh chàng Trương Vô Kỵ (cũng xoay quanh vấn đề so sánh với cái thực).

Anh chàng Trương Vô Kỵ có cái duyên học được Cửu Dương Chân Kinh. Sau đó ở Quang Minh Đỉnh, anh ta đi lạc vào một cái động với một cô bạn gái người Ba-tư và tìm được pho bí kíp ghi chép một loại võ công ghê gớm là Càn Khôn Đại Nã Di Tâm Pháp.
Nhờ cô bạn gái Ba-tư hiểu tiếng Ba-tư, nên đã đọc cho anh ta nghe và khuyên anh ta nên luyện võ công tối thượng này, anh ta đồng ý.

Đọc câu thứ nhất, anh ta luyện, thấy hay quá, hiệu quả ngay….
Đọc câu thứ hai, anh ta luyện…. Cái gì thế này, khó chịu quá, luồng chân khí đi ngược…. Anh ta bỏ, không luyện.
Nhưng đọc câu thứ ba…. Gì thế này, hay quá! Và anh ta lại luyện tiếp…. Rồi cứ thế, thấy hay là luyện, câu nào thấy khó chịu, không thông là anh ta bỏ.
Quý vị biết không, tuần tự như thế, chàng Trương của chúng ta đã luyện thành công Càn Khôn Đại Nã Di Tâm Pháp. Đấy là chuyện hy hữu. Vì từ xưa đến nay, ai mà luyện Càn Khôn Đại Nã Di Tâm Pháp đều bị “tẩu hoả nhập ma”hết. Tại sao vậy?

Tại vì cái ông sáng tác ra môn võ ấy, có chỗ ông biết, có chỗ ông không biết. Chỗ ông biết, ông nói đúng, chỗ ông không biết, ông suy luận rồi thêm vào nên không đúng. Sở dĩ ai luyện đều bị tẩu hỏa nhập ma là vì cái đúng họ cũng luyện, cái sai họ cũng luyện.
Còn Trương Vô Kỵ thì khác vì anh ta đã có nội lực Cửu Dương Chân Kinh, có chánh khí trong người.

Nhờ cái chánh khí ấy anh đã không bị những sai lầm của bí kíp đánh lừa và đã thành công mỹ mãn.
Chuyện kiếm hiệp Kim Dung chưa hết.

Nó có nhiều điểm thú vị nữa. Nếu chúng ta so sánh việc học Phật, tu Phật với việc học võ, luyện võ của Kim Dung thì Cửu Dương Chân Kinh ví như Giáo Pháp Nguyên Thủy do chính Đức Phật dạy nhằm chỉ thẳng cái thực, cái nội lực, còn Cửu Âm Chân Kinh ví như kinh luận, sớ giải, các pháp môn phương tiện hậu sinh, chỉ là chiêu thức. Hoặc Cửu Dương là Đạo học, còn Cửu Âm là triết luận. Kim Dung quả là đáo để, ông ta đã hiểu rõ những gì chúng ta đang muốn nói ở đây.

Như vậy, người học Phật, trước tiên là phải thấy cái thực, cái nội lực, cái chánh khí ở bên trong. Nếu chưa có cái thực, cái chánh khí ở bên trong mà đi luyện cái bên ngoài thì thành ra cái đạo ngoài da.

Như xé được một tờ, đọc được một câu trong Cửu Âm Chân Kinh rồi đem ra pha chế, luyện thành chiêu thức, thì chẳng bao lâu sẽ trở thành tiểu ma đầu. Nếu ôm được một xấp về luyện thì thành ra đại ma đầu! Vậy nếu chúng ta chưa có cái thực, chưa thấy cái thực, mà cứ tu, cứ luyện một cách chủ quan theo ý mình thì chúng ta càng thành công càng xa chánh đạo, càng tăng trưởng sở đắc làm giàu cho bản ngã mà thôi.

cái thực rồi, có nội lực rồi, nghĩa là luyện Cửu Dương Chân Kinh rồi, mới luyện chiêu thức trong Cửu Âm Chân Kinh sau thì thành ra tốt, thành ra diệu dụng phương tiện vô cùng tốt. Kim Dung có đưa ra hình ảnh chiêu thức Cửu Âm Chân Kinh thật của cô gái áo vàng để so sánh với chiêu thức Cửu Âm Chân Kinh giả của Chu Chỉ Nhược.

Kim Dung đưa ra hai hình ảnh này rõ ràng quá. Tình trạng người học võ không thấy tầm quan trọng của nội lực, chỉ ham thủ đắc nhiều chiêu thức cũng giống như người tu Phật ngày nay dường như ít ai thấy cái thực ở bên trong quan trọng đến ngần nào. Họ chỉ quan tâm đến kinh luận, đến tông môn, đến sở đắc bên ngoài rồi đâm ra tự mãn. Chánh, tà hai nẻo từ đó phân ranh!
(Ngày 25-2-2015 Xem tiếp bài 1 - 10/19 Tỳ Kheo Viên Minh: Từ Kinh điển trở lại cái thực)
****************
Diễn đàn ghi chú : 4.Triết lý, chính là suy nghĩ về đạo lý. Triết lý thì chỉ thấy được cái nghĩa. Cái nghĩa, chính là nơi, là chỗ sinh ra tranh cãi, luận biện bất đồng. Do đó chỉ có người đã trải nghiệm qua và cùng cảnh ngộ với nhau mới hiểu cho nhiều. Riêng thiền định thì cùng cảnh ngộ cũng chưa chắc bởi ai ăn nấy lo, là vậy.
5. Đạo > Đạo lý là khi chúng ta hiểu kinh rồi, thì sau đó để thực hành. Nhưng lại có nhiều người bàn thêm về yếu nghĩa > đến luận biện để rồi pháp không tu mà chỉ tu cái nghĩa, cái triết lý cho sâu rộng để làm chi!
6;7 các phần này, HT phân tích rõ về các học phái mới sau này, không phải là không có các vị chư liệt tổ, liệt tông điều không đắc đạo, và ngộ đạo. Xin thưa, có rất nhiều và những vị đó đã để lại cho hậu nhân những gì, thì chúng ta cứ y theo đó mà nhận xét. Cho nên các vị đừng bi oan và phủ nhận đời này khó ngộ. Đây cũng là chướng 'Nghi' phiền não phát sanh...!?
8. Phần này đa số chúng ta bị lọt vào ngã chấp trên ngôn từ, trên kinh điển của dịch giả, mà quên rằng giữa ta và nhân vật chánh trong kinh sách hoàn toàn khác nhau giữa người đọc sách và hành giả tu hành...!?
9. Qua câu truyện Kim Dung về cửu âm và cửu dương chân kinh ví dụ của HT Viên Minh thật là xác ý, chúng ta phân biệt rõ sự thật về cách tu hành không nên nắm phần ngọn mà bỏ đi phần gốc. Phần gốc đó chính là Bát chánh đạo vậy.
*** *** *** *** *** ***
(Ngày 18-2-2015 đọc bài 2 Bát Chánh Đạo: 1.Chánh kiến. )
(Ngày 10-2-2015 bài 2- 2/20 Re: Bát Chánh Đạo: 2.Chánh tư duy. Dịch giả Pháp Thông.)

*** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** ***
IV. Huân Tu

Dưỡng sinh 1
: Ngừa bệnh: tim mạch Re: Alzheimer: ngừa bệnh mất trí nhớ thế nào?
Sức khỏe và đời sống: 10 Bí quyết trường thọ, yêu đời
Dưỡng sinh 2: Huân Tu: Lễ Phật Ứng Dụng
Dưỡng sinh 3 (sát-na thiền): Tịnh Nghiệp 1

************************
Tuần thứ
09 : Hình ảnh Bản tin Ngày An Viên phát sóng ngày 23.02.2015
Links tháng: 01; 02; 03; 04; 05; 06; 07; 08; 09; 10; 11; 12. 2015
Thông tin Phật giáo. Quý II, III, IV 2013. Quý I, II, III, IV- 2014; Quí I; II; III; IV - 2015

*******************************************************************
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Diễn đàn Tu Viện Phật Tử, Quý I-2015

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 7 28 Tháng 2, 2015 5:20 pm

I. Giới học Ngày 28-02-2015 ( 10 tháng 1 năm Ất Mùi.)

CHÁNH NGỮ (SAMMÀ-VÀCÀ)

4. không nói những lời độc ác đồng thời phải nói những lời hòa nhã, lễ độ. Những gì chúng ta nói có thể đem đến được - mất, khen - chê, danh thơm -tiếng xấu, khổ đau - hạnh phúc. Một lời nói êm ái, hoà nhã có thể làm động lòng trái tim chai đá nhất, trong khi một lời độc ác có thể gây ra sự đau đớn khó lường.

Chúng ta phải nghĩ hai lần trước khi nói không tốt về một người nào, vì đó là một cố gắng để làm tổn hại danh dự và nhân cách của người đó.
Tuy nhiên, nếu khen một người nào thì không có vấn đề gì cả, vì lời khen này không đưa đến khó chịu và thù oán, ví như chúng ta tô điểm phớt qua bức tranh một tí, vậy thôi.

Ðức Phật dạy:

'Phàm con người đã sanh
Sanh với búa trong miệng
Kẻ ngu si nói bậy,
Tự chặt đứt lấy thân'
.
(Ngày 28-2-2015, bài 4 - 5/6 Re: Bát Chánh Đạo: 3.Chánh ngữ. Tỳ khưu Pháp Thông)

*****************
Diễn đàn ghi chú:
3.rong Pháp Kệ có nói rằng, người nín thinh ít nói thì chê ít nói, người nói nhiều thì cho lắm lời. Còn nói vừa vừa thì cũng trách là hiểm, là ít kỷ, là khó tánh...Thế gian không thể nào tìm cho được một người hoàn toàn bị chê bai hay trọn vẹn được khen ngợi. Thì tất nhiên tiếng đồn, thị phi của kẻ đâm thọc, nói lời ly gián sao tránh khỏi.
Nếu chúng ta không đủ bình tỉnh thì cũng bị ngay vòng thị phi của sân si. Do đó cần sáng suốt hơn đối với kẻ ấy, và ngược lại ta muốn nói lời không rõ đạt tình lý để người bị hàm oan thì cũng không nên làm.
Cần khéo như lý tác ý vào Chánh ngữ thì mới mong bớt được họa của cái lưỡi hai chiều. "lưỡi không xương trăm đường lắt léo, chính là nó vậy''.
4. Phàm là nói những điều không tốt về mình còn phải che dấu, thì muốn dạy người hay nói những điều không tốt đến người. Nên suy nghĩ kỹ rồi hãy nói, cũng chưa muộn.

*** *** *** *** *** ***
(Ngày 16-2-2015, Hết bài 2- ) Re: Tu Là Chuyển Nghiệp: Hòa Thượng Thích Thanh Từ
(Ngày 10-2-2015, đọc tiếp bài 3) Re: Bát Chánh Đạo: 4.Chánh nghiệp
(Ngày 2-2-2015, hết bài 1) Bát Chánh Đạo: 5 Chánh Mạng T.T Thích Đức Thắng.
(Ngày 22-1-2015 đọc tiếp bài 3) Re: Chánh mạng: nhiều Tác-giả

*** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** ***
II. Định Học

8. Những tư duy bất thiện đề cập ở đây là ba nhân căn để của mọi điều ác, đó là tư duy tham dục, tư duy sân hận và tư duy si mê. Tất cả các dục khác đều gồm trong ba nhân căn để này, trong khi các tư duy thiện là những gì đối nghịch lại với chúng.

Mục đích duy nhất của bốn pháp tinh tấn này là để thành tựu thiền định. Chánh tinh tấn là những điều kiện cần thiết cho sự định tâm. Như chúng ta đã thấy ở trên, chánh tinh tấn được kể trong nhóm định (Samàdhi).

Như vậy chánh tinh tấn tương quan, tương duyên lẫn nhau. Nó vận hành đồng thời với hai chi phần khác của nhóm, đó là chánh niệm và chánh định. Không có chánh tinh tấn thực khó có thể vượt qua được các triền cái ngăn che tiến bộ tâm linh. Chánh tinh tấn loại bỏ các tư duy ác và không lành mạnh tác động như một rào cản đối với sự định tâm, đồng thời thúc đẩy và duy trì những tâm sở tốt đẹp trợ giúp cho sự phát triển tâm định.

Khi tâm của hành giả lơi lỏng, đó là lúc mà vị ấy cần phải tập trung dõng lực, khơi dậy tinh tấn và chế ngự lười biếng. Sự ngoan cố của tâm và các tâm sở là kẻ thù nguy hiểm nhất của thiền định, vì khi tâm của con người bị trì trệ, uể oải sẽ phát sanh. Từ sự trì trệ và uể oải này dẫn đến những lơi lỏng trầm trọng hơn tạo ra tình trạng hờ hững, buồn nản.

Ðức Phật cảnh báo tính cách yếu đuối này như sau:
"Khi cần không nỗ lực,
Dù trẻ khoẻ nhưng lười
Buông thả tâm
, thụ động.
Tuệ đâu mà thấy Ðạo".

"Này các Tỳ khưu, Như Lai không thấy một pháp nào khác có khả năng ngăn ngừa hôn trầm - thuỵ miên chưa sanh, không cho sanh khởi, hay nếu đã sanh, khiến cho bị đoạn trừ, như pháp tinh tấn này. Người nào có tinh tấn nỗ lực, hôn trầm - thụy miên sẽ không sanh, hoặc nếu đã sanh sẽ được đoạn trừ".

(Ngày 26-2-2015, đọc tiếp bài 2 - 9/15) Re: Bát Chánh Đạo: 6.Chánh Tinh Tấn
****************
Diễn đàn ghi chú
:5. Chánh tinh tấn tức là nghị lực vận hành của chánh kiến. Ở đây khác với nghị lực của ngũ dục. Nghị lực là sức mạnh của thân tâm sẽ chống các phiền não chướng như: hôm trầm thụy miên và phóng dật..
6. Phần này, chúng ta hiểu thêm sự tinh tân không phải bằng thể lực cho là đủ, mà con phải bằng tâm thức. (Xem lại tứ chánh cần, tứ như ý túc.)
7. Phần này, chúng ta học thế nào gọi là: Tinh tấn ngăn ngừa (Samvara), tinh tấn đoạn trừ (Pahàna), tinh tấn tu tập (Bhavàna) và tinh tấn duy trì (Anurakkhana).
8. Bất cứ sự việc nào cũng phải cần có sự tinh tấn ở đời hay đạo. Chánh tinh tấn là sức mạnh hổ trợ cho chánh niệm và chánh định. Hành giả muốn có thắng trí cũng chính là nhờ tập trung vào tinh tấn vậy.
*** *** *** *** *** ***
(Ngày 7-2-2015, đọc tiếp bài 3) Re: Bát Chánh Đạo: 7. Chánh Niệm
(Ngày 3-2-2015 hết bài Tịnh Nghiệp 1: Khi lái xe Tư duy: Pháp hành Chánh Niệm ? Pháp Hành Minh Sát Thực Tiễn, Tác giả Mahasi Saydaw, Dịch giả: Pháp Thông. )
*** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** ***
III. Huệ học

TỪ KINH ĐIỂN TRỞ LẠI CÁI THỰC

10. Có người tu Phật mà tu hoài không thấy gì cả, không có sở đắc nào cả, bèn rán kiếm cho mình một cái! Thế là anh ta luyện một câu chú, một đạo bùa gì đó. Ai tới, anh ta biểu diễn một pha cho người ta xem để cho người ta tưởng mình là thứ thiệt. Hoặc anh ta rán học cho thật nhiều kinh luận để khoe khoang cái tài uyên thâm Phật Pháp của mình cho người ta nể mặt, nhưng có phải thế không?
Dùng cái giả để thay thế vào cái thực mà bản thân mình không có, đó chính là Cửu Am giả. Chưa luyện thành Cửu Dương thì dù luyện Cửu Am thật cũng còn không được huống chi là Cửu Am giả.

Thời xưa, Lão Tử cũng đã từng than: “ Mất đạo mới đến đức, mất đức mới đến nhân, mất nhân mới đến nghĩa,
mất nghĩa mới đến lễ. Ôi! lễ ấy là sự mỏng manh của lòng trung tín mà là đầu mối của hỗn loạn…”.

Đó cũng chính là thời mạt pháptrong Phật Giáo chúng ta! Sự xuống cấp từ Đạo đến Lễ cũng như từ Thực Tánh Pháp đến kinh luận hậu sinh diễn ra như sau:

LÃO: Đạo --> Đức --> Nhân --> Nghĩa --> Lễ
(nhi loạn chi thủ).

PHẬT: Thực --> Lý --> Nghĩa --> Kinh luận (mâu thuẩn tông môn)

Hầu hết kinh luận của các tông phái sau thời Đức Phật Niết-bàn đều nặng tính triết học – tức là người ta chỉ quan tâm đến hệ thống ngữ nghĩa trong kinh luận hơn là Thực Tánh Pháp cụ thể mà Đức Phật muốn chỉ bày.
Xem ra đó cũng là đầu mối cho mọi sự hỗn loạn tri kiến về sau, không mấy ai quan tâm đến chất đạo, chất thựcbên trong Giáo Pháp thâm sâu ấy.

Như Lão Tử đã nói: “Vi đạo nhật tổn, vi học nhật ích”.
Theo hướng đạo học thì càng ngày càng giảm bớt đi, càng giản dị hơn, còn theo hướng triết học thì càng ngày càng vi tế hơn, tinh xảo thêm… tưởng chừng như có thể tiếp cận cái thực nhưng hóa ra lại càng xa hơn.

