Bạn đang xem trang 1 / 2 trang

###Sách: Niệm Phật vãng sanh Tịnh Độ

Gửi bàiĐã gửi: Chủ nhật 03 Tháng 4, 2016 9:58 am
gửi bởi thichthientri

ĐẠO TRÀNG HUỆ NHỰT

154/32-34 Nguyễn Biễu F. 2, Q. 5 TP.HCMĐT : (08) – 38366226

NIỆM PHẬT VÃNG SANH TỊNH ĐỘ PHẬT A DI ĐÀ

SỌAN GIẢ :THIỀN SƯ : THÍCH THANH PHƯỚC

***
CHỈ MỘT CHỮ “TÂM”
Tâm là nguồn của mọi pháp lành.
Tâm là chủ của muôn công đức.
Niết Bàn thường vui do tâm mà ra.
Ba cõi lăn lóc cũng theo tâm mà dậy.
Tâm là cửa, là ngõ của đạo xuất thế.
Tâm là bến, là ải của đạo giải thoát.
Cửa ngỏ đã biết, há lo khó vào ?
Bến ải đã rõ, há ngại chẳng thông ?

K Ệ R Ằ N G :
1.-Ngã bổn cầu tâm tâm tự tri DỊCH : Ta vốn cầu tâm tâm tự trì
Cầu tâm bất đắc đãi tâm tri----------- Cầu tâm chớ khá đợi tâm tri
Phật tánh bất tòng tâm ngoại ..........Tánh Phật ngoài tâm không chứng được
Tâm sanh tiện thị tội sanh thì......... Tâm sanh thì tội phát liền khi.
*
2.-Ngã bổn cầu tâm bất cầu Phật DỊCH: Ta vốn cầu tâm chẳng cầu Phật
Liễu tri tam giới không vô vật.............. Rõ ra ba cõi không một vật
Nhược dục cầu Phật đản cầu tâm......... Ví muốn cầu Phật thà cầu tâm
Chỉ giá tâm tâm thị Phật..................... Chỉ tâm tâm ấy tức Phật.
*
3.-Tâm tâm tâm. D Ị C H : ......Tâm tâm tâm
Nan khả tầm.......................... Khó nỗi tầm.
Khoan thời biến pháp giới.... Tung ra bao trùm pháp giới
Trách giả bất dung châm..... Thâu lại chẳng đầy mũi kim.


LỜI DẠY CỦA TỔ ĐẠT MA:
4.-Diệc bất đồ nhi ác sanh hiềm dịch : Cũng đừng thấy dữ mà sanh ghét
Diệc bất quán thiện nhi cần thố..........Cũng đừng ham lành mà đâm mộ
Diệc bất xã trí nhi cận ngu................. Cũng đừng bỏ trí mà gần ngu
Diệc bất phao mê nhi tựu ngộ.............Cũng đừng buông mê mà cầu ngộ
Đạt đại đạo hề quá lượng...................Chứng đạo lớn hề rộng vô lượng
Thông Phật tâm hề xuất độ ................Sáng tâm Phật hề lớn vô biên
Bất dữ phàm thánh đồng triền...........Chẳng cùng phàm thánh quàng xiêng
Siêu nhiên danh chi viết Tổ................Vượt hết mà lên gọi là Tổ./.
*
KINH PHÁP CÚ :SI MÊ LÀ NGUỒN CỦA TẤT CẢ TỘI ÁCTRÍ TUỆ LÀ GỐC CỦA HẾT THẢY PHÁP LÀNH