(Ngày 28-2-2015 Xem tiếp bài 1 - 11/19 Tỳ Kheo Viên Minh: Từ Kinh điển trở lại cái thực)
****************
Diễn đàn ghi chú : 4.Triết lý, chính là suy nghĩ về đạo lý. Triết lý thì chỉ thấy được cái nghĩa. Cái nghĩa, chính là nơi, là chỗ sinh ra tranh cãi, luận biện bất đồng. Do đó chỉ có người đã trải nghiệm qua và cùng cảnh ngộ với nhau mới hiểu cho nhiều. Riêng thiền định thì cùng cảnh ngộ cũng chưa chắc bởi ai ăn nấy lo, là vậy.
5. Đạo > Đạo lý là khi chúng ta hiểu kinh rồi, thì sau đó để thực hành. Nhưng lại có nhiều người bàn thêm về yếu nghĩa > đến luận biện để rồi pháp không tu mà chỉ tu cái nghĩa, cái triết lý cho sâu rộng để làm chi!
6;7 các phần này, HT phân tích rõ về các học phái mới sau này, không phải là không có các vị chư liệt tổ, liệt tông điều không đắc đạo, và ngộ đạo. Xin thưa, có rất nhiều và những vị đó đã để lại cho hậu nhân những gì, thì chúng ta cứ y theo đó mà nhận xét. Cho nên các vị đừng bi oan và phủ nhận đời này khó ngộ. Đây cũng là chướng 'Nghi' phiền não phát sanh...!?
8. Phần này đa số chúng ta bị lọt vào ngã chấp trên ngôn từ, trên kinh điển của dịch giả, mà quên rằng giữa ta và nhân vật chánh trong kinh sách hoàn toàn khác nhau giữa người đọc sách và hành giả tu hành...!?
9. Qua câu truyện Kim Dung về cửu âm và cửu dương chân kinh ví dụ của HT Viên Minh thật là xác ý, chúng ta phân biệt rõ sự thật về cách tu hành không nên nắm phần ngọn mà bỏ đi phần gốc. Phần gốc đó chính là Bát chánh đạo vậy.
10.Như Lão Tử đã nói: “Vi đạo nhật tổn, vi học nhật ích”.
Theo hướng đạo học thì càng ngày càng giảm bớt đi, càng giản dị hơn, còn theo hướng triết học thì càng ngày càng vi tế hơn, tinh xảo thêm… tưởng chừng như có thể tiếp cận cái thực nhưng hóa ra lại càng xa hơn.

*** *** *** *** *** ***
(Ngày 18-2-2015 đọc bài 2 Bát Chánh Đạo: 1.Chánh kiến. )
(Ngày 10-2-2015 bài 2- 2/20 Re: Bát Chánh Đạo: 2.Chánh tư duy. Dịch giả Pháp Thông.)

*** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** ***
IV. Huân Tu

Dưỡng sinh 1
: Ngừa bệnh: tim mạch Re: Alzheimer: ngừa bệnh mất trí nhớ thế nào?
Sức khỏe và đời sống: 10 Bí quyết trường thọ, yêu đời
Dưỡng sinh 2: Huân Tu: Lễ Phật Ứng Dụng
Dưỡng sinh 3 (sát-na thiền): Tịnh Nghiệp 1

************************
***********************************************************************
1. Diễn đàn Tu viện Phật tử, Click >>> Forum: Or Forum.
2. Nhân sinh quan: (Ngày 12-2-2015) Tiêu điểm: Tết Ất Mùi 19-2-2015

Tuần thứ 09 : Hình ảnh Bản tin Ngày An Viên phát sóng ngày 23.02.2015
Links tháng: 01; 02; 03; 04; 05; 06; 07; 08; 09; 10; 11; 12. 2015
Thông tin Phật giáo. Quý II, III, IV 2013. Quý I, II, III, IV- 2014; Quí I; II; III; IV - 2015

*******************************************************************
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Diễn đàn Tu Viện Phật Tử, Quý I-2015

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Chủ nhật 01 Tháng 3, 2015 5:10 pm

I. Giới học Ngày 01-03-2015 ( 11 tháng 1 năm Ất Mùi.)

CHÁNH NGỮ (SAMMÀ-VÀCÀ)

4. không nói những lời độc ác đồng thời phải nói những lời hòa nhã, lễ độ. Những gì chúng ta nói có thể đem đến được - mất, khen - chê, danh thơm -tiếng xấu, khổ đau - hạnh phúc. Một lời nói êm ái, hoà nhã có thể làm động lòng trái tim chai đá nhất, trong khi một lời độc ác có thể gây ra sự đau đớn khó lường.

Chúng ta phải nghĩ hai lần trước khi nói không tốt về một người nào, vì đó là một cố gắng để làm tổn hại danh dự và nhân cách của người đó.
Tuy nhiên, nếu khen một người nào thì không có vấn đề gì cả, vì lời khen này không đưa đến khó chịu và thù oán, ví như chúng ta tô điểm phớt qua bức tranh một tí, vậy thôi.

Ðức Phật dạy:

'Phàm con người đã sanh
Sanh với búa trong miệng
Kẻ ngu si nói bậy,
Tự chặt đứt lấy thân'
.
(Ngày 28-2-2015, bài 4 - 5/6 Re: Bát Chánh Đạo: 3.Chánh ngữ. Tỳ khưu Pháp Thông)

*****************
Diễn đàn ghi chú:
3.rong Pháp Kệ có nói rằng, người nín thinh ít nói thì chê ít nói, người nói nhiều thì cho lắm lời. Còn nói vừa vừa thì cũng trách là hiểm, là ít kỷ, là khó tánh...Thế gian không thể nào tìm cho được một người hoàn toàn bị chê bai hay trọn vẹn được khen ngợi. Thì tất nhiên tiếng đồn, thị phi của kẻ đâm thọc, nói lời ly gián sao tránh khỏi.
Nếu chúng ta không đủ bình tỉnh thì cũng bị ngay vòng thị phi của sân si. Do đó cần sáng suốt hơn đối với kẻ ấy, và ngược lại ta muốn nói lời không rõ đạt tình lý để người bị hàm oan thì cũng không nên làm.
Cần khéo như lý tác ý vào Chánh ngữ thì mới mong bớt được họa của cái lưỡi hai chiều. "lưỡi không xương trăm đường lắt léo, chính là nó vậy''.
4. Phàm là nói những điều không tốt về mình còn phải che dấu, thì muốn dạy người hay nói những điều không tốt đến người. Nên suy nghĩ kỹ rồi hãy nói, cũng chưa muộn.

*** *** *** *** *** ***
(Ngày 16-2-2015, Hết bài 2- ) Re: Tu Là Chuyển Nghiệp: Hòa Thượng Thích Thanh Từ
(Ngày 10-2-2015, đọc tiếp bài 3) Re: Bát Chánh Đạo: 4.Chánh nghiệp
(Ngày 2-2-2015, hết bài 1) Bát Chánh Đạo: 5 Chánh Mạng T.T Thích Đức Thắng.
(Ngày 22-1-2015 đọc tiếp bài 3) Re: Chánh mạng: nhiều Tác-giả

*** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** ***
II. Định Học

9. Tu tập tâm bằng pháp Tứ Chánh Cần này không phải một sớm một chiều có thể thành tựu được. Nó cần có thời gian và cần phải thực hành đều đặn các bài tập luyện tâm.

Một lực sĩ hay một vận động viên điền kinh không thể dừng luyện tập sau một hay hai ngày, mà lúc nào cũng phải tiếp tục chương trình luyện tập của mình.
Luyện tập đều đặn không cần quá căng thẳng là mấu chốt đưa đến sự thích nghi của cơ thể.
Nếu bạn thực hành một cách thất thường lúc thì tinh tấn quá mức, lúc lại giãi đãi trây lười bạn sẽ chẳng bao giờ trở thành một vận động viên giỏi. Khi luyện tập tâm cũng vậy, bạn phải áp dụng khuôn vàng thước ngọc này, thực hành đều đặn và luôn luôn kiên nhẫn.

Khi thực hành những bài tập luyện tâm ta không cần phải dằng co với những tư duy ác bất thiện, cứ để cho nó hoàn toàn tự nhiên. Nếu chúng ta cố gắng chiến đấu với những tư duy ác của mình chúng ta sẽ thất bại.

Thay vì chiến đấu với nó chúng ta hãy ghi nhận và ngắm nhìn những tư duy của chúng ta khi nó khởi lên, phân tích chúng, và cố gắng làm giảm sự căng thẳng. Kỹ thuật này cũng giống như khi tập bơi vậy.
Nếu không cử động chân tay bạn sẽ chìm; nếu bạn quờ quạng lung tung bạn sẽ không bơi được, hay giống như một người ngủ, nếu bạn giằng co với ý nghĩ muốn ngủ bạn sẽ chẳng bao giờ rơi vào giấc ngủ, ý nghĩ chỉ là một sự hành hạ tinh thần đối với bạn. Bạn không cần phải gắng sức để ngủ. Giấc ngủ sẽ đến với bạn một cách tự nhiên và bạn chỉ cần thư giản những căng thẳng là đủ.

Vả lại, tự hành hạ mình là một trong những cực đoan mà Ðức Phật muốn người hành thiền phải tránh, vì bất lợi.

Hành hạ thân để ngăn chặn sự khởi sanh của những ác tư duy quả là điều vô ích, vì tự hành hạ mình như vậy sẽ luôn luôn kết thúc bằng sân hận và bất mãn. Khi tâm trở nên bất mãn, trạng thái hờ hững chai lỳ đối với việc hành thiền sẽ theo sau.

Tất cả mọi sự luyện tập tâm của chúng ta cần phải tự nhiên và được thực hiện với sự tỉnh thức.

'Nhiệt tâm mà không sáng suốt chẳng khác nào người chạy trong đêm tối'.


(Ngày 01-03-2015, đọc tiếp bài 2 - 10/15) Re: Bát Chánh Đạo: 6.Chánh Tinh Tấn
****************
Diễn đàn ghi chú
:5. Chánh tinh tấn tức là nghị lực vận hành của chánh kiến. Ở đây khác với nghị lực của ngũ dục. Nghị lực là sức mạnh của thân tâm sẽ chống các phiền não chướng như: hôm trầm thụy miên và phóng dật..
6. Phần này, chúng ta hiểu thêm sự tinh tân không phải bằng thể lực cho là đủ, mà con phải bằng tâm thức. (Xem lại tứ chánh cần, tứ như ý túc.)
7. Phần này, chúng ta học thế nào gọi là: Tinh tấn ngăn ngừa (Samvara), tinh tấn đoạn trừ (Pahàna), tinh tấn tu tập (Bhavàna) và tinh tấn duy trì (Anurakkhana).
8. Bất cứ sự việc nào cũng phải cần có sự tinh tấn ở đời hay đạo. Chánh tinh tấn là sức mạnh hổ trợ cho chánh niệm và chánh định. Hành giả muốn có thắng trí cũng chính là nhờ tập trung vào tinh tấn vậy.
9. Tứ chánh cần là một phương pháp cần mẩn, kiên trì và kiên nhẩn theo thời gian và cũng đừng áp bức những tiền định kiến thái quá. Hãy thấy và khắc phục bằng chánh niệm khi các pháp bất thiện sanh khởi. (Đọc lại bài thêm 1 lần nữa.)

*** *** *** *** *** ***
(Ngày 7-2-2015, đọc tiếp bài 3) Re: Bát Chánh Đạo: 7. Chánh Niệm
(Ngày 3-2-2015 hết bài Tịnh Nghiệp 1: Khi lái xe Tư duy: Pháp hành Chánh Niệm ? Pháp Hành Minh Sát Thực Tiễn, Tác giả Mahasi Saydaw, Dịch giả: Pháp Thông. )
*** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** ***
III. Huệ học

TỪ KINH ĐIỂN TRỞ LẠI CÁI THỰC

11.Đạo --> Đạo lý --> Triết lý --> Triết học

Chữ triết gồm chữ chiết là chẻ - tay (thủ) cầm cái rìu (cân), và chữ khẩu là cái miệng, tức là chia chẻ bằng miệng, bằng lời, là phân tích, lý luận, biện giải… là sở trường của các luận sư mà Đức Phật gọi là có tài chẻ sợi tóc làm tư.

Học đạo theo triết là chia chẻ Giáo Pháp để tìm cái nghĩa, rồi từ nghĩa người ta đem giải thích lý, áp dụng sự. Nhưng thực ra nhìn kỹ thì đó chỉ là tư kiến, quan niệm của riêng mình, chứ không phải là đạo lý đích thực mà Đức Phật muốn dạy.

Như vậy nghĩa chưa phải là thực.

Nghĩa phát xuất từ ý niệm, ngôn ngữ, tư tưởng, quan niệm của mỗi người, còn thực
thì vô ngôn, vô niệm…nên khác nhau một trời một vực.

Vậy khi chúng ta đọc kinh luận rồi tìm nghĩa để áp dụng nghĩa ấy mà tu hành, thì không khéo chúng ta chỉ đang làm theo ý mình mà cứ nghĩ là đã làm theo kinh Phật, kinh Tổ.

Nếu không thể nghe một câu kinh mà giác ngộ ngay thì chúng ta nên đi theo hướng “Vi đạo nhật tổn
”, nghĩa là chúng ta có thể mượn kinh điển để hiểu nghĩa, bỏ nghĩa để ngộ , lìa lý để chứng thực, cũng như nương ngón tay để tìm trăng thì phải biết rời ngón tay mới thấy mặt trăng được, lúc đó chúng ta mới đi đúng lộ trình từ kinh điển đến cái thực.

(Ngày 01-03-2015 Xem tiếp bài 1 - 12/19 Tỳ Kheo Viên Minh: Từ Kinh điển trở lại cái thực)
****************
Diễn đàn ghi chú : 4.Triết lý, chính là suy nghĩ về đạo lý. Triết lý thì chỉ thấy được cái nghĩa. Cái nghĩa, chính là nơi, là chỗ sinh ra tranh cãi, luận biện bất đồng. Do đó chỉ có người đã trải nghiệm qua và cùng cảnh ngộ với nhau mới hiểu cho nhiều. Riêng thiền định thì cùng cảnh ngộ cũng chưa chắc bởi ai ăn nấy lo, là vậy.
5. Đạo > Đạo lý là khi chúng ta hiểu kinh rồi, thì sau đó để thực hành. Nhưng lại có nhiều người bàn thêm về yếu nghĩa > đến luận biện để rồi pháp không tu mà chỉ tu cái nghĩa, cái triết lý cho sâu rộng để làm chi!
6;7 các phần này, HT phân tích rõ về các học phái mới sau này, không phải là không có các vị chư liệt tổ, liệt tông điều không đắc đạo, và ngộ đạo. Xin thưa, có rất nhiều và những vị đó đã để lại cho hậu nhân những gì, thì chúng ta cứ y theo đó mà nhận xét. Cho nên các vị đừng bi oan và phủ nhận đời này khó ngộ. Đây cũng là chướng 'Nghi' phiền não phát sanh...!?
8. Phần này đa số chúng ta bị lọt vào ngã chấp trên ngôn từ, trên kinh điển của dịch giả, mà quên rằng giữa ta và nhân vật chánh trong kinh sách hoàn toàn khác nhau giữa người đọc sách và hành giả tu hành...!?
9. Qua câu truyện Kim Dung về cửu âm và cửu dương chân kinh ví dụ của HT Viên Minh thật là xác ý, chúng ta phân biệt rõ sự thật về cách tu hành không nên nắm phần ngọn mà bỏ đi phần gốc. Phần gốc đó chính là Bát chánh đạo vậy.
10.Như Lão Tử đã nói: “Vi đạo nhật tổn, vi học nhật ích”.
Theo hướng đạo học thì càng ngày càng giảm bớt đi, càng giản dị hơn, còn theo hướng triết học thì càng ngày càng vi tế hơn, tinh xảo thêm… tưởng chừng như có thể tiếp cận cái thực nhưng hóa ra lại càng xa hơn.
11. Triết lý học là một việc, khi dùng ngôn từ để luận bàn, còn kinh thì phải tu tập mà trải nghiệm, chớ không nên so sánh bằng hay trước hoặc sau thì hành giả chỉ hiểu nghĩa mà thôi.
*** *** *** *** *** ***
(Ngày 18-2-2015 đọc bài 2 Bát Chánh Đạo: 1.Chánh kiến. )
(Ngày 10-2-2015 bài 2- 2/20 Re: Bát Chánh Đạo: 2.Chánh tư duy. Dịch giả Pháp Thông.)

*** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** ***
IV. Huân Tu

Dưỡng sinh 1
: Ngừa bệnh: tim mạch Re: Alzheimer: ngừa bệnh mất trí nhớ thế nào?
Sức khỏe và đời sống: 10 Bí quyết trường thọ, yêu đời
Dưỡng sinh 2: Huân Tu: Lễ Phật Ứng Dụng
Dưỡng sinh 3 (sát-na thiền): Tịnh Nghiệp 1

************************
***********************************************************************
1. Diễn đàn Tu viện Phật tử, Click >>> Forum: Or Forum.
2. Nhân sinh quan: (Ngày 12-2-2015) Tiêu điểm: Tết Ất Mùi 19-2-2015

Tuần thứ 09 : Hình ảnh Bản tin Ngày An Viên phát sóng ngày 23.02.2015
Links tháng: 01; 02; 03; 04; 05; 06; 07; 08; 09; 10; 11; 12. 2015
Thông tin Phật giáo. Quý II, III, IV 2013. Quý I, II, III, IV- 2014; Quí I; II; III; IV - 2015

*******************************************************************
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Diễn đàn Tu Viện Phật Tử, Quý I-2015

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 2 02 Tháng 3, 2015 4:05 pm

I. Giới học Ngày 02-03-2015 ( 12 tháng 1 năm Ất Mùi.)

CHÁNH NGỮ (SAMMÀ-VÀCÀ)

5. Ngôn ngữ của một người thường biểu thị cá tính của họ; một lời độc ác, một điệu bộ khó ưa, một nụ cười bất chánh, có thể biến một người bản chất hiền lương thành kẻ tội phạm, biến một người bạn thành kẻ thù.
"Chớ nói lời độc ác
Nói ác, bị nói lại
Khổ thay lời phẫn nộ
Ðao trượng phản chạm mình
".

Một trong những câu chuyện tiền thân của đức Bồ tát kể lại trường hợp Ngài đã làm thế nào để cho mẹ của mình dứt bỏ lời nói độc ác. Theo lời đồn bà là người đa ngôn và độc miệng, nhưng người con (Ðức Bồ tát) biết những khuyết điểm của mẹ, không muốn nói thẳng sợ làm cho bà Phật lòng.

Một hôm, Bồ tát (lúc đó là Vua xứ Benares 'Ba la nại')
ngự chơi vườn thượng uyển với mẫu hậu và quần thần.
Trên đường đi, một con chim giẻ cùi xanh (một loại chim có màu lông sặc sỡ hay kêu ầm ĩ)
cất tiếng kêu the thé chói tai đến nỗi mọi người phải bịt tai lại và la lên: "Thật là một tiếng kêu ác độc, một tiếng rít mới ghê rợn làm sao, đừng có kêu nữa, đừng có bắt người ta phải nghe nữa".

Rồi sau đó, vô tình Bồ tát và mẫu hậu cùng đoàn tuỳ tùng tản bộ đến một nơi êm ái dễ chịu kia, một con chim sáo cất tiếng hót ngọt ngào đến nỗi mọi người đều hân hoan và mong rằng nó sẽ hót lại nữa.

Ðây chính là lúc mà đức Bồ tát hằng chờ đợi,

Ngài liền nói: "Thưa mẫu hậu, tiếng kêu của loài chim giẻ cùi thật là khó chịu và mọi người thà bịt tai lại còn hơn phải nghe tiếng kêu của nó. Không ai thích lời nói thô lỗ cả. Con chim sáo dù đen đủi và không đẹp nhưng đã chiếm được cảm tình và sự chú ý của mọi người nhờ tiếng hót ngọt ngào của nó. Do vậy lời nói của người ta cần phải thân ái và tiết chế, điềm đạm và mang đầy ý nghĩa...".
Ðược Bồ tát khuyên giải như vậy, từ đó về sau người mẹ trở nên tế nhị hơn trong lời nói và tao nhã hơn trong tính cách.

Lời nói nhã nhặn và lịch thiệp có sức hấp dẫn và là một vốn quý đối với xã hội, vậy mà cái đẹp này thường bị phá hỏng bởi lời nói thô lỗ cọc cằn "ngôn ngữ của trái tim, ngôn ngữ xuất phát từ trái tim, luôn luôn mộc mạc, thanh nhã và đầy năng lực"

(Ngày 02-03-2015, bài 4 - 6/6 Re: Bát Chánh Đạo: 3.Chánh ngữ. Tỳ khưu Pháp Thông)

*****************
Diễn đàn ghi chú:
3.rong Pháp Kệ có nói rằng, người nín thinh ít nói thì chê ít nói, người nói nhiều thì cho lắm lời. Còn nói vừa vừa thì cũng trách là hiểm, là ít kỷ, là khó tánh...Thế gian không thể nào tìm cho được một người hoàn toàn bị chê bai hay trọn vẹn được khen ngợi. Thì tất nhiên tiếng đồn, thị phi của kẻ đâm thọc, nói lời ly gián sao tránh khỏi.
Nếu chúng ta không đủ bình tỉnh thì cũng bị ngay vòng thị phi của sân si. Do đó cần sáng suốt hơn đối với kẻ ấy, và ngược lại ta muốn nói lời không rõ đạt tình lý để người bị hàm oan thì cũng không nên làm.
Cần khéo như lý tác ý vào Chánh ngữ thì mới mong bớt được họa của cái lưỡi hai chiều. "lưỡi không xương trăm đường lắt léo, chính là nó vậy''.
4. Phàm là nói những điều không tốt về mình còn phải che dấu, thì muốn dạy người hay nói những điều không tốt đến người. Nên suy nghĩ kỹ rồi hãy nói, cũng chưa muộn.
5. Phần 5 này ví dụ về lời nói ác. Tại sao vậy? - Chúng ta có thể dùng: ngôn ngữ của trái tim, ngôn ngữ xuất phát từ trái tim, luôn luôn mộc mạc, thanh nhã và đầy năng lực. Tốt hơn phải không.

*** *** *** *** *** ***
(Ngày 16-2-2015, Hết bài 2- ) Re: Tu Là Chuyển Nghiệp: Hòa Thượng Thích Thanh Từ
(Ngày 10-2-2015, đọc tiếp bài 3) Re: Bát Chánh Đạo: 4.Chánh nghiệp
(Ngày 2-2-2015, hết bài 1) Bát Chánh Đạo: 5 Chánh Mạng T.T Thích Đức Thắng.
(Ngày 22-1-2015 đọc tiếp bài 3) Re: Chánh mạng: nhiều Tác-giả

*** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** ***
II. Định Học

9. Tu tập tâm bằng pháp Tứ Chánh Cần này không phải một sớm một chiều có thể thành tựu được. Nó cần có thời gian và cần phải thực hành đều đặn các bài tập luyện tâm.

Một lực sĩ hay một vận động viên điền kinh không thể dừng luyện tập sau một hay hai ngày, mà lúc nào cũng phải tiếp tục chương trình luyện tập của mình.
Luyện tập đều đặn không cần quá căng thẳng là mấu chốt đưa đến sự thích nghi của cơ thể.
Nếu bạn thực hành một cách thất thường lúc thì tinh tấn quá mức, lúc lại giãi đãi trây lười bạn sẽ chẳng bao giờ trở thành một vận động viên giỏi. Khi luyện tập tâm cũng vậy, bạn phải áp dụng khuôn vàng thước ngọc này, thực hành đều đặn và luôn luôn kiên nhẫn.

Khi thực hành những bài tập luyện tâm ta không cần phải dằng co với những tư duy ác bất thiện, cứ để cho nó hoàn toàn tự nhiên. Nếu chúng ta cố gắng chiến đấu với những tư duy ác của mình chúng ta sẽ thất bại.

Thay vì chiến đấu với nó chúng ta hãy ghi nhận và ngắm nhìn những tư duy của chúng ta khi nó khởi lên, phân tích chúng, và cố gắng làm giảm sự căng thẳng. Kỹ thuật này cũng giống như khi tập bơi vậy.
Nếu không cử động chân tay bạn sẽ chìm; nếu bạn quờ quạng lung tung bạn sẽ không bơi được, hay giống như một người ngủ, nếu bạn giằng co với ý nghĩ muốn ngủ bạn sẽ chẳng bao giờ rơi vào giấc ngủ, ý nghĩ chỉ là một sự hành hạ tinh thần đối với bạn. Bạn không cần phải gắng sức để ngủ. Giấc ngủ sẽ đến với bạn một cách tự nhiên và bạn chỉ cần thư giản những căng thẳng là đủ.

Vả lại, tự hành hạ mình là một trong những cực đoan mà Ðức Phật muốn người hành thiền phải tránh, vì bất lợi.

Hành hạ thân để ngăn chặn sự khởi sanh của những ác tư duy quả là điều vô ích, vì tự hành hạ mình như vậy sẽ luôn luôn kết thúc bằng sân hận và bất mãn. Khi tâm trở nên bất mãn, trạng thái hờ hững chai lỳ đối với việc hành thiền sẽ theo sau.

Tất cả mọi sự luyện tập tâm của chúng ta cần phải tự nhiên và được thực hiện với sự tỉnh thức.

'Nhiệt tâm mà không sáng suốt chẳng khác nào người chạy trong đêm tối'.


(Ngày 01-03-2015, đọc tiếp bài 2 - 10/15) Re: Bát Chánh Đạo: 6.Chánh Tinh Tấn
****************
Diễn đàn ghi chú
:5. Chánh tinh tấn tức là nghị lực vận hành của chánh kiến. Ở đây khác với nghị lực của ngũ dục. Nghị lực là sức mạnh của thân tâm sẽ chống các phiền não chướng như: hôm trầm thụy miên và phóng dật..
6. Phần này, chúng ta hiểu thêm sự tinh tân không phải bằng thể lực cho là đủ, mà con phải bằng tâm thức. (Xem lại tứ chánh cần, tứ như ý túc.)
7. Phần này, chúng ta học thế nào gọi là: Tinh tấn ngăn ngừa (Samvara), tinh tấn đoạn trừ (Pahàna), tinh tấn tu tập (Bhavàna) và tinh tấn duy trì (Anurakkhana).
8. Bất cứ sự việc nào cũng phải cần có sự tinh tấn ở đời hay đạo. Chánh tinh tấn là sức mạnh hổ trợ cho chánh niệm và chánh định. Hành giả muốn có thắng trí cũng chính là nhờ tập trung vào tinh tấn vậy.
9. Tứ chánh cần là một phương pháp cần mẩn, kiên trì và kiên nhẩn theo thời gian và cũng đừng áp bức những tiền định kiến thái quá. Hãy thấy và khắc phục bằng chánh niệm khi các pháp bất thiện sanh khởi. (Đọc lại bài thêm 1 lần nữa.)

*** *** *** *** *** ***
(Ngày 7-2-2015, đọc tiếp bài 3) Re: Bát Chánh Đạo: 7. Chánh Niệm
(Ngày 3-2-2015 hết bài Tịnh Nghiệp 1: Khi lái xe Tư duy: Pháp hành Chánh Niệm ? Pháp Hành Minh Sát Thực Tiễn, Tác giả Mahasi Saydaw, Dịch giả: Pháp Thông. )
*** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** ***
III. Huệ học

TỪ KINH ĐIỂN TRỞ LẠI CÁI THỰC

12. Trong lộ trình mượn kinh điển làm phương tiện để trở về Thực Tánh Pháp này chúng ta đã biết nghĩa còn xa với thực, vậy lý đã tới thực chưa?
Vốn trong từ lý bao gồm hai yếu tố nghĩa và thực (nghĩa + thực = lý) nên khi thực còn mơ hồ thì lý vẫn chỉ là nghĩa, đó là trường hợp giải ngộ, chưa phải là chứng ngộ.

Đến được lý rồi xem ra đã đúng nhưng nếu còn kẹt, còn chấp lý tức là chưa phải thực ngộ.

Ví dụ, khi chúng ta chợt nhận ra rằng: “Thấy cái tâm hoàn toàn vắng lặng, rỗng không - không nghĩ thiện, không nghĩ ác, không động khởi gì hết - tức là thấy tánh, thấy bản lai thanh tịnh, thấy Thực Tánh Pháp” chúng ta tưởng đã ngộ lý nhưng thực ra chỉ đúng một phần.

Tuy không sai nhưng không đúng hẳn nên vẫn còn xa ngàn dặm. Thanh tịnh thì đúng là Phật có dạy, không nghĩ thiện không nghĩ ác thì Ngài Huệ Năng có dạy, nhưng nếu chúng ta cứ giữ cái tâm im re, không suy nghĩ, không động khởi gì cả thì quả là oan cho Phật cho Tổ.
(Ngày 02-03-2015 Xem tiếp bài 1 - 13/19 Tỳ Kheo Viên Minh: Từ Kinh điển trở lại cái thực)
****************
Diễn đàn ghi chú : 4.Triết lý, chính là suy nghĩ về đạo lý. Triết lý thì chỉ thấy được cái nghĩa. Cái nghĩa, chính là nơi, là chỗ sinh ra tranh cãi, luận biện bất đồng. Do đó chỉ có người đã trải nghiệm qua và cùng cảnh ngộ với nhau mới hiểu cho nhiều. Riêng thiền định thì cùng cảnh ngộ cũng chưa chắc bởi ai ăn nấy lo, là vậy.
5. Đạo > Đạo lý là khi chúng ta hiểu kinh rồi, thì sau đó để thực hành. Nhưng lại có nhiều người bàn thêm về yếu nghĩa > đến luận biện để rồi pháp không tu mà chỉ tu cái nghĩa, cái triết lý cho sâu rộng để làm chi!
6;7 các phần này, HT phân tích rõ về các học phái mới sau này, không phải là không có các vị chư liệt tổ, liệt tông điều không đắc đạo, và ngộ đạo. Xin thưa, có rất nhiều và những vị đó đã để lại cho hậu nhân những gì, thì chúng ta cứ y theo đó mà nhận xét. Cho nên các vị đừng bi oan và phủ nhận đời này khó ngộ. Đây cũng là chướng 'Nghi' phiền não phát sanh...!?
8. Phần này đa số chúng ta bị lọt vào ngã chấp trên ngôn từ, trên kinh điển của dịch giả, mà quên rằng giữa ta và nhân vật chánh trong kinh sách hoàn toàn khác nhau giữa người đọc sách và hành giả tu hành...!?
9. Qua câu truyện Kim Dung về cửu âm và cửu dương chân kinh ví dụ của HT Viên Minh thật là xác ý, chúng ta phân biệt rõ sự thật về cách tu hành không nên nắm phần ngọn mà bỏ đi phần gốc. Phần gốc đó chính là Bát chánh đạo vậy.
10.Như Lão Tử đã nói: “Vi đạo nhật tổn, vi học nhật ích”.
Theo hướng đạo học thì càng ngày càng giảm bớt đi, càng giản dị hơn, còn theo hướng triết học thì càng ngày càng vi tế hơn, tinh xảo thêm… tưởng chừng như có thể tiếp cận cái thực nhưng hóa ra lại càng xa hơn.
11. Triết lý học là một việc, khi dùng ngôn từ để luận bàn, còn kinh thì phải tu tập mà trải nghiệm, chớ không nên so sánh bằng hay trước hoặc sau thì hành giả chỉ hiểu nghĩa mà thôi.
12. Mượn kinh điểu hiểu cái "thực tánh" (p/s. những người đọc kinh đại thừa thường là dễ lầm ở phần này.) Ví dụ kinh dạy đây là cách làm ra một cái bánh thật ngon. Bạn đã hiểu, tức là bạn đã thấy được thực tánh của cái bánh. Nhưng bạn đã ăn chưa?
Nếu chưa ăn tức là chỉ hiểu lý. Lý này là lý của Nghĩ + kinh (thực tánh). Không khác.

*** *** *** *** *** ***
(Ngày 18-2-2015 đọc bài 2 Bát Chánh Đạo: 1.Chánh kiến. )
(Ngày 10-2-2015 bài 2- 2/20 Re: Bát Chánh Đạo: 2.Chánh tư duy. Dịch giả Pháp Thông.)

*** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** ***
IV. Huân Tu

Dưỡng sinh 1
: Ngừa bệnh: tim mạch Re: Alzheimer: ngừa bệnh mất trí nhớ thế nào?
Sức khỏe và đời sống: 10 Bí quyết trường thọ, yêu đời
Dưỡng sinh 2: Huân Tu: Lễ Phật Ứng Dụng
Dưỡng sinh 3 (sát-na thiền): Tịnh Nghiệp 1

************************
***********************************************************************
1. Diễn đàn Tu viện Phật tử, Click >>> Forum: Or Forum.
2. Nhân sinh quan: (Ngày 12-2-2015) Tiêu điểm: Tết Ất Mùi 19-2-2015

Tuần thứ 10 : Hình ảnhBản tin Ngày An Viên phát sóng ngày 01.03.2015
Links tháng: 01; 02; 03; 04; 05; 06; 07; 08; 09; 10; 11; 12. 2015
Thông tin Phật giáo. Quý II, III, IV 2013. Quý I, II, III, IV- 2014; Quí I; II; III; IV - 2015

*******************************************************************
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Diễn đàn Tu Viện Phật Tử, Quý I-2015

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 3 03 Tháng 3, 2015 8:29 pm

I. Giới học Ngày 03-03-2015 ( 13 tháng 1 năm Ất Mùi.)

CHÁNH NGỮ (SAMMÀ-VÀCÀ)

5. Ngôn ngữ của một người thường biểu thị cá tính của họ; một lời độc ác, một điệu bộ khó ưa, một nụ cười bất chánh, có thể biến một người bản chất hiền lương thành kẻ tội phạm, biến một người bạn thành kẻ thù.
"Chớ nói lời độc ác
Nói ác, bị nói lại
Khổ thay lời phẫn nộ
Ðao trượng phản chạm mình
".

Một trong những câu chuyện tiền thân của đức Bồ tát kể lại trường hợp Ngài đã làm thế nào để cho mẹ của mình dứt bỏ lời nói độc ác. Theo lời đồn bà là người đa ngôn và độc miệng, nhưng người con (Ðức Bồ tát) biết những khuyết điểm của mẹ, không muốn nói thẳng sợ làm cho bà Phật lòng.

Một hôm, Bồ tát (lúc đó là Vua xứ Benares 'Ba la nại')
ngự chơi vườn thượng uyển với mẫu hậu và quần thần.
Trên đường đi, một con chim giẻ cùi xanh (một loại chim có màu lông sặc sỡ hay kêu ầm ĩ)
cất tiếng kêu the thé chói tai đến nỗi mọi người phải bịt tai lại và la lên: "Thật là một tiếng kêu ác độc, một tiếng rít mới ghê rợn làm sao, đừng có kêu nữa, đừng có bắt người ta phải nghe nữa".

Rồi sau đó, vô tình Bồ tát và mẫu hậu cùng đoàn tuỳ tùng tản bộ đến một nơi êm ái dễ chịu kia, một con chim sáo cất tiếng hót ngọt ngào đến nỗi mọi người đều hân hoan và mong rằng nó sẽ hót lại nữa.