Re: ###Sách: Niệm Phật vãng sanh Tịnh Độ

Gửi bàiĐã gửi: Chủ nhật 03 Tháng 4, 2016 10:32 am
gửi bởi thichthientri
M Ụ C L Ụ C
1-Lời nói đầu +Chư Phật dạy
2-Giáo Lý của Đức THÍCH CA + Giáo pháp thần diệu của Đức PHẬT + Đại thừa yếu quyết + Kinh Vị Mâu Ni thành đạt
3-KINH ĐIỀU NGỰ + LỜI DẠY CỦA ĐỨC PHẬT : 20 điều khó +Thân Bệnh & Tâm Bệnh + Người Cư Sĩ
4-Những phiền não và khổ đau trong Tam Giới + Niệm chết + TA THẬT & TA GIẢ
5--Mười bốn điều răn của Đức PHẬT + 5 điều thường nhớ + Tai hại của ngũ dục + Tâm tức ý niệm +Ý niệm và thân thể cái nào quan trọng hơn ?
6-Tại nó hay tại mình + TAM ĐỘC + -Khổ đau nhiều hơn hạnh phúc.
7- KIẾT SỬ + Lựa chỗ y chỉ + Tổn Thất Lớn Nhất + Cội gốc của Luân Hồi + Cội nguồn của khổ đau + Lưới ái.
8- TÍN HẠNH NGUYỆN (Đức Tin + Đức Hạnh + Đức Nguyện) + Biết pháp + 4 thứ ma + KINH TÌNH THƯƠNG + Nắm lá trong lòng bàn tay.
9-TĨNH GIÁC GIỮ CHÁNH NIỆM + PHÁP MÔN NIỆM PHẬT.
10- PHƯƠNG PHÁP NIỆM PHẬT NHẤT TÂM BẤT LOẠN + PHƯƠNG PHÁP TU + Lời nguyện của Ngài VĂN THÙ.
11- HỎI & ĐÁP.
12-Tỳ Kheo NHẤT GIỚI + Đại tự nhiên + CHÂU LỢI BÀN ĐẶC.
13- Những gì là tối thượng + Việc chưa từng có + Lời Dạy Bảo Sau Cùng Của Đức PHẬT+Cái già sẳn trong cái trẻ + Ngũ giới cấm của nhà PHẬT + Chỉ vì hai chữ không biết.
14- PHÁP NGỮ
Bài 1-Làm Thế Nào Để Trừ Tai Nạn ?
15- Vì Tánh Linh Của Vạn Vật Mà Cảm Động + Vạn Vật Đều Có Tánh Linh.
16- Đức PHẬT xả tuổi thọ + H Ạ N H P H Ú C: HẠNH PHÚC LUÔN CÓ MẶT + Quả báo mắng nhiếc bậc Thánh + HẠNH PHÚC BỊ LẢNG QUÊN.
17-¬Tài sản của người tu + HẠNH PHÚC TƯƠNG ĐỐI + HẠNH PHÚC CHÂN THẬT + KHÔNG VƯỚNG BỤI TRẦN
18- PHẦN HAI
19- PHẬT THUYẾT A DI ĐÀ KINH + 48 LỜI NGUYỆN CỦA ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ
20- Đức PHẬT dạy…+…ĐẠI BI THẦN CHÚ + Mười điều tâm niệm + Khát mà không chịu uống nước + KỆ HỒI HƯỚNG


Re: ###Sách: Niệm Phật vãng sanh Tịnh Độ

Gửi bàiĐã gửi: Chủ nhật 03 Tháng 4, 2016 10:35 am
gửi bởi thichthientri
1
LỜI NÓI ĐẦU

LUÂN HỒI quả là thứ tai nạn lớn nhất của chúng sanh, nó khiến cho thân thể chúng ta thay đổi chuyển hóa luôn (sanh, già, bệnh, chết), từ đời nầy qua kiếp khác, rơi mãi vào cảnh lo buồn khổ não triền miên, đan xen nhau thành bức dệt biển khồ ! Chúng ta phải biết rõ điều nầy và phải làm cách nào tìm cho ra con đường Giải thóat khỏi biển khổ ấy.
Có một thanh niên đầu óc tỉnh táo, khi nghe chúng tôi luận về kiếp người, đã bảo :”KIẾP NGƯỜI THẬT CHẲNG CÓ CHÚT Ý NGHĨA GÌ CẢ !”. Một con người phải trải qua biết bao cay đắng khổ sở, đổ mồ hôi sôi nước mắt trong mấy chục năm trời, may mắn lắm mới làm nên sự nghiệp. Nhưng, đáng buồn thay, những thứ tài sản tạo ra một cách khó nhọc ấy, lại chỉ treo vào hởi thở. Chỉ cần ngưng hô hấp 5 phút, thì than ôi ! Tâm huyết cả đời đành trôi theo dòng nước. Dù có ngàn tài khỏan trong Ngân hàng, cũng không thể đem theo được xu teng nào !!!
Từ xưa đến nay, trong cũng như ngòai nước, lịch sử đã ghi lại biết bao anh hùng, vào sinh ra tử, đánh Nam dẹp Bắc, thu lấy muôn dặm sơn hà nắm giữ trong tay. Thế mà, một khi Vô Thường đã đến, ngàn muôn thầy hay tướng giỏi, cũng không phương cứu sống.
Trước đây, lúc sắp từ bỏ giang sơn gấm vóc “MẶT TRỜI KHÔNG BAO GIỜ LẶN”, Nữ Hòang X nước Anh đã tuyên bố :”Nếu ai có khã năng giúp cho Bà chỉ sống thêm một tuần lễ nữa thôi, Bà sẽ chia đôi đất nước cho người đó !”.
Trong lịch sử Trung Quốc, cũng có hai gương mặt lớn, đó là TẦN THỦY HÒANG và HÁN VŨ ĐẾ, đã từng huy động biết bao nhân tài, vật lực hết sức lớn lao, mong tìm cho được thuốc trường sinh bất tử, nhưng kết quả sau cùng, họ vẫn phải chui vào phần mộ. Sau đó, có biết bao nhiêu nhân sĩ các Tôn giáo, tìm mọi cách để đối kháng với cái chết, nhưng rồi cũng vẫn phải xếp giáp qui hàng !!!.
Tóm lại, lòai người đã trải qua biết bao cay đắng khổ sở, suốt đời trong công việc, để cuối cùng được gì !? Vẫn là rỗng không một thứ, không sao vượt nổi cửa ải khắc nghiệt nhất của định luật tự nhiên : CHẾT !!!.