Ðây chính là lúc mà đức Bồ tát hằng chờ đợi,

Ngài liền nói: "Thưa mẫu hậu, tiếng kêu của loài chim giẻ cùi thật là khó chịu và mọi người thà bịt tai lại còn hơn phải nghe tiếng kêu của nó. Không ai thích lời nói thô lỗ cả. Con chim sáo dù đen đủi và không đẹp nhưng đã chiếm được cảm tình và sự chú ý của mọi người nhờ tiếng hót ngọt ngào của nó. Do vậy lời nói của người ta cần phải thân ái và tiết chế, điềm đạm và mang đầy ý nghĩa...".
Ðược Bồ tát khuyên giải như vậy, từ đó về sau người mẹ trở nên tế nhị hơn trong lời nói và tao nhã hơn trong tính cách.

Lời nói nhã nhặn và lịch thiệp có sức hấp dẫn và là một vốn quý đối với xã hội, vậy mà cái đẹp này thường bị phá hỏng bởi lời nói thô lỗ cọc cằn "ngôn ngữ của trái tim, ngôn ngữ xuất phát từ trái tim, luôn luôn mộc mạc, thanh nhã và đầy năng lực"

(Ngày 02-03-2015, bài 4 - 6/6 Re: Bát Chánh Đạo: 3.Chánh ngữ. Tỳ khưu Pháp Thông)

*****************
Diễn đàn ghi chú:
3.rong Pháp Kệ có nói rằng, người nín thinh ít nói thì chê ít nói, người nói nhiều thì cho lắm lời. Còn nói vừa vừa thì cũng trách là hiểm, là ít kỷ, là khó tánh...Thế gian không thể nào tìm cho được một người hoàn toàn bị chê bai hay trọn vẹn được khen ngợi. Thì tất nhiên tiếng đồn, thị phi của kẻ đâm thọc, nói lời ly gián sao tránh khỏi.
Nếu chúng ta không đủ bình tỉnh thì cũng bị ngay vòng thị phi của sân si. Do đó cần sáng suốt hơn đối với kẻ ấy, và ngược lại ta muốn nói lời không rõ đạt tình lý để người bị hàm oan thì cũng không nên làm.
Cần khéo như lý tác ý vào Chánh ngữ thì mới mong bớt được họa của cái lưỡi hai chiều. "lưỡi không xương trăm đường lắt léo, chính là nó vậy''.
4. Phàm là nói những điều không tốt về mình còn phải che dấu, thì muốn dạy người hay nói những điều không tốt đến người. Nên suy nghĩ kỹ rồi hãy nói, cũng chưa muộn.
5. Phần 5 này ví dụ về lời nói ác. Tại sao vậy? - Chúng ta có thể dùng: ngôn ngữ của trái tim, ngôn ngữ xuất phát từ trái tim, luôn luôn mộc mạc, thanh nhã và đầy năng lực. Tốt hơn phải không.

*** *** *** *** *** ***
(Ngày 16-2-2015, Hết bài 2- ) Re: Tu Là Chuyển Nghiệp: Hòa Thượng Thích Thanh Từ
(Ngày 10-2-2015, đọc tiếp bài 3) Re: Bát Chánh Đạo: 4.Chánh nghiệp
(Ngày 2-2-2015, hết bài 1) Bát Chánh Đạo: 5 Chánh Mạng T.T Thích Đức Thắng.
(Ngày 22-1-2015 đọc tiếp bài 3) Re: Chánh mạng: nhiều Tác-giả

*** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** ***
II. Định Học

10.Như Ðức Phật đã chỉ rõ, những ai ước muốn thành tựu giải thoát qua sự giác ngộ cần phải tránh mọi cực đoan dù ở đâu và trong trường hợp nào họ cũng phải giữ trung đạo.

Trong việc thực hành chánh tinh tấn cũng vậy, ta phải theo pháp trung dung, không để rơi vào một cực đoan nào cả.

Một người cỡi ngựa chẳng hạn, xem chừng tốc độ của con ngựa, khi nó chạy nhanh hơn ý muốn, ông ta phải kềm cương lại cho chậm bớt. Ngược lại khi ngựa tỏ dấu hiệu chậm lụt ông liền thúc cho nó chạy nhanh hơn.

Ðối với người tu tập chánh tinh tấn cũng như vậy, không căng thẳng để khỏi bị trạo cử, không chùng quá để khỏi bị hôn trầm. Cũng như người kỹ sĩ, hành giả phải luôn luôn giữ quân bình. Câu chuyện sau đây sẽ minh hoạ rõ điều này.

Có câu chuyện kể về một vị Tỳ khưu, Tôn giả Sona - kolivisa, người vận dụng cả tâm lực lẫn thể lực để thực hiện một sự tinh tấn mãnh liệt nhưng chẳng đưa đến kết quả gì. Rồi ý tưởng sau đây nảy sinh trong tâm vị ấy trong lúc đang độc cư thiền định:

"Trong hàng đệ tử của Ðức Thế Tôn, sống hạnh nhiệt tâm tinh tấn và Ta là một trong số các vị ấy. Tuy vậy, tâm ta vẫn chưa thoát khỏi những cấu uế. Gia đình ta giàu có, ta có thể hưởng thụ sự giàu sang và làm các việc phước thiện, nếu như ta từ bỏ học giới và trở về với đời sống cư sĩ thấp hèn hưởng thụ cảnh giàu sang và làm các công đức thì sao?".

Ðức Thế Tôn đọc được ý nghĩ trong tâm vị ấy, đi đến và hỏi rằng:

Nầy Sona, phải chăng con nghĩ: Trong hàng đệ tử của Ðức Thế Tôn sống hạnh nhiệt tâm tinh tấn... và làm các công đức thì sao?

Thưa vâng bạch Ðức Thế Tôn.

Và con nghĩ như thế nào này Sona, phải chăng trước khi xuất gia con đã từng chơi đàn tỳ bà đúng không?

Bạch Ðức Thế Tôn, có như vậy.

Thế con nghĩ thế nào, này Sona, khi những sợi dây đàn tỳ bà của con quá căng lúc đó nó có đúng giọng và có thể chơi được không?

Không thể, bạch Thế Tôn.

Này Sona, con nghĩ thế nào, khi những sợi dây đàn tỳ bà của con quá chùng thì nó có đúng giọng và có thể chơi được không?

Không thể, bạch Ðức Thế Tôn.

Thế nhưng, này Sona, khi những sợi dây của cây đàn con không quá căng và cũng không quá chùng, mà được điều chỉnh vừa mức trung bình, lúc ấy nó có đúng giọng và có thể chơi được không?

Bạch Ðức Thế Tôn, chắc chắn là có thể.

Cũng vậy, này Sona, tinh tấn khi quá mức cần thiết sẽ dẫn đến dao động trạo cử và khi quá lơi lỏng sẽ dẫn đến lười biếng uể oải. Vì thế, này Sona, con hãy kiên quyết thực hiện một sự kiên quyết như vầy: Tuệ tri tính bình đẳng của các căn, ta sẽ cố gắng nắm lấy đề mục nhờ đều đặn tinh tấn.

Thưa vâng, bạch Ðức Thế Tôn.

Tôn giả Sona nghe theo lời chỉ dẫn của Ðức Thế Tôn và đúng thời đạt đến sự hoàn thiện (giác ngộ) và được kể vào số các vị A-La-Hán

(Ngày 03-03-2015, đọc tiếp bài 2 - 11/15) Re: Bát Chánh Đạo: 6.Chánh Tinh Tấn
****************
Diễn đàn ghi chú
:5. Chánh tinh tấn tức là nghị lực vận hành của chánh kiến. Ở đây khác với nghị lực của ngũ dục. Nghị lực là sức mạnh của thân tâm sẽ chống các phiền não chướng như: hôm trầm thụy miên và phóng dật..
6. Phần này, chúng ta hiểu thêm sự tinh tân không phải bằng thể lực cho là đủ, mà con phải bằng tâm thức. (Xem lại tứ chánh cần, tứ như ý túc.)
7. Phần này, chúng ta học thế nào gọi là: Tinh tấn ngăn ngừa (Samvara), tinh tấn đoạn trừ (Pahàna), tinh tấn tu tập (Bhavàna) và tinh tấn duy trì (Anurakkhana).

8. Bất cứ sự việc nào cũng phải cần có sự tinh tấn ở đời hay đạo. Chánh tinh tấn là sức mạnh hổ trợ cho chánh niệm và chánh định. Hành giả muốn có thắng trí cũng chính là nhờ tập trung vào tinh tấn vậy.
9. Tứ chánh cần là một phương pháp cần mẩn, kiên trì và kiên nhẩn theo thời gian và cũng đừng áp bức những tiền định kiến thái quá. Hãy thấy và khắc phục bằng chánh niệm khi các pháp bất thiện sanh khởi. (Đọc lại bài thêm 1 lần nữa.)
10. Tinh tấn được ví dụ qua một người nghệ sĩ chơi đàn, phải bởi lúc nào, chổ nào dùng... thì sự tinh tấn mới không bị trạo cử hay hôn trầm. (trạo cử là tâm bị giao động, hôn trầm thì không biết giữ tâm.)
*** *** *** *** *** ***
(Ngày 7-2-2015, đọc tiếp bài 3) Re: Bát Chánh Đạo: 7. Chánh Niệm
(Ngày 3-2-2015 hết bài Tịnh Nghiệp 1: Khi lái xe Tư duy: Pháp hành Chánh Niệm ? Pháp Hành Minh Sát Thực Tiễn, Tác giả Mahasi Saydaw, Dịch giả: Pháp Thông. )
*** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** ***
III. Huệ học

TỪ KINH ĐIỂN TRỞ LẠI CÁI THỰC

13. Thanh tịnh không có nghĩa là không khởi tâm. Chính Ngài Huệ Năng nói: “Bất đoạn bách tư tưởng, đối cảnh tâm sổ khởi” vì nếu thanh tịnh là cái tâm im lìm bất động thì làm sao mà Phật, Thánh, Bồ-tát khởi đại bi tâm đi thuyết pháp chỗ này, chỗ kia, khai ngộ người này, người nọ cho được. Thấy tịnh, thấy động đúng như thực tánh, tùy duyên mà không vướng kẹt bên nào mới thong dong tự tại, mới “ Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm” chứ nếu trụ nơi lý thanh tịnh rồi cố gắng thủ đắc, trì giữ thì đã rơi vào “trầm không trệ tịch” làm sao vào được thực tánh!

Thấy lý, đừng kẹt vào , mà phải khám phá và xác chứng lý trên sự. Cho nên Kinh Hoa Nghiêm muốn giới thiệu một tiến trình tương quan giữa lý và sự như thế này:
(Ngày 03-03-2015 Xem tiếp bài 1 - 14/19 Tỳ Kheo Viên Minh: Từ Kinh điển trở lại cái thực)
****************
Diễn đàn ghi chú : 4.Triết lý, chính là suy nghĩ về đạo lý. Triết lý thì chỉ thấy được cái nghĩa. Cái nghĩa, chính là nơi, là chỗ sinh ra tranh cãi, luận biện bất đồng. Do đó chỉ có người đã trải nghiệm qua và cùng cảnh ngộ với nhau mới hiểu cho nhiều. Riêng thiền định thì cùng cảnh ngộ cũng chưa chắc bởi ai ăn nấy lo, là vậy.
5. Đạo > Đạo lý là khi chúng ta hiểu kinh rồi, thì sau đó để thực hành. Nhưng lại có nhiều người bàn thêm về yếu nghĩa > đến luận biện để rồi pháp không tu mà chỉ tu cái nghĩa, cái triết lý cho sâu rộng để làm chi!
6;7 các phần này, HT phân tích rõ về các học phái mới sau này, không phải là không có các vị chư liệt tổ, liệt tông điều không đắc đạo, và ngộ đạo. Xin thưa, có rất nhiều và những vị đó đã để lại cho hậu nhân những gì, thì chúng ta cứ y theo đó mà nhận xét. Cho nên các vị đừng bi oan và phủ nhận đời này khó ngộ. Đây cũng là chướng 'Nghi' phiền não phát sanh...!?

8. Phần này đa số chúng ta bị lọt vào ngã chấp trên ngôn từ, trên kinh điển của dịch giả, mà quên rằng giữa ta và nhân vật chánh trong kinh sách hoàn toàn khác nhau giữa người đọc sách và hành giả tu hành...!?
9. Qua câu truyện Kim Dung về cửu âm và cửu dương chân kinh ví dụ của HT Viên Minh thật là xác ý, chúng ta phân biệt rõ sự thật về cách tu hành không nên nắm phần ngọn mà bỏ đi phần gốc. Phần gốc đó chính là Bát chánh đạo vậy.
10.Như Lão Tử đã nói: “Vi đạo nhật tổn, vi học nhật ích”.
Theo hướng đạo học thì càng ngày càng giảm bớt đi, càng giản dị hơn, còn theo hướng triết học thì càng ngày càng vi tế hơn, tinh xảo thêm… tưởng chừng như có thể tiếp cận cái thực nhưng hóa ra lại càng xa hơn.

11. Triết lý học là một việc, khi dùng ngôn từ để luận bàn, còn kinh thì phải tu tập mà trải nghiệm, chớ không nên so sánh bằng hay trước hoặc sau thì hành giả chỉ hiểu nghĩa mà thôi.
12. Mượn kinh điểu hiểu cái "thực tánh" (p/s. những người đọc kinh đại thừa thường là dễ lầm ở phần này.) Ví dụ kinh dạy đây là cách làm ra một cái bánh thật ngon. Bạn đã hiểu, tức là bạn đã thấy được thực tánh của cái bánh. Nhưng bạn đã ăn chưa?
Nếu chưa ăn tức là chỉ hiểu lý. Lý này là lý của Nghĩ + kinh (thực tánh). Không khác.
13. Thanh tịnh không có nghĩa là không khởi tâm...!
*** *** *** *** *** ***
(Ngày 18-2-2015 đọc bài 2 Bát Chánh Đạo: 1.Chánh kiến. )
(Ngày 10-2-2015 bài 2- 2/20 Re: Bát Chánh Đạo: 2.Chánh tư duy. Dịch giả Pháp Thông.)

*** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** ***
IV. Huân Tu

Dưỡng sinh 1
: Ngừa bệnh: tim mạch Re: Alzheimer: ngừa bệnh mất trí nhớ thế nào?
Sức khỏe và đời sống: 10 Bí quyết trường thọ, yêu đời
Dưỡng sinh 2: Huân Tu: Lễ Phật Ứng Dụng
Dưỡng sinh 3 (sát-na thiền): Tịnh Nghiệp 1

************************
***********************************************************************
1. Diễn đàn Tu viện Phật tử, Click >>> Forum: Or Forum.
2. Nhân sinh quan: (Ngày 12-2-2015) Tiêu điểm: Tết Ất Mùi 19-2-2015

Tuần thứ 10 : Hình ảnhBản tin Ngày An Viên phát sóng ngày 01.03.2015
Links tháng: 01; 02; 03; 04; 05; 06; 07; 08; 09; 10; 11; 12. 2015
Thông tin Phật giáo. Quý II, III, IV 2013. Quý I, II, III, IV- 2014; Quí I; II; III; IV - 2015

*******************************************************************
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Diễn đàn Tu Viện Phật Tử, Quý I-2015

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 4 04 Tháng 3, 2015 8:45 am

I. Giới học Ngày 04-03-2015 ( 14 tháng 1 năm Ất Mùi.)

CHÁNH NGỮ (SAMMÀ-VÀCÀ)

6. Giới thứ tư và cũng là giới cuối cùng liên quan đến Chánh Ngữ là không nói lời phù phiếm hay nói lời vô ích, tức là những lời không đem lại lợi ích cho ai cả. Người ta thường thích nói chuyện phù phiếm cho qua ngày, nhất là những chuyện gièm pha chê bai người khác với ác ý. Các cột lượm lặt trên báo chí cũng được xem là không tốt. Các ông, các bà khi rảnh rỗi thường mãi miết trong các câu chuyện gẫu bất tận, họ giải trí bằng cái giá phải trả của người khác.

Lời khuyên vàng ngọc của Ðức Phật là: "Này các Tỳ khưu, khi các con tu tập cùng nhau thời có hai việc cần làm, hoặc là nói về pháp (dhamma) hoặc là giữ sự yên lặng như bậc Thánh".

Trong ngôn ngữ Pàli từ Muni (Mâu Ni) có nghĩa là người luôn giữ sự yên lặng (Bậc tịch tịnh), thường được dùng để gọi một vị Thánh. Vâng "Yên lặng là vàng" chính vì vậy đừng nên nói, trừ khi bạn chắc chắn rằng bạn không thể tốt hơn trong sự yên lặng.

Nói nhiều là mối hiểm nguy,
Người thường yên lặng tránh điều tai ương,
Két kia liến thoắng bị giam
Hoá chim không nói vẫy vùng tự do.

"Người ta không thể trở thành bậc trí chỉ vì nói nhiều". Cũng không phải vì nói nhiều mà người ta được gọi là bậc lão thông Pháp (Dhammadhara).
Và sợ rằng người ta có thể hiểu lầm sự yên lặng của bậc Thanh Tịnh (Muni), Ðức Phật nói:

"Giữ yên lặng không biến kẻ ngu dốt, si mê thành bậc Thánh (muni)".
Im lặng nhưng ngu si
Ðâu phải bậc hiền trí.

(Ngày 04-03-2015, hết bài 4 Re: Bát Chánh Đạo: 3.Chánh ngữ. Tỳ khưu Pháp Thông)

*****************
Diễn đàn ghi chú:
3.rong Pháp Kệ có nói rằng, người nín thinh ít nói thì chê ít nói, người nói nhiều thì cho lắm lời. Còn nói vừa vừa thì cũng trách là hiểm, là ít kỷ, là khó tánh...Thế gian không thể nào tìm cho được một người hoàn toàn bị chê bai hay trọn vẹn được khen ngợi. Thì tất nhiên tiếng đồn, thị phi của kẻ đâm thọc, nói lời ly gián sao tránh khỏi.
Nếu chúng ta không đủ bình tỉnh thì cũng bị ngay vòng thị phi của sân si. Do đó cần sáng suốt hơn đối với kẻ ấy, và ngược lại ta muốn nói lời không rõ đạt tình lý để người bị hàm oan thì cũng không nên làm.
Cần khéo như lý tác ý vào Chánh ngữ thì mới mong bớt được họa của cái lưỡi hai chiều. "lưỡi không xương trăm đường lắt léo, chính là nó vậy''.
4. Phàm là nói những điều không tốt về mình còn phải che dấu, thì muốn dạy người hay nói những điều không tốt đến người. Nên suy nghĩ kỹ rồi hãy nói, cũng chưa muộn.
5. Phần 5 này ví dụ về lời nói ác. Tại sao vậy? - Chúng ta có thể dùng: ngôn ngữ của trái tim, ngôn ngữ xuất phát từ trái tim, luôn luôn mộc mạc, thanh nhã và đầy năng lực. Tốt hơn phải không.
6. Để kết thúc bài giữ khẩu nghiệp của nghiệp nói thị phi tức là nói lời phù phiếm không đem lại lợi ích cho người cho mình. Đức Phật, Ngài dạy ''"Này các Tỳ khưu, khi các con tu tập cùng nhau thời có hai việc cần làm, hoặc là nói về pháp (dhamma) hoặc là giữ sự yên lặng như bậc Thánh".

*** *** *** *** *** ***
(Ngày 16-2-2015, Hết bài 2- ) Re: Tu Là Chuyển Nghiệp: Hòa Thượng Thích Thanh Từ
(Ngày 10-2-2015, đọc tiếp bài 3) Re: Bát Chánh Đạo: 4.Chánh nghiệp
(Ngày 2-2-2015, hết bài 1) Bát Chánh Đạo: 5 Chánh Mạng T.T Thích Đức Thắng.
(Ngày 22-1-2015 đọc tiếp bài 3) Re: Chánh mạng: nhiều Tác-giả
(Ngày 04-03-2015, hết bài 4 Re: Bát Chánh Đạo: 3.Chánh ngữ. )
*** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** ***
II. Định Học

10.Như Ðức Phật đã chỉ rõ, những ai ước muốn thành tựu giải thoát qua sự giác ngộ cần phải tránh mọi cực đoan dù ở đâu và trong trường hợp nào họ cũng phải giữ trung đạo.

Trong việc thực hành chánh tinh tấn cũng vậy, ta phải theo pháp trung dung, không để rơi vào một cực đoan nào cả.

Một người cỡi ngựa chẳng hạn, xem chừng tốc độ của con ngựa, khi nó chạy nhanh hơn ý muốn, ông ta phải kềm cương lại cho chậm bớt. Ngược lại khi ngựa tỏ dấu hiệu chậm lụt ông liền thúc cho nó chạy nhanh hơn.

Ðối với người tu tập chánh tinh tấn cũng như vậy, không căng thẳng để khỏi bị trạo cử, không chùng quá để khỏi bị hôn trầm. Cũng như người kỹ sĩ, hành giả phải luôn luôn giữ quân bình. Câu chuyện sau đây sẽ minh hoạ rõ điều này.

Có câu chuyện kể về một vị Tỳ khưu, Tôn giả Sona - kolivisa, người vận dụng cả tâm lực lẫn thể lực để thực hiện một sự tinh tấn mãnh liệt nhưng chẳng đưa đến kết quả gì. Rồi ý tưởng sau đây nảy sinh trong tâm vị ấy trong lúc đang độc cư thiền định:

"Trong hàng đệ tử của Ðức Thế Tôn, sống hạnh nhiệt tâm tinh tấn và Ta là một trong số các vị ấy. Tuy vậy, tâm ta vẫn chưa thoát khỏi những cấu uế. Gia đình ta giàu có, ta có thể hưởng thụ sự giàu sang và làm các việc phước thiện, nếu như ta từ bỏ học giới và trở về với đời sống cư sĩ thấp hèn hưởng thụ cảnh giàu sang và làm các công đức thì sao?".

Ðức Thế Tôn đọc được ý nghĩ trong tâm vị ấy, đi đến và hỏi rằng:

Nầy Sona, phải chăng con nghĩ: Trong hàng đệ tử của Ðức Thế Tôn sống hạnh nhiệt tâm tinh tấn... và làm các công đức thì sao?

Thưa vâng bạch Ðức Thế Tôn.

Và con nghĩ như thế nào này Sona, phải chăng trước khi xuất gia con đã từng chơi đàn tỳ bà đúng không?

Bạch Ðức Thế Tôn, có như vậy.

Thế con nghĩ thế nào, này Sona, khi những sợi dây đàn tỳ bà của con quá căng lúc đó nó có đúng giọng và có thể chơi được không?

Không thể, bạch Thế Tôn.

Này Sona, con nghĩ thế nào, khi những sợi dây đàn tỳ bà của con quá chùng thì nó có đúng giọng và có thể chơi được không?

Không thể, bạch Ðức Thế Tôn.

Thế nhưng, này Sona, khi những sợi dây của cây đàn con không quá căng và cũng không quá chùng, mà được điều chỉnh vừa mức trung bình, lúc ấy nó có đúng giọng và có thể chơi được không?

Bạch Ðức Thế Tôn, chắc chắn là có thể.

Cũng vậy, này Sona, tinh tấn khi quá mức cần thiết sẽ dẫn đến dao động trạo cử và khi quá lơi lỏng sẽ dẫn đến lười biếng uể oải. Vì thế, này Sona, con hãy kiên quyết thực hiện một sự kiên quyết như vầy: Tuệ tri tính bình đẳng của các căn, ta sẽ cố gắng nắm lấy đề mục nhờ đều đặn tinh tấn.

Thưa vâng, bạch Ðức Thế Tôn.

Tôn giả Sona nghe theo lời chỉ dẫn của Ðức Thế Tôn và đúng thời đạt đến sự hoàn thiện (giác ngộ) và được kể vào số các vị A-La-Hán

(Ngày 03-03-2015, đọc tiếp bài 2 - 11/15) Re: Bát Chánh Đạo: 6.Chánh Tinh Tấn
****************
Diễn đàn ghi chú
:5. Chánh tinh tấn tức là nghị lực vận hành của chánh kiến. Ở đây khác với nghị lực của ngũ dục. Nghị lực là sức mạnh của thân tâm sẽ chống các phiền não chướng như: hôm trầm thụy miên và phóng dật..
6. Phần này, chúng ta hiểu thêm sự tinh tân không phải bằng thể lực cho là đủ, mà con phải bằng tâm thức. (Xem lại tứ chánh cần, tứ như ý túc.)
7. Phần này, chúng ta học thế nào gọi là: Tinh tấn ngăn ngừa (Samvara), tinh tấn đoạn trừ (Pahàna), tinh tấn tu tập (Bhavàna) và tinh tấn duy trì (Anurakkhana).

8. Bất cứ sự việc nào cũng phải cần có sự tinh tấn ở đời hay đạo. Chánh tinh tấn là sức mạnh hổ trợ cho chánh niệm và chánh định. Hành giả muốn có thắng trí cũng chính là nhờ tập trung vào tinh tấn vậy.
9. Tứ chánh cần là một phương pháp cần mẩn, kiên trì và kiên nhẩn theo thời gian và cũng đừng áp bức những tiền định kiến thái quá. Hãy thấy và khắc phục bằng chánh niệm khi các pháp bất thiện sanh khởi. (Đọc lại bài thêm 1 lần nữa.)
10. Tinh tấn được ví dụ qua một người nghệ sĩ chơi đàn, phải bởi lúc nào, chổ nào dùng... thì sự tinh tấn mới không bị trạo cử hay hôn trầm. (trạo cử là tâm bị giao động, hôn trầm thì không biết giữ tâm.)
*** *** *** *** *** ***
(Ngày 7-2-2015, đọc tiếp bài 3) Re: Bát Chánh Đạo: 7. Chánh Niệm
(Ngày 3-2-2015 hết bài Tịnh Nghiệp 1: Khi lái xe Tư duy: Pháp hành Chánh Niệm ? Pháp Hành Minh Sát Thực Tiễn, Tác giả Mahasi Saydaw, Dịch giả: Pháp Thông. )
*** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** ***
III. Huệ học

TỪ KINH ĐIỂN TRỞ LẠI CÁI THỰC

14. Sự (1) --> Lý (2) --> Sự Lý (3) --> Sự Sự (4)

Chúng ta thường sống trong sự (1) mà không thấy sự. Đi, đứng, ngồi, nằm, ăn, nói, ngủ, nghỉ, v.v… đều là sự, nhưng chúng ta không thấy, không sống, không thể nhập trong đó. Thấy được sự một cách trung thực gọi là lý (2).
Tuy nhiên, đôi khi chỉ mới ngộ lý mà chưa sống thực được nên vẫn còn kẹt lý, cần phải thể nghiệm lý trong sự (3) một cách nhuần nhuyễn thì mới dung thông được. Khi đã sống trong sự một cách như chân như thực không còn vướng kẹt gì nữa thì không cần lý nữa vì lý đã tiềm ẩn trong sự rồi, đó là sự sự vô ngại (4).

Thí dụ, nghe người ta nói “sắc tức thị không”
thì tưởng cái gì cũng không cả, tưởng cái sắc này cũng không. Nếu không có gì thì thử lấy tay tự đánh một tát tai xem sao? Nếu nói tay này không có, cái mặt này cũng không có, thì cái tay tát vào mặt cũng không có chứ gì?

Có người lại nghĩ rằng sở dĩ còn thấy cái tay, cái mặt, cái đau là tại mình phàm phu, bây giờ phải rán mà ngồi “quán không” cho đến khi không còn thấy cái tay, cái mặt, cái đau nữa tức là đạt đạo. Chà! Cái đạo không này mới là cao siêu dễ sợ thật!

Có ngờ đâu, cái đạo không đó chỉ là quán (nghĩ tưởng về) cái không do tưởng sinh chứ không phải quán không của trí tuệ. Cho nên, đôi khi chúng ta hiểu cái “lý không” thế nào đó mà lại trở thành “lý có” hồi nào không hay. Do đó, lý phải cộng với sự, nghĩa là phải thấy lý trong sự. Thấy lý trong cái thực. Phải đổi lý ra thực mới được. Nhưng mà cuối cùng cũng phải trở lại sự thôi. Lý chi nữa. Kẹt lý
thì phải trở lại sự. Đó là tiến trình của Kinh Hoa Nghiêm vậy:

Sự (ngại sự).
(kẹt lý).
Lý + sự (lý cần có sự mới dung thông)
Sự + sự (trở lại sự mà không ngại sự gọi là sự sự vô ngại). Cái sự sự ấy cũng là cái sự ban đầu chớ chẳng phải cái sự nào khác. Nhưng ban đầu thì chúng ta ngại, chỉ đến khi lý sự viên dung rồi thì ta mới không còn ngại nữa. Cái sự ấy bây giờ là cái thực.
(Ngày 04-03-2015 Xem tiếp bài 1 - 15/19 Tỳ Kheo Viên Minh: Từ Kinh điển trở lại cái thực)
****************
Diễn đàn ghi chú : 4.Triết lý, chính là suy nghĩ về đạo lý. Triết lý thì chỉ thấy được cái nghĩa. Cái nghĩa, chính là nơi, là chỗ sinh ra tranh cãi, luận biện bất đồng. Do đó chỉ có người đã trải nghiệm qua và cùng cảnh ngộ với nhau mới hiểu cho nhiều. Riêng thiền định thì cùng cảnh ngộ cũng chưa chắc bởi ai ăn nấy lo, là vậy.
5. Đạo > Đạo lý là khi chúng ta hiểu kinh rồi, thì sau đó để thực hành. Nhưng lại có nhiều người bàn thêm về yếu nghĩa > đến luận biện để rồi pháp không tu mà chỉ tu cái nghĩa, cái triết lý cho sâu rộng để làm chi!
6;7 các phần này, HT phân tích rõ về các học phái mới sau này, không phải là không có các vị chư liệt tổ, liệt tông điều không đắc đạo, và ngộ đạo. Xin thưa, có rất nhiều và những vị đó đã để lại cho hậu nhân những gì, thì chúng ta cứ y theo đó mà nhận xét. Cho nên các vị đừng bi oan và phủ nhận đời này khó ngộ. Đây cũng là chướng 'Nghi' phiền não phát sanh...!?

8. Phần này đa số chúng ta bị lọt vào ngã chấp trên ngôn từ, trên kinh điển của dịch giả, mà quên rằng giữa ta và nhân vật chánh trong kinh sách hoàn toàn khác nhau giữa người đọc sách và hành giả tu hành...!?
9. Qua câu truyện Kim Dung về cửu âm và cửu dương chân kinh ví dụ của HT Viên Minh thật là xác ý, chúng ta phân biệt rõ sự thật về cách tu hành không nên nắm phần ngọn mà bỏ đi phần gốc. Phần gốc đó chính là Bát chánh đạo vậy.
10.Như Lão Tử đã nói: “Vi đạo nhật tổn, vi học nhật ích”.
Theo hướng đạo học thì càng ngày càng giảm bớt đi, càng giản dị hơn, còn theo hướng triết học thì càng ngày càng vi tế hơn, tinh xảo thêm… tưởng chừng như có thể tiếp cận cái thực nhưng hóa ra lại càng xa hơn.

11. Triết lý học là một việc, khi dùng ngôn từ để luận bàn, còn kinh thì phải tu tập mà trải nghiệm, chớ không nên so sánh bằng hay trước hoặc sau thì hành giả chỉ hiểu nghĩa mà thôi.
12. Mượn kinh điểu hiểu cái "thực tánh" (p/s. những người đọc kinh đại thừa thường là dễ lầm ở phần này.) Ví dụ kinh dạy đây là cách làm ra một cái bánh thật ngon. Bạn đã hiểu, tức là bạn đã thấy được thực tánh của cái bánh. Nhưng bạn đã ăn chưa?
Nếu chưa ăn tức là chỉ hiểu lý. Lý này là lý của Nghĩ + kinh (thực tánh). Không khác.
13. Thanh tịnh không có nghĩa là không khởi tâm...!
14. Hiểu thế nào về "Sự ; Lý ; Sự + Lý; và Sự Sự ".
*** *** *** *** *** ***
(Ngày 18-2-2015 đọc bài 2 Bát Chánh Đạo: 1.Chánh kiến. )
(Ngày 10-2-2015 bài 2- 2/20 Re: Bát Chánh Đạo: 2.Chánh tư duy. Dịch giả Pháp Thông.)

*** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** ***
IV. Huân Tu

Dưỡng sinh 1
: Ngừa bệnh: tim mạch Re: Alzheimer: ngừa bệnh mất trí nhớ thế nào?
Sức khỏe và đời sống: 10 Bí quyết trường thọ, yêu đời
Dưỡng sinh 2: Huân Tu: Lễ Phật Ứng Dụng
Dưỡng sinh 3 (sát-na thiền): Tịnh Nghiệp 1

************************
***********************************************************************
1. Diễn đàn Tu viện Phật tử, Click >>> Forum: Or Forum.
2. Nhân sinh quan: (Ngày 12-2-2015) Tiêu điểm: Tết Ất Mùi 19-2-2015

Tuần thứ 10 : Hình ảnhBản tin Ngày An Viên phát sóng ngày 01.03.2015
Links tháng: 01; 02; 03; 04; 05; 06; 07; 08; 09; 10; 11; 12. 2015
Thông tin Phật giáo. Quý II, III, IV 2013. Quý I, II, III, IV- 2014; Quí I; II; III; IV - 2015

*******************************************************************
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Diễn đàn Tu Viện Phật Tử, Quý I-2015

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 5 05 Tháng 3, 2015 2:23 pm

I. Giới học Ngày 05-03-2015 ( 15 tháng 1 năm Ất Mùi.)

CHÁNH NGỮ (SAMMÀ-VÀCÀ)

6. Giới thứ tư và cũng là giới cuối cùng liên quan đến Chánh Ngữ là không nói lời phù phiếm hay nói lời vô ích, tức là những lời không đem lại lợi ích cho ai cả. Người ta thường thích nói chuyện phù phiếm cho qua ngày, nhất là những chuyện gièm pha chê bai người khác với ác ý. Các cột lượm lặt trên báo chí cũng được xem là không tốt. Các ông, các bà khi rảnh rỗi thường mãi miết trong các câu chuyện gẫu bất tận, họ giải trí bằng cái giá phải trả của người khác.

Lời khuyên vàng ngọc của Ðức Phật là: "Này các Tỳ khưu, khi các con tu tập cùng nhau thời có hai việc cần làm, hoặc là nói về pháp (dhamma) hoặc là giữ sự yên lặng như bậc Thánh".

Trong ngôn ngữ Pàli từ Muni (Mâu Ni) có nghĩa là người luôn giữ sự yên lặng (Bậc tịch tịnh), thường được dùng để gọi một vị Thánh. Vâng "Yên lặng là vàng" chính vì vậy đừng nên nói, trừ khi bạn chắc chắn rằng bạn không thể tốt hơn trong sự yên lặng.

Nói nhiều là mối hiểm nguy,
Người thường yên lặng tránh điều tai ương,
Két kia liến thoắng bị giam
Hoá chim không nói vẫy vùng tự do.

"Người ta không thể trở thành bậc trí chỉ vì nói nhiều". Cũng không phải vì nói nhiều mà người ta được gọi là bậc lão thông Pháp (Dhammadhara).
Và sợ rằng người ta có thể hiểu lầm sự yên lặng của bậc Thanh Tịnh (Muni), Ðức Phật nói:

"Giữ yên lặng không biến kẻ ngu dốt, si mê thành bậc Thánh (muni)".
Im lặng nhưng ngu si
Ðâu phải bậc hiền trí.