KINH nói:
THÂN NGƯỜI ÍT PHƯỚC KHÓ ĐƯỢC ! PHẬT PHÁP THIẾU DUYÊN KHÓ NGHE !
*
N G U Y Ệ N C Ầ U
Ta còn để lại gì không ?
Kìa non nước chảy, nọ sông cát bồi.
Lang thang từ độ Luân hồi,
U minh nẻo trước, xa khơi dặm về.
Trông ra bến thảm bờ mê,
Nghìn thu nửa chớp, bốn bề một phương.
Ta van cát bụi trên đường,
Dù nhơ dù sạch, đừng vương gót nầy./.

Bình bát cơm ngàn nhà
Thân đi muôn dặm xa
Chỉ vì việc sanh tử
Giáo hóa tháng ngày qua

PHẬT NGÔN :
1.- Ta là người hướng đạo vạch sẳn con đường chân lý giải thóat, các ngươi nên tự thắp đuốc lên mà đi mới đạt được mục đích.
2.-Cái khổ của con lừa, con lạc đà vì chở nặng chưa phải là khổ !
Ăn hòan sắt nóng uống nước đồng sôi cũng chưa phải là khổ !!!
Chỉ có SI MÊ không tìm thấy lối đi, mới thực sự là khổ !!!
*
CHƯ PHẬT DẠY :

Chư ác mạt tác ..D Ị C H: ..Kiêng làm việc ác
Chúng thiện phụng hành.......... Cần tu điều lành
Tự tịnh kỳ Ý............................. Trau dồi tâm sạch.
Thị chư Phật giáo......................Lời Chư Phật dạy


Re: ###Sách: Niệm Phật vãng sanh Tịnh Độ

Gửi bàiĐã gửi: Chủ nhật 10 Tháng 4, 2016 9:39 am
gửi bởi thichthientri
2
GIÁO LÝ CỦA ĐỨC THÍCH CA NHƯ LAI

Đức THẾ TÔN có nói rất rõ về giáo lý của Ngài như sau:
“Nước biển chỉ có một vị mặn, giáo lý của Ta cũng chỉ có một vị: “GIẢI THOÁT”. Và từ xưa đến nay Ta chỉ nói có một điều là khổ đau và sự Giải thoát khỏi khổ đau!”.
-Ở trong kinh Lăng Già cũng có ghi chép lời dạy của Ngài:
“Phật ngữ :“Dĩ Tâm vi Tông, dĩ Vô Môn vi Pháp môn”(Tạm dịch: “Phật nói”: Lấy Tâm làm Tông (= Tông chỉ, chủ yếu), và lấy cửa “KHÔNG” làm cửa pháp)./.