(Ngày 04-03-2015, hết bài 4 Re: Bát Chánh Đạo: 3.Chánh ngữ. Tỳ khưu Pháp Thông)

*****************
Diễn đàn ghi chú:
3.rong Pháp Kệ có nói rằng, người nín thinh ít nói thì chê ít nói, người nói nhiều thì cho lắm lời. Còn nói vừa vừa thì cũng trách là hiểm, là ít kỷ, là khó tánh...Thế gian không thể nào tìm cho được một người hoàn toàn bị chê bai hay trọn vẹn được khen ngợi. Thì tất nhiên tiếng đồn, thị phi của kẻ đâm thọc, nói lời ly gián sao tránh khỏi.
Nếu chúng ta không đủ bình tỉnh thì cũng bị ngay vòng thị phi của sân si. Do đó cần sáng suốt hơn đối với kẻ ấy, và ngược lại ta muốn nói lời không rõ đạt tình lý để người bị hàm oan thì cũng không nên làm.
Cần khéo như lý tác ý vào Chánh ngữ thì mới mong bớt được họa của cái lưỡi hai chiều. "lưỡi không xương trăm đường lắt léo, chính là nó vậy''.
4. Phàm là nói những điều không tốt về mình còn phải che dấu, thì muốn dạy người hay nói những điều không tốt đến người. Nên suy nghĩ kỹ rồi hãy nói, cũng chưa muộn.
5. Phần 5 này ví dụ về lời nói ác. Tại sao vậy? - Chúng ta có thể dùng: ngôn ngữ của trái tim, ngôn ngữ xuất phát từ trái tim, luôn luôn mộc mạc, thanh nhã và đầy năng lực. Tốt hơn phải không.
6. Để kết thúc bài giữ khẩu nghiệp của nghiệp nói thị phi tức là nói lời phù phiếm không đem lại lợi ích cho người cho mình. Đức Phật, Ngài dạy ''"Này các Tỳ khưu, khi các con tu tập cùng nhau thời có hai việc cần làm, hoặc là nói về pháp (dhamma) hoặc là giữ sự yên lặng như bậc Thánh".

*** *** *** *** *** ***
(Ngày 16-2-2015, Hết bài 2- ) Re: Tu Là Chuyển Nghiệp: Hòa Thượng Thích Thanh Từ
(Ngày 10-2-2015, đọc tiếp bài 3) Re: Bát Chánh Đạo: 4.Chánh nghiệp
(Ngày 2-2-2015, hết bài 1) Bát Chánh Đạo: 5 Chánh Mạng T.T Thích Đức Thắng.
(Ngày 22-1-2015 đọc tiếp bài 3) Re: Chánh mạng: nhiều Tác-giả
(Ngày 04-03-2015, hết bài 4 Re: Bát Chánh Đạo: 3.Chánh ngữ. )
*** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** ***
II. Định Học

11.Bài kinh số 20 trong Trung Bộ
(Majjhimà Nikàya) thì đưa ra những chỉ dẫn thực tiễn và cần thiết cho một vị hành giả để làm thế nào loại trừ những tư duy bất thiện. Ý chính của bài kinh được tóm tắt như sau: Ðức Phật gọi các vị Tỳ khưu và nói:'Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu nào có ý định tu tập tăng thượng tâm, cần phải thường xuyên tác ý đến 5 pháp, thế nào là năm?'.

1) Nếu do tác ý đến một đối tượng nào, những tư duy ác bất thiện liên hệ đến tham, sân, si khởi lên trong một vị Tỳ khưu, vị ấy nên (để loại trừ những tư duy ác bất thiện đó) tác ý đến một đối tượng khác liên hệ đến thiện. Khi ấy các tư duy ác bất thiện được loại trừ, chúng sẽ tiêu diệt. Nhờ loại trừ các tư duy ác bất thiện mà nội tâm được an trú, trở nên an tịnh, nhất tâm và định tĩnh trong (đề mục thiền của vị ấy).

Ví như một người thợ mộc khéo tay hay đệ tử của người thợ mộc khéo tay làm văng ra và loại bỏ đi một cái nêm thô với một cái nêm nhỏ hơn. Cũng vậy, vị Tỳ khưu sẽ loại trừ đối tượng bất thiện đó bằng cách tác ý đến một đối tượng khác được coi là thiện hơn.
Khi những tư duy ác bất thiện kết hợp với tham, sân, si được loại trừ, chúng sẽ tiêu diệt. Nhờ loại trừ những tư duy ác bất thiện này mà nội tâm được an trú... định tĩnh.

2) Nếu những tư duy ác bất thiện vẫn khởi lên trong vị Tỳ khưu khi đã tác ý đến một đối tượng khác được xem là thiện, vị ấy cần phải suy xét đến những bất lợi của những tư duy ác như vầy: "Quả thực những tư duy này của ta là bất thiện, đáng chê trách, và đem lại những hậu quả khổ đau". Nhờ suy xét đến những bất lợi của ác tư duy như vậy mà những tư duy ác bất thiện ấy sẽ được loại trừ, chúng sẽ tiêu diệt. Nhờ sự loại trừ những tư duy ác bất thiện mà nội tâm được an trú... định tĩnh.

3) Nếu vị Tỳ khưu, khi đã suy xét đến những bất lợi của chúng, mà những tư duy ác bất thiện vẫn khởi lên, vị ấy nên không chú ý đến những tư duy bất thiện đó nữa, không tác ý đến những tư duy bất thiện đó nữa. Khi ấy các tư duy ác bất thiện được loại trừ, chúng sẽ tiêu diệt. Do sự loại trừ của chúng mà nội tâm vị ấy được an trú... định tĩnh.

4) Nếu vị Tỳ khưu sau khi đã tác ý đến những tư duy thiện, suy xét đến những bất lợi của chúng, và không chú ý đến, không tác ý đến những tư duy ác bất thiện đó nữa, mà những tư duy ác bất thiện vẫn khởi lên, lúc ấy vị Tỳ khưu cần phải tác ý từ bỏ hành tướng (gốc) của những tư duy bất thiện đó. Khi ấy các tư duy ác bất thiện sẽ được loại trừ, chúng sẽ tiêu diệt. Nhờ sự loại trừ của chúng mà nội tâm được an trú... định tĩnh.

5) Nếu những tư duy ác bất thiện vẫn khởi sanh trong một vị Tỳ khưu sau khi đã tác ý đến sự từ bỏ hành tướng của chúng, vị ấy nên cắn chặt răng, và lưỡi ép lên nóc họng, dùng thiện tâm chế ngự, khắc phục và kiểm soát ác tâm. Khi ấy các tư duy ác sẽ được loại trừ, chúng sẽ tiêu diệt. Nhờ sự loại trừ của chúng mà nội tâm được an trú... định tĩnh.

1.Nếu vị Tỳ khưu do tác ý đến đối tượng thiện,
2.suy xét đến những bất lợi của ác tư duy,
3.không chú ý và không tác ý đến những tư duy ác,
4.tác ý từ bỏ hành tướng của nó, dùng thiện tâm chế ngự,

5.khắc phục và kiểm soát ác tâm với răng cắn chặt và lưỡi ép lên nóc họng, những tư duy được loại trừ và nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm và định tĩnh (trong đề mục hành thiền của vị ấy), vị Tỳ khưu ấy được gọi là bậc thầy biết rõ đường đi của những tư duy, vị ấy có thể nghĩ đến tư duy nào mà vị ấy muốn, không nghĩ đến tư duy nào mà vị ấy không muốn nghĩ đến. Vị ấy đã cắt đứt tham ái và loại trừ hoàn toàn các kiết sử, khống chế kiêu mãn vị ấy đoạn tận khổ đau.

(Ngày 05-03-2015, đọc tiếp bài 2 - 12/15) Re: Bát Chánh Đạo: 6.Chánh Tinh Tấn
****************
Diễn đàn ghi chú
:5. Chánh tinh tấn tức là nghị lực vận hành của chánh kiến. Ở đây khác với nghị lực của ngũ dục. Nghị lực là sức mạnh của thân tâm sẽ chống các phiền não chướng như: hôm trầm thụy miên và phóng dật..
6. Phần này, chúng ta hiểu thêm sự tinh tân không phải bằng thể lực cho là đủ, mà con phải bằng tâm thức. (Xem lại tứ chánh cần, tứ như ý túc.)
7. Phần này, chúng ta học thế nào gọi là: Tinh tấn ngăn ngừa (Samvara), tinh tấn đoạn trừ (Pahàna), tinh tấn tu tập (Bhavàna) và tinh tấn duy trì (Anurakkhana).

8. Bất cứ sự việc nào cũng phải cần có sự tinh tấn ở đời hay đạo. Chánh tinh tấn là sức mạnh hổ trợ cho chánh niệm và chánh định. Hành giả muốn có thắng trí cũng chính là nhờ tập trung vào tinh tấn vậy.
9. Tứ chánh cần là một phương pháp cần mẩn, kiên trì và kiên nhẩn theo thời gian và cũng đừng áp bức những tiền định kiến thái quá. Hãy thấy và khắc phục bằng chánh niệm khi các pháp bất thiện sanh khởi. (Đọc lại bài thêm 1 lần nữa.)
10. Tinh tấn được ví dụ qua một người nghệ sĩ chơi đàn, phải bởi lúc nào, chổ nào dùng... thì sự tinh tấn mới không bị trạo cử hay hôn trầm. (trạo cử là tâm bị giao động, hôn trầm thì không biết giữ tâm.)
11. Đầu tiên hành giả nhận diện được 3 độc (tham sân si) nhưng không làm chủ được nó, 2. Nghĩ tới những điều bất lợi; 3.không chú ý đến; 4. hành tướng; 5. kèm chế thân tâm bằng răng cắn chặc, lưỡi ép lên nóc vọng..?

*** *** *** *** *** ***
(Ngày 7-2-2015, đọc tiếp bài 3) Re: Bát Chánh Đạo: 7. Chánh Niệm
(Ngày 3-2-2015 hết bài Tịnh Nghiệp 1: Khi lái xe Tư duy: Pháp hành Chánh Niệm ? Pháp Hành Minh Sát Thực Tiễn, Tác giả Mahasi Saydaw, Dịch giả: Pháp Thông. )
*** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** ***
III. Huệ học

TỪ KINH ĐIỂN TRỞ LẠI CÁI THỰC

15. Thiền Tông bảo rằng khi mê thì tưởng núi là núi, sông là sông. Khi thấy ra được lý thì sông không phải sông, núi không phải núi. Nhưng khi chứng ngộ sự rồi (thấy cái thực) thì té ra sông là sông, núi là núi chớ không có gì lạ hết.

Chỉ có vấn đề “mê” hay “ngộ”. Vậy tu là để ngộ, chứ không phải tu là làm theo tư ý của mình, làm theo cái bản ngã của mình, rồi khi được, khi đắc, cũng chính là được, là đắc cái tư ý ấy, cái bản ngã ấy.

Khi mà thấy cái thực (ngộ) rồi thì không còn gọi là tu nữa, mà là sống trọn vẹn với cái thực, cùng ăn ở hít thở trong cái thực.

Đức Phật là người thấy cái thực, Ngài sống trong cái thực và Ngài chỉ cho mọi người thấy được cái thực. Thấy rồi thì mới sống với cái thực. Chỉ có vậy thôi. Sống với cái thực là sống thuận Pháp, nên gọi là đắc Đạo đắc Quả chứ Đức Phật không dạy chúng ta tu sở đắc để làm giàu cái bản ngã bao giờ. Hễ cứ còn tu cái kiểu ham sở đắc đó là trật rồi. Thấy được điều ấy, chúng ta không nói giáo – lý - hành - quả
nữa. Mà chỉ nói giáo - lý - thực -sống thực. Tại sao vậy?

Vì thời xưa được nghe giáo trực tiếp từ Đức Phật nên có thể thấy lý ngay. Giáo ấy không phải là kinh điển trùng tuyên mà là những lời Đức Phật mượn để chỉ thẳng cái thực.

Còn ngày nay chúng ta phải học giáo qua kinh điển trùng tuyên nhiều lần, qua các bản dịch đi dịch lại, qua ý kiến của những người đi trước v.v. nên không thể thấy lý ngay mà phải mày mò tìm nghĩa. Cái nghĩa nhuốm màu tư kiến của mỗi người nên là cái nghĩa chủ quan một chiều, đưa đến tranh biện, luận chấp.

Nếu nắm cái nghĩa ấy mà hành, thì nếu như có thành tựu quả, thì quả ấy cũng chỉ là quả của ý niệm, của bản ngã. Phải không?

Ví dụ, có người hiểu nghĩa “Phật” như thế nào đó, rồi tu theo ý niệm ấy, tu thật hết mình, nhưng cuối cùng đó không phải là Phật thiệt mà chính là ông Phật do bản ngã của anh ta biến ra.

Như chúng ta đã biết, nghĩa dễ sai lầm, lý dễ bị kẹt, cái lý ấy phải đem kiểm chứng với cái thực như chúng ta đã nói vừa rồi. Để khi mà thấy cái thực rồi, tức là lý sự dung thông rồi, thì chỉ còn sống với cái thực mà thôi. Ấy là cái thực tròn đầy, viên mãn.
(Ngày 05-03-2015 Xem tiếp bài 1 - 16/19 Tỳ Kheo Viên Minh: Từ Kinh điển trở lại cái thực)
****************
Diễn đàn ghi chú : 4.Triết lý, chính là suy nghĩ về đạo lý. Triết lý thì chỉ thấy được cái nghĩa. Cái nghĩa, chính là nơi, là chỗ sinh ra tranh cãi, luận biện bất đồng. Do đó chỉ có người đã trải nghiệm qua và cùng cảnh ngộ với nhau mới hiểu cho nhiều. Riêng thiền định thì cùng cảnh ngộ cũng chưa chắc bởi ai ăn nấy lo, là vậy.
5. Đạo > Đạo lý là khi chúng ta hiểu kinh rồi, thì sau đó để thực hành. Nhưng lại có nhiều người bàn thêm về yếu nghĩa > đến luận biện để rồi pháp không tu mà chỉ tu cái nghĩa, cái triết lý cho sâu rộng để làm chi!
6;7 các phần này, HT phân tích rõ về các học phái mới sau này, không phải là không có các vị chư liệt tổ, liệt tông điều không đắc đạo, và ngộ đạo. Xin thưa, có rất nhiều và những vị đó đã để lại cho hậu nhân những gì, thì chúng ta cứ y theo đó mà nhận xét. Cho nên các vị đừng bi oan và phủ nhận đời này khó ngộ. Đây cũng là chướng 'Nghi' phiền não phát sanh...!?

8. Phần này đa số chúng ta bị lọt vào ngã chấp trên ngôn từ, trên kinh điển của dịch giả, mà quên rằng giữa ta và nhân vật chánh trong kinh sách hoàn toàn khác nhau giữa người đọc sách và hành giả tu hành...!?
9. Qua câu truyện Kim Dung về cửu âm và cửu dương chân kinh ví dụ của HT Viên Minh thật là xác ý, chúng ta phân biệt rõ sự thật về cách tu hành không nên nắm phần ngọn mà bỏ đi phần gốc. Phần gốc đó chính là Bát chánh đạo vậy.
10.Như Lão Tử đã nói: “Vi đạo nhật tổn, vi học nhật ích”.
Theo hướng đạo học thì càng ngày càng giảm bớt đi, càng giản dị hơn, còn theo hướng triết học thì càng ngày càng vi tế hơn, tinh xảo thêm… tưởng chừng như có thể tiếp cận cái thực nhưng hóa ra lại càng xa hơn.

11. Triết lý học là một việc, khi dùng ngôn từ để luận bàn, còn kinh thì phải tu tập mà trải nghiệm, chớ không nên so sánh bằng hay trước hoặc sau thì hành giả chỉ hiểu nghĩa mà thôi.
12. Mượn kinh điểu hiểu cái "thực tánh" (p/s. những người đọc kinh đại thừa thường là dễ lầm ở phần này.) Ví dụ kinh dạy đây là cách làm ra một cái bánh thật ngon. Bạn đã hiểu, tức là bạn đã thấy được thực tánh của cái bánh. Nhưng bạn đã ăn chưa?
Nếu chưa ăn tức là chỉ hiểu lý. Lý này là lý của Nghĩ + kinh (thực tánh). Không khác.
13. Thanh tịnh không có nghĩa là không khởi tâm...!
14. Hiểu thế nào về "Sự ; Lý ; Sự + Lý; và Sự Sự ".
15. Thực hành thì mới thấy thực dụng. Còn nói thôi thì chưa thấy thực chính là vậy.
*** *** *** *** *** ***
(Ngày 18-2-2015 đọc bài 2 Bát Chánh Đạo: 1.Chánh kiến. )
(Ngày 10-2-2015 bài 2- 2/20 Re: Bát Chánh Đạo: 2.Chánh tư duy. Dịch giả Pháp Thông.)

*** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** ***
IV. Huân Tu

Dưỡng sinh 1
: Ngừa bệnh: tim mạch Re: Alzheimer: ngừa bệnh mất trí nhớ thế nào?
Sức khỏe và đời sống: 10 Bí quyết trường thọ, yêu đời
Dưỡng sinh 2: Huân Tu: Lễ Phật Ứng Dụng
Dưỡng sinh 3 (sát-na thiền): Tịnh Nghiệp 1

************************
***********************************************************************
1. Diễn đàn Tu viện Phật tử, Click >>> Forum: Or Forum.
2. Nhân sinh quan: (Ngày 12-2-2015) Tiêu điểm: Tết Ất Mùi 19-2-2015

Tuần thứ 10 : Hình ảnhBản tin Ngày An Viên phát sóng ngày 01.03.2015
Links tháng: 01; 02; 03; 04; 05; 06; 07; 08; 09; 10; 11; 12. 2015
Thông tin Phật giáo. Quý II, III, IV 2013. Quý I, II, III, IV- 2014; Quí I; II; III; IV - 2015

*******************************************************************
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Diễn đàn Tu Viện Phật Tử, Quý I-2015

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 6 06 Tháng 3, 2015 4:18 pm

I. Giới học Ngày 06-03-2015 ( 16 tháng 1 năm Ất Mùi.)

CHÁNH MẠNG (SAMMÀ-ÀJÌVA)

1. C
hi thứ ba
và cũng là chi cuối cùng của nhóm giới là chánh mạng, chánh mạng đòi hỏi người ta không được quan hệ mua bán các loại vũ khí, các loại súc vật để giết thịt, mua bán người (làm nô lệ), các loại rượu và chất say, và mua bán độc dược.

Mặc dù Ðức Phật chỉ đề cập đến năm loại này, nhưng như chúng ta biết, còn có nhiều cách nuôi mạng không chơn chánh khác nữa. Chúng ta phải nhớ rằng những điều này được Ðức Phật nói với xã hội Ấn Ðộ vào thế kỷ thứ 6 trước Công Nguyên mà phần lớn, ngay cả ngày nay cũng vậy, bao gồm giới nông dân, chăn nuôi và buôn bán. Ðiều ghi nhận khá lý thú ở đây là trong kinh điển Phật giáo, có những phần miêu tả rất sinh động về cuộc sống của người nông dân và những người chăn nuôi gia súc.

Bài kinh thứ hai và thứ tư của Sutta- Nipata (Kinh Tập, thuộc Tiểu Bộ kinh) chứng thực khá phong phú sự kiện này. Ấn Ðộ là một nước nông nghiệp và chính phủ của họ không phải là chính phủ 'dân chủ'. Hầu hết các tiểu quốc đều theo chế độ phong kiến đặt dưới sự cai trị của một vị tiểu vương (Ràjà: Vua) như trường hợp bộ tộc Thích Ca của Ðức Phật, nhưng cũng có những nước Cộng Hoà, chẳng hạn như cộng hoà Licchàvi, được cai trị bởi một viện nguyên lão gồm các vị trưởng tộc và các vị lãnh đạo.

Trong các tiểu vương quốc, Vua là người cai trị mà mọi người đều phải phục tùng và chịu ơn mưa móc của Vua. Cuộc sống lúc đó dường như yên ả hơn so với cuộc sống của nhiều đất nước hiện nay. Vì cách sinh nhai thời ấy còn hạn chế nên Ðức Phật chỉ cảnh giác đối với năm điều kể trên.
(Ngày 6-3-2015, bài 2- 2/8 ) Re: Bát Chánh Đạo: 5 Chánh Mạng

*****************
Diễn đàn ghi chú:
1. Chánh mạng là một người có một nghề nghiệp chân chính không vi phạm pháp luật ở trong nước họ sống. Xin nói thêm một nghề chân chính là một nghề cải thiện thân tâm lành mạnh, lợi mình lợi người, làm tăng trưởng nền kinh tế thì được gọi là nghề chân chính.

*** *** *** *** *** ***
(Ngày 16-2-2015, Hết bài 2- ) Re: Tu Là Chuyển Nghiệp: Hòa Thượng Thích Thanh Từ
(Ngày 10-2-2015, đọc tiếp bài 3) Re: Bát Chánh Đạo: 4.Chánh nghiệp
(Ngày 22-1-2015 đọc tiếp bài 3) Re: Chánh mạng: nhiều Tác-giả
(Ngày 04-03-2015, hết bài 4 Re: Bát Chánh Đạo: 3.Chánh ngữ. )

*** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** ***
II. Định Học

11.Bài kinh số 20 trong Trung Bộ
(Majjhimà Nikàya) thì đưa ra những chỉ dẫn thực tiễn và cần thiết cho một vị hành giả để làm thế nào loại trừ những tư duy bất thiện. Ý chính của bài kinh được tóm tắt như sau: Ðức Phật gọi các vị Tỳ khưu và nói:'Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu nào có ý định tu tập tăng thượng tâm, cần phải thường xuyên tác ý đến 5 pháp, thế nào là năm?'.

1) Nếu do tác ý đến một đối tượng nào, những tư duy ác bất thiện liên hệ đến tham, sân, si khởi lên trong một vị Tỳ khưu, vị ấy nên (để loại trừ những tư duy ác bất thiện đó) tác ý đến một đối tượng khác liên hệ đến thiện. Khi ấy các tư duy ác bất thiện được loại trừ, chúng sẽ tiêu diệt. Nhờ loại trừ các tư duy ác bất thiện mà nội tâm được an trú, trở nên an tịnh, nhất tâm và định tĩnh trong (đề mục thiền của vị ấy).

Ví như một người thợ mộc khéo tay hay đệ tử của người thợ mộc khéo tay làm văng ra và loại bỏ đi một cái nêm thô với một cái nêm nhỏ hơn. Cũng vậy, vị Tỳ khưu sẽ loại trừ đối tượng bất thiện đó bằng cách tác ý đến một đối tượng khác được coi là thiện hơn.
Khi những tư duy ác bất thiện kết hợp với tham, sân, si được loại trừ, chúng sẽ tiêu diệt. Nhờ loại trừ những tư duy ác bất thiện này mà nội tâm được an trú... định tĩnh.

2) Nếu những tư duy ác bất thiện vẫn khởi lên trong vị Tỳ khưu khi đã tác ý đến một đối tượng khác được xem là thiện, vị ấy cần phải suy xét đến những bất lợi của những tư duy ác như vầy: "Quả thực những tư duy này của ta là bất thiện, đáng chê trách, và đem lại những hậu quả khổ đau". Nhờ suy xét đến những bất lợi của ác tư duy như vậy mà những tư duy ác bất thiện ấy sẽ được loại trừ, chúng sẽ tiêu diệt. Nhờ sự loại trừ những tư duy ác bất thiện mà nội tâm được an trú... định tĩnh.

3) Nếu vị Tỳ khưu, khi đã suy xét đến những bất lợi của chúng, mà những tư duy ác bất thiện vẫn khởi lên, vị ấy nên không chú ý đến những tư duy bất thiện đó nữa, không tác ý đến những tư duy bất thiện đó nữa. Khi ấy các tư duy ác bất thiện được loại trừ, chúng sẽ tiêu diệt. Do sự loại trừ của chúng mà nội tâm vị ấy được an trú... định tĩnh.

4) Nếu vị Tỳ khưu sau khi đã tác ý đến những tư duy thiện, suy xét đến những bất lợi của chúng, và không chú ý đến, không tác ý đến những tư duy ác bất thiện đó nữa, mà những tư duy ác bất thiện vẫn khởi lên, lúc ấy vị Tỳ khưu cần phải tác ý từ bỏ hành tướng (gốc) của những tư duy bất thiện đó. Khi ấy các tư duy ác bất thiện sẽ được loại trừ, chúng sẽ tiêu diệt. Nhờ sự loại trừ của chúng mà nội tâm được an trú... định tĩnh.

5) Nếu những tư duy ác bất thiện vẫn khởi sanh trong một vị Tỳ khưu sau khi đã tác ý đến sự từ bỏ hành tướng của chúng, vị ấy nên cắn chặt răng, và lưỡi ép lên nóc họng, dùng thiện tâm chế ngự, khắc phục và kiểm soát ác tâm. Khi ấy các tư duy ác sẽ được loại trừ, chúng sẽ tiêu diệt. Nhờ sự loại trừ của chúng mà nội tâm được an trú... định tĩnh.

1.Nếu vị Tỳ khưu do tác ý đến đối tượng thiện,
2.suy xét đến những bất lợi của ác tư duy,
3.không chú ý và không tác ý đến những tư duy ác,
4.tác ý từ bỏ hành tướng của nó, dùng thiện tâm chế ngự,

5.khắc phục và kiểm soát ác tâm với răng cắn chặt và lưỡi ép lên nóc họng, những tư duy được loại trừ và nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm và định tĩnh (trong đề mục hành thiền của vị ấy), vị Tỳ khưu ấy được gọi là bậc thầy biết rõ đường đi của những tư duy, vị ấy có thể nghĩ đến tư duy nào mà vị ấy muốn, không nghĩ đến tư duy nào mà vị ấy không muốn nghĩ đến. Vị ấy đã cắt đứt tham ái và loại trừ hoàn toàn các kiết sử, khống chế kiêu mãn vị ấy đoạn tận khổ đau.

(Ngày 05-03-2015, đọc tiếp bài 2 - 12/15) Re: Bát Chánh Đạo: 6.Chánh Tinh Tấn
****************
Diễn đàn ghi chú
:5. Chánh tinh tấn tức là nghị lực vận hành của chánh kiến. Ở đây khác với nghị lực của ngũ dục. Nghị lực là sức mạnh của thân tâm sẽ chống các phiền não chướng như: hôm trầm thụy miên và phóng dật..
6. Phần này, chúng ta hiểu thêm sự tinh tân không phải bằng thể lực cho là đủ, mà con phải bằng tâm thức. (Xem lại tứ chánh cần, tứ như ý túc.)
7. Phần này, chúng ta học thế nào gọi là: Tinh tấn ngăn ngừa (Samvara), tinh tấn đoạn trừ (Pahàna), tinh tấn tu tập (Bhavàna) và tinh tấn duy trì (Anurakkhana).

8. Bất cứ sự việc nào cũng phải cần có sự tinh tấn ở đời hay đạo. Chánh tinh tấn là sức mạnh hổ trợ cho chánh niệm và chánh định. Hành giả muốn có thắng trí cũng chính là nhờ tập trung vào tinh tấn vậy.
9. Tứ chánh cần là một phương pháp cần mẩn, kiên trì và kiên nhẩn theo thời gian và cũng đừng áp bức những tiền định kiến thái quá. Hãy thấy và khắc phục bằng chánh niệm khi các pháp bất thiện sanh khởi. (Đọc lại bài thêm 1 lần nữa.)
10. Tinh tấn được ví dụ qua một người nghệ sĩ chơi đàn, phải bởi lúc nào, chổ nào dùng... thì sự tinh tấn mới không bị trạo cử hay hôn trầm. (trạo cử là tâm bị giao động, hôn trầm thì không biết giữ tâm.)
11. Đầu tiên hành giả nhận diện được 3 độc (tham sân si) nhưng không làm chủ được nó, 2. Nghĩ tới những điều bất lợi; 3.không chú ý đến; 4. hành tướng; 5. kèm chế thân tâm bằng răng cắn chặc, lưỡi ép lên nóc vọng..?

*** *** *** *** *** ***
(Ngày 7-2-2015, đọc tiếp bài 3) Re: Bát Chánh Đạo: 7. Chánh Niệm
(Ngày 3-2-2015 hết bài Tịnh Nghiệp 1: Khi lái xe Tư duy: Pháp hành Chánh Niệm ? Pháp Hành Minh Sát Thực Tiễn, Tác giả Mahasi Saydaw, Dịch giả: Pháp Thông. )
*** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** ***
III. Huệ học

TỪ KINH ĐIỂN TRỞ LẠI CÁI THỰC

16. Như vậy, thực tế mà nói có thể chia ra 4 hạng căn cơ:
– Căn cơ bậc thượng: Giáo --> Thực.
– Căn cơ bậc trung: Giáo -->--> Thực.
– Căn cơ bình thường: Giáo --> Nghĩa --> Lý -->Thực.
– Căn cơ hạ liệt:Giáo --> Nghĩa --> chấp Lý --> kẹt cái Giả.

Chúng ta chỉ nói sơ để thấy hướng tìm về cái thực vậy thôi. Mục đích những buổi nói chuyện của chúng ta là cùng nhau hướng về thực tại, soi thấy cái thực ở ngay đó, chứ không phải là học giáo lý.

Mục đích ấy có 3 điều lợi ích thiết thực như sau:

1. Nêu ra một sự thật làm nền tảng chung cho đạo Phật mà tông phái nào cũng đều chấp nhận.
2. Xóa đi tất cả các ý niệm phân chia tông phái. Thật ra, khi đã thấy sự thật thì các ý niệm về tông phái sẽ tự biến mất. Các ranh giới do ý niệm cô lập, phân chia tức khắc không còn tồn tại.
3. Thấy và sống với cái thực tức là sống đạo, là hành đạo một cách trực tiếp. Chẳng còn chuyện mày mò tu hành kiểu cách này, phương tiện nọ để đưa đến cố chấp tông môn, phân chia hệ phái.

Khi đã sống với cái thực rồi thì không còn vấn đề tôi đúng hay anh đúng nữa, mà vấn đề là chúng ta có sống với cái thực hay không? Chỉ còn lại chừng đó.
(Ngày 06-03-2015 Xem tiếp bài 1 - 17/19 Tỳ Kheo Viên Minh: Từ Kinh điển trở lại cái thực)
****************
Diễn đàn ghi chú : 4.Triết lý, chính là suy nghĩ về đạo lý. Triết lý thì chỉ thấy được cái nghĩa. Cái nghĩa, chính là nơi, là chỗ sinh ra tranh cãi, luận biện bất đồng. Do đó chỉ có người đã trải nghiệm qua và cùng cảnh ngộ với nhau mới hiểu cho nhiều. Riêng thiền định thì cùng cảnh ngộ cũng chưa chắc bởi ai ăn nấy lo, là vậy.
5. Đạo > Đạo lý là khi chúng ta hiểu kinh rồi, thì sau đó để thực hành. Nhưng lại có nhiều người bàn thêm về yếu nghĩa > đến luận biện để rồi pháp không tu mà chỉ tu cái nghĩa, cái triết lý cho sâu rộng để làm chi!
6;7 các phần này, HT phân tích rõ về các học phái mới sau này, không phải là không có các vị chư liệt tổ, liệt tông điều không đắc đạo, và ngộ đạo. Xin thưa, có rất nhiều và những vị đó đã để lại cho hậu nhân những gì, thì chúng ta cứ y theo đó mà nhận xét. Cho nên các vị đừng bi oan và phủ nhận đời này khó ngộ. Đây cũng là chướng 'Nghi' phiền não phát sanh...!?

8. Phần này đa số chúng ta bị lọt vào ngã chấp trên ngôn từ, trên kinh điển của dịch giả, mà quên rằng giữa ta và nhân vật chánh trong kinh sách hoàn toàn khác nhau giữa người đọc sách và hành giả tu hành...!?
9. Qua câu truyện Kim Dung về cửu âm và cửu dương chân kinh ví dụ của HT Viên Minh thật là xác ý, chúng ta phân biệt rõ sự thật về cách tu hành không nên nắm phần ngọn mà bỏ đi phần gốc. Phần gốc đó chính là Bát chánh đạo vậy.
10.Như Lão Tử đã nói: “Vi đạo nhật tổn, vi học nhật ích”.
Theo hướng đạo học thì càng ngày càng giảm bớt đi, càng giản dị hơn, còn theo hướng triết học thì càng ngày càng vi tế hơn, tinh xảo thêm… tưởng chừng như có thể tiếp cận cái thực nhưng hóa ra lại càng xa hơn.

11. Triết lý học là một việc, khi dùng ngôn từ để luận bàn, còn kinh thì phải tu tập mà trải nghiệm, chớ không nên so sánh bằng hay trước hoặc sau thì hành giả chỉ hiểu nghĩa mà thôi.
12. Mượn kinh điểu hiểu cái "thực tánh" (p/s. những người đọc kinh đại thừa thường là dễ lầm ở phần này.) Ví dụ kinh dạy đây là cách làm ra một cái bánh thật ngon. Bạn đã hiểu, tức là bạn đã thấy được thực tánh của cái bánh. Nhưng bạn đã ăn chưa?
Nếu chưa ăn tức là chỉ hiểu lý. Lý này là lý của Nghĩ + kinh (thực tánh). Không khác.
13. Thanh tịnh không có nghĩa là không khởi tâm...!
14. Hiểu thế nào về "Sự ; Lý ; Sự + Lý; và Sự Sự ".
15. Thực hành thì mới thấy thực dụng. Còn nói thôi thì chưa thấy thực chính là vậy.
16. Nói về bốn căn cơ Giáo; Nghĩa; lý; thực hay giả. Là nhằm phá đi các chấp: pháp; tông; phương tiện dùng pháp.v.v.
*** *** *** *** *** ***
(Ngày 18-2-2015 đọc bài 2 Bát Chánh Đạo: 1.Chánh kiến. )
(Ngày 10-2-2015 bài 2- 2/20 Re: Bát Chánh Đạo: 2.Chánh tư duy. Dịch giả Pháp Thông.)

*** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** ***
IV. Huân Tu

Dưỡng sinh 1
: Ngừa bệnh: tim mạch Re: Alzheimer: ngừa bệnh mất trí nhớ thế nào?
Sức khỏe và đời sống: 10 Bí quyết trường thọ, yêu đời
Dưỡng sinh 2: Huân Tu: Lễ Phật Ứng Dụng
Dưỡng sinh 3 (sát-na thiền): Tịnh Nghiệp 1

************************
***********************************************************************
1. Diễn đàn Tu viện Phật tử, Click >>> Forum: Or Forum.
2. Nhân sinh quan: (Ngày 12-2-2015) Tiêu điểm: Tết Ất Mùi 19-2-2015

Tuần thứ 10 : Hình ảnhBản tin Ngày An Viên phát sóng ngày 01.03.2015
Links tháng: 01; 02; 03; 04; 05; 06; 07; 08; 09; 10; 11; 12. 2015
Thông tin Phật giáo. Quý II, III, IV 2013. Quý I, II, III, IV- 2014; Quí I; II; III; IV - 2015

*******************************************************************
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Diễn đàn Tu Viện Phật Tử, Quý I-2015

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Chủ nhật 08 Tháng 3, 2015 7:31 pm

I. Giới học Ngày 08-03-2015 ( 18 tháng 1 năm Ất Mùi.)

CHÁNH MẠNG (SAMMÀ-ÀJÌVA)

1. C
hi thứ ba
và cũng là chi cuối cùng của nhóm giới là chánh mạng, chánh mạng đòi hỏi người ta không được quan hệ mua bán các loại vũ khí, các loại súc vật để giết thịt, mua bán người (làm nô lệ), các loại rượu và chất say, và mua bán độc dược.

Mặc dù Ðức Phật chỉ đề cập đến năm loại này, nhưng như chúng ta biết, còn có nhiều cách nuôi mạng không chơn chánh khác nữa. Chúng ta phải nhớ rằng những điều này được Ðức Phật nói với xã hội Ấn Ðộ vào thế kỷ thứ 6 trước Công Nguyên mà phần lớn, ngay cả ngày nay cũng vậy, bao gồm giới nông dân, chăn nuôi và buôn bán. Ðiều ghi nhận khá lý thú ở đây là trong kinh điển Phật giáo, có những phần miêu tả rất sinh động về cuộc sống của người nông dân và những người chăn nuôi gia súc.

Bài kinh thứ hai và thứ tư của Sutta- Nipata (Kinh Tập, thuộc Tiểu Bộ kinh) chứng thực khá phong phú sự kiện này. Ấn Ðộ là một nước nông nghiệp và chính phủ của họ không phải là chính phủ 'dân chủ'. Hầu hết các tiểu quốc đều theo chế độ phong kiến đặt dưới sự cai trị của một vị tiểu vương (Ràjà: Vua) như trường hợp bộ tộc Thích Ca của Ðức Phật, nhưng cũng có những nước Cộng Hoà, chẳng hạn như cộng hoà Licchàvi, được cai trị bởi một viện nguyên lão gồm các vị trưởng tộc và các vị lãnh đạo.

Trong các tiểu vương quốc, Vua là người cai trị mà mọi người đều phải phục tùng và chịu ơn mưa móc của Vua. Cuộc sống lúc đó dường như yên ả hơn so với cuộc sống của nhiều đất nước hiện nay. Vì cách sinh nhai thời ấy còn hạn chế nên Ðức Phật chỉ cảnh giác đối với năm điều kể trên.
(Ngày 6-3-2015, bài 2- 2/8 ) Re: Bát Chánh Đạo: 5 Chánh Mạng
*****************
Diễn đàn ghi chú:
1. Chánh mạng là một người có một nghề nghiệp chân chính không vi phạm pháp luật ở trong nước họ sống. Xin nói thêm một nghề chân chính là một nghề cải thiện thân tâm lành mạnh, lợi mình lợi người, làm tăng trưởng nền kinh tế thì được gọi là nghề chân chính.
*** *** *** *** *** ***
(Ngày 16-2-2015, Hết bài 2- ) Re: Tu Là Chuyển Nghiệp: Hòa Thượng Thích Thanh Từ
(Ngày 10-2-2015, đọc tiếp bài 3) Re: Bát Chánh Đạo: 4.Chánh nghiệp
(Ngày 22-1-2015 đọc tiếp bài 3) Re: Chánh mạng: nhiều Tác-giả
(Ngày 04-03-2015, hết bài 4 Re: Bát Chánh Đạo: 3.Chánh ngữ. )
*** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** ***
II. Định Học

12.Không phải chỉ trong giờ hành thiền nghiêm túc chúng ta mới cần đến tính chất vô cùng quan trọng của chánh tinh tấn này. Chánh tinh tấn cần phải được thường xuyên tu tập bất cứ khi nào và ở đâu có thể được. Trong mọi lời nói của chúng ta, mọi hành động của chúng ta và cách cư xử của chúng ta trong đời sống hằng ngày, chúng ta cần chánh tinh tấn để thực hiện những bổn phận của chúng ta một cách toàn tâm, toàn ý và thành công. Nếu chúng ta thiếu đức tính nhiệt tâm tinh cần này, và nếu chúng ta để cho những trạng thái hôn trầm, lười biếng khuất phục, chúng ta sẽ không thể nào tiến triển trong công việc mà chúng ta đã đảm nhận dù chúng ta chỉ với chút niềm tin.

Ðể chế ngự những tư duy tham lam, sân hận, ganh tỵ và hàng loạt những tư duy ác khác mà con người phải chịu, chúng ta phải cần có nghị lực, siêng năng tinh tấn và tỉnh giác. Khi thoát khỏi những xô bồ của đời sống phố thị hoặc những lo toan vướng bận với cuộc đời, chúng ta không đến nỗi bị quyến rũ để đánh mất mình, nhưng khi hoà nhập vào nhịp sống xã hội, đó là lúc chúng ta cần phải tinh tấn để chặn đứng những sai sót, lầm lẫn của mình.

Bất cứ sự tham thiền nào mà chúng ta có thể đã thực hiện đều là sự trợ lực lớn lao giúp chúng ta điềm tĩnh khi đối diện với những bất toàn này.

Khi tu tập chánh tinh tấn chúng ta cần phải thành thực với những tư duy của chúng ta. Nếu phân tích chúng ta sẽ thấy rằng những tư duy này không phải lúc nào cũng là thiện, là trong sáng.

Ðôi khi chúng chỉ là những tư duy bất thiện và ngu xuẩn, mặc dù chúng ta không phải lúc nào cũng bộc lộ nó ra bằng hành động hay lời nói hoặc cả hai. Như vậy nếu chúng ta cứ để cho những tư duy này khởi lên đều đặn, đó là một dấu hiệu không tốt
; vì khi một tư duy không lành mạnh được phép tái diễn nhiều lần, nó có khuynh hướng trở thành nỗi ám ảnh.

Do vậy, điều thiết yếu là phải nỗ lực không để cho những tư duy bất thiện này tới gần. Khi chúng nảy sanh không cần phải để ý đến chúng. Không để ý đến chúng là điều không dễ, vì cho đến khi nào chúng ta thành công trong việc chế ngự chúng, những tư duy bất thiện này vẫn sẽ xâm chiếm tâm chúng ta.

Tuy nhiên có một điều cần phải nhớ. Ðối với người nhất quyết muốn kiềm chế những thôi thúc có hại của mình cần phải tránh, càng xa càng tốt, những người bị ám ảnh bởi những thôi thúc ấy cũng như những cuộc nói chuyện đưa đến sự thôi thúc này.

Cố gắng tránh những người và vật có ảnh hưởng đến những tư duy lành mạnh và nghiêm túc của bạn. Xã hội văn minh đang lâm vào tình trạng nguy hiểm do bị tràn ngập bởi những trò giải trí và những cám dỗ mà chỉ có thể được kiềm chế nếu chúng ta đảm nhận công việc luyện tập tâm đầy khó khăn này một cách đều đặn và kiên trì.

Do những tiến bộ vật chất, những thu nhập và lợi nhuận tuỳ thuộc phần lớn vào sự tinh tấn của chúng ta, chắc chắn chúng ta cần phải cố gắng nhiều hơn nữa để luyện tập tâm, nhờ vậy sẽ phát triển được những khả năng tốt nhất trong con người chúng ta. Vì việc luyện tập tâm đòi hỏi phải có sự nỗ lực cao nhất, vậy hãy cố gắng ngay từ bây giờ.

'Chớ để tháng ngày của bạn trôi qua như bóng mây chẳng lưu lại dấu vết nào cho sự hồi tưởng'
.

(Ngày 08-03-2015, đọc tiếp bài 2 - 13/15) Re: Bát Chánh Đạo: 6.Chánh Tinh Tấn
****************
Diễn đàn ghi chú
:5. Chánh tinh tấn tức là nghị lực vận hành của chánh kiến. Ở đây khác với nghị lực của ngũ dục. Nghị lực là sức mạnh của thân tâm sẽ chống các phiền não chướng như: hôm trầm thụy miên và phóng dật..
6. Phần này, chúng ta hiểu thêm sự tinh tân không phải bằng thể lực cho là đủ, mà con phải bằng tâm thức. (Xem lại tứ chánh cần, tứ như ý túc.)
7. Phần này, chúng ta học thế nào gọi là: Tinh tấn ngăn ngừa (Samvara), tinh tấn đoạn trừ (Pahàna), tinh tấn tu tập (Bhavàna) và tinh tấn duy trì (Anurakkhana).

8. Bất cứ sự việc nào cũng phải cần có sự tinh tấn ở đời hay đạo. Chánh tinh tấn là sức mạnh hổ trợ cho chánh niệm và chánh định. Hành giả muốn có thắng trí cũng chính là nhờ tập trung vào tinh tấn vậy.
9. Tứ chánh cần là một phương pháp cần mẩn, kiên trì và kiên nhẩn theo thời gian và cũng đừng áp bức những tiền định kiến thái quá. Hãy thấy và khắc phục bằng chánh niệm khi các pháp bất thiện sanh khởi. (Đọc lại bài thêm 1 lần nữa.)
10. Tinh tấn được ví dụ qua một người nghệ sĩ chơi đàn, phải bởi lúc nào, chổ nào dùng... thì sự tinh tấn mới không bị trạo cử hay hôn trầm. (trạo cử là tâm bị giao động, hôn trầm thì không biết giữ tâm.)
11. Đầu tiên hành giả nhận diện được 3 độc (tham sân si) nhưng không làm chủ được nó, 2. Nghĩ tới những điều bất lợi; 3.không chú ý đến; 4. hành tướng; 5. kèm chế thân tâm bằng răng cắn chặc, lưỡi ép lên nóc vọng..?
12.
*** *** *** *** *** ***
(Ngày 7-2-2015, đọc tiếp bài 3) Re: Bát Chánh Đạo: 7. Chánh Niệm
(Ngày 3-2-2015 hết bài Tịnh Nghiệp 1: Khi lái xe Tư duy: Pháp hành Chánh Niệm ? Pháp Hành Minh Sát Thực Tiễn, Tác giả Mahasi Saydaw, Dịch giả: Pháp Thông. )
*** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** ***
III. Huệ học

TỪ KINH ĐIỂN TRỞ LẠI CÁI THỰC

17. Bây giờ xin sẽ giới thiệu quý vị một bài kinh, mà qua bài kinh đó, hy vọng tất cả chúng ta sẽ có được một cái nhìn chung, và cùng nhau thấy cái thực. Đó là Bát-nhã Tâm Kinh.

Chúng ta không cần tìm hiểu gốc gác bài kinh ở đâu, thuộc tông phái nào. Điều đó để nhường cho các sử gia tìm hiểu.

Chân lý vốn không có biên cương xứ sở, không có lý lịch nên chúng ta có lẽ không cần biết xuất xứ. Chân lý là cái muôn thuở nên nó không thuộc độc quyền của ai, phải vậy không? Chỉ có điều chúng ta biết rõ, bài kinh này nói được những điều cốt lõi chung mà xuyên suốt từ giáo lý Nguyên Thủy cho đến Tiểu Thừa, Đại Thừa, Thiền Tông đều công nhận.

Tất cả những vấn đề tinh yếu chung của các tông phái đều nằm trong bài kinh Bát-nhã này. Do đó, không ngại bài kinh này thuộc tông phái nào, không quan trọng lắm. Vậy chúng ta sẽ lấy cái sườn bài kinh này để tiện chỉ bày sự thật.

Quý vị đừng nghĩ rằng kinh điển của đạo Phật chúng ta rất nhiều thì một bài kinh Bát-nhã ngắn như vậy làm sao nói hết những điều tinh yếu.

Không có nhiều đâu. Quý vị có nhớ vị Thiền Sư nào đó, sau khi “ngộ” ông nói: “Ồ, tưởng là cái gì dữ dội, té ra cái đạo của thầy ta thì có gì nhiều đâu!”. Đại khái vậy, thật ra chẳng có gì nhiều “Dị giản nhi thiên hạ chi lý đắc hỷ” hoặc “Vô tâm đạo dị tầm” mà.

Kinh luận sở dĩ nhiều cũng chỉ nhằm chứng minh, giảng giải, triển khai, phân tích, biện biệt những vấn đề cốt lõi này thôi. Khi thấy rồi thì chỉ có thực tại hiện tiền ngay tại đây chính là cái thực, ngoài ra không cần tầm cầu gì khác nữa.

Cầu là vì không biết rằng ở đó đã đủ hết rồi. Kinh Bát-nhã này đã nói đủ những điều cơ bản cốt tử nhất về thực tại hiện tiền. Vậy chúng ta cứ đem bài kinh ấy ra tham cứu để hiển bày cái thực mà mọi tông phái đều muốn truyền đạt.

Ở đây cách làm việc của chúng ta là chỉ bày ra được cái thực, chứ không phải lấy kiến giải chồng chất kiến giải, lấy kinh luận chồng chất kinh luận như nhiều người đã từng làm.

Kinh điển Nguyên Thủy không thôi, đọc một đời cũng không hết, lại thêm kinh luận Tiểu Thừa và Đại Thừa nữa thì không bao giờ đọc hết được cả. (Cũng may là khá nhiều kinh luận trước tác trong thời kỳ phân phái đã bị tiêu hủy).
(Ngày 08-03-2015 Xem tiếp bài 1 - 18/19 Tỳ Kheo Viên Minh: Từ Kinh điển trở lại cái thực)
****************
Diễn đàn ghi chú : 4.Triết lý, chính là suy nghĩ về đạo lý. Triết lý thì chỉ thấy được cái nghĩa. Cái nghĩa, chính là nơi, là chỗ sinh ra tranh cãi, luận biện bất đồng. Do đó chỉ có người đã trải nghiệm qua và cùng cảnh ngộ với nhau mới hiểu cho nhiều. Riêng thiền định thì cùng cảnh ngộ cũng chưa chắc bởi ai ăn nấy lo, là vậy.
5. Đạo > Đạo lý là khi chúng ta hiểu kinh rồi, thì sau đó để thực hành. Nhưng lại có nhiều người bàn thêm về yếu nghĩa > đến luận biện để rồi pháp không tu mà chỉ tu cái nghĩa, cái triết lý cho sâu rộng để làm chi!
6;7 các phần này, HT phân tích rõ về các học phái mới sau này, không phải là không có các vị chư liệt tổ, liệt tông điều không đắc đạo, và ngộ đạo. Xin thưa, có rất nhiều và những vị đó đã để lại cho hậu nhân những gì, thì chúng ta cứ y theo đó mà nhận xét. Cho nên các vị đừng bi oan và phủ nhận đời này khó ngộ. Đây cũng là chướng 'Nghi' phiền não phát sanh...!?

8. Phần này đa số chúng ta bị lọt vào ngã chấp trên ngôn từ, trên kinh điển của dịch giả, mà quên rằng giữa ta và nhân vật chánh trong kinh sách hoàn toàn khác nhau giữa người đọc sách và hành giả tu hành...!?
9. Qua câu truyện Kim Dung về cửu âm và cửu dương chân kinh ví dụ của HT Viên Minh thật là xác ý, chúng ta phân biệt rõ sự thật về cách tu hành không nên nắm phần ngọn mà bỏ đi phần gốc. Phần gốc đó chính là Bát chánh đạo vậy.
10.Như Lão Tử đã nói: “Vi đạo nhật tổn, vi học nhật ích”.
Theo hướng đạo học thì càng ngày càng giảm bớt đi, càng giản dị hơn, còn theo hướng triết học thì càng ngày càng vi tế hơn, tinh xảo thêm… tưởng chừng như có thể tiếp cận cái thực nhưng hóa ra lại càng xa hơn.

11. Triết lý học là một việc, khi dùng ngôn từ để luận bàn, còn kinh thì phải tu tập mà trải nghiệm, chớ không nên so sánh bằng hay trước hoặc sau thì hành giả chỉ hiểu nghĩa mà thôi.
12. Mượn kinh điểu hiểu cái "thực tánh" (p/s. những người đọc kinh đại thừa thường là dễ lầm ở phần này.) Ví dụ kinh dạy đây là cách làm ra một cái bánh thật ngon. Bạn đã hiểu, tức là bạn đã thấy được thực tánh của cái bánh. Nhưng bạn đã ăn chưa?
Nếu chưa ăn tức là chỉ hiểu lý. Lý này là lý của Nghĩ + kinh (thực tánh). Không khác.
13. Thanh tịnh không có nghĩa là không khởi tâm...!
14. Hiểu thế nào về "Sự ; Lý ; Sự + Lý; và Sự Sự ".
15. Thực hành thì mới thấy thực dụng. Còn nói thôi thì chưa thấy thực chính là vậy.
16. Nói về bốn căn cơ Giáo; Nghĩa; lý; thực hay giả. Là nhằm phá đi các chấp: pháp; tông; phương tiện dùng pháp.v.v.
17.
*** *** *** *** *** ***
(Ngày 18-2-2015 đọc bài 2 Bát Chánh Đạo: 1.Chánh kiến. )
(Ngày 10-2-2015 bài 2- 2/20 Re: Bát Chánh Đạo: 2.Chánh tư duy. Dịch giả Pháp Thông.)

*** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** *** ***
IV. Huân Tu

Dưỡng sinh 1
: Ngừa bệnh: tim mạch Re: Alzheimer: ngừa bệnh mất trí nhớ thế nào?
Sức khỏe và đời sống: 10 Bí quyết trường thọ, yêu đời
Dưỡng sinh 2: Huân Tu: Lễ Phật Ứng Dụng
Dưỡng sinh 3 (sát-na thiền): Tịnh Nghiệp 1

************************
***********************************************************************
1. Diễn đàn Tu viện Phật tử, Click >>> Forum: Or Forum.
2. Nhân sinh quan: (Ngày 12-2-2015) Tiêu điểm: Tết Ất Mùi 19-2-2015

Tuần thứ 10 : Hình ảnhBản tin Ngày An Viên phát sóng ngày 01.03.2015
Links tháng: 01; 02; 03; 04; 05; 06; 07; 08; 09; 10; 11; 12. 2015
Thông tin Phật giáo. Quý II, III, IV 2013. Quý I, II, III, IV- 2014; Quí I; II; III; IV - 2015

*******************************************************************
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Trang trướcTrang kế tiếp

Quay về Tin tức

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến1 khách

cron