GIÁO PHÁP THẦN DIỆU CỦA ĐỨC PHẬT

Bản hoài của Chư Phật là muốn tất cả chúng sanh đều thành Phật. Nhưng, vì sự hiểu biết của lòai người không đồng đều, cho nên Đức PHẬT THÍCH CA phải phương tiện quyền nói năm Thừa dưới đây :
1.-NHÂN THỪA: Tu theo thừa nầy là tu để sau khi mạng chung được đi đầu thai trở lại làm Người.
2.-THIÊN THỪA: Tu theo thừa nầy là để sau khi mạng chung được sanh lên Thiên đàng (= cõi trời) hưởng phước báo, chớ chưa ra khỏi nhà lửa (= Tam giới) cũng như chưa được “ tự tại’ và ‘giải thoát”.
3.-THANH VĂN THỪA: Hành giảtu pháp “Tứ Diệu Đế”(=Tứ Thánh Đế), thì sẽ thoát ra khỏi nhà lửa (=Tam giới), chứng đắc đạo quả A LA HÁN và được tự tại và giải thoát.
4.-DUYÊN GIÁC THỪA: Hành giả tu pháp ‘Thập Nhị Nhân Duyên” thì sẽ thoát ra khỏi sức hút của Vũ Trụ Cãm Giác (= nhà lửa) để chứng đắc đạo quả
Bích Chi Phật (=Độc Giác Phật) và được “liễu sanh thoát tử”.

5.-ĐẠI THỪA: Hành giả “Tu Bồ Tát Đạo, Hành Bồ Tát Hạnh”.
(Thí như : Tu Lục Độ : Bố Thí, Trì Giới, Nhẫn Nhục, Tinh Tấn, Thiền Định Trí Tuệ…) để thoátra khỏisức hút của Vũ Trụ Cảm Giác (=Vũ Trụ Tương Đối=Tam giới), hay đoạn cho được cái thân “Phân Đoạn Sinh Tử” (Cái chết của kẻ phàm phu) để được “liễu sanh thoát tử” và thân chứng cho được hai cái “Không” là: “Ngã Không” và “Pháp Không. Bởi vì, Đức Phật có dạy rằng: -“Bồ Tát bố thí mà trụ tướng, thì không phải là Bồ Tát”./.
*

ĐẠI THỪA YẾU QUYẾT

Nếu là người học cần yếu phải từ cạn đến sâu. Tức là gồm ba môn huê học: VĂN, TƯ TU. Ba môn nầy thảy đều là BÁT NHÃ (Trí Tuệ). Giải rằng : Trước cần nghe pháp sanh tri giải (= hiểu biết) gọi là VĂN HUỆ. Kế đến suy gẫm pháp đã nghe, nhận định yếu lý cho rõ ràng, do suy gẫm nhập tâm mình, gọi là “TƯ HUỆ”. Rốt sau, như chỗ đã nghe, đã suy gẫm, căn cứ vào đó mà tu hành không sai chạy, gọi là ‘TU HUỆ”. Hai huệ trước thụộc về hữu lậu, một huệ sau thuộc về vô lậu. Trước thì cạn, sau thì sâu. Tuy cạn sâu có khác, đều chung gọi là HUỆ (= Tuệ).
Kinh Pháp Hoa nói: “Nếu người được nghe hiểu, suy gẫm tu hành, ắt biết người ấy được gần Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác (Anuttara - Samyak - Sambo-dhi). Lại nói Giáo Lý Hạnh Quả rằng : ”Do suy tầm Giáo nên ngộ được , nhơn ngộ được khởi “hạnh”, Hạnh thành thì chứng quả”. Cho nên gọi là Giáo, Lý, Hạnh, Quả.
Nay lược nêu ít điều để chỉ bày cho người học, nếu như khéo nhận rõ được chỗ nầy, thì sẽ thông suốt chỗ kia. Cổ Đức có nói : “Học một quyển kinh được thông, thì muôn quyển kinh đều hiểu”. Đây là chỗ tôi nhắc, người học cần phải thẩm tra tường tận./.

KHUYÊN TU PHẬT
Tam giới cần qui Đạo Thích Ca,
Một nền giáo lý thật cao xa.
Mật ngôn ứng dụng tiêu phiền não.
Hiển pháp khai bày diệt ấm ma.
Cứu khổ sanh linh đăng giác ngạn,
Giải mê đại chúng xuất Ta Bà.
Căn lành sẵn có tu thời ngộ,
Trạm tịch hoàn nguyên, kiến Phật đà./.


KINH VỊ MÂU NI THÀNH ĐẠT

Đây là kinh Phụ Tử Công Hội. Phụ Tử Công Hội nghĩa là cha con gặp nhau. Khung cảnh dựng lên: Thái Tử Tất Đạt Đa thuộc bộ tộc Thích Ca sau khi thành Đạo, dựng nên Tăng đoàn, đã về thăm gia đình và có dịp giáo hóa cho Hoàng gia cũng như cho dân chúng trong nước Ca Tỳ La. Phật độ được vua Tịnh Phạn. Vua Tịnh Phạn tỏ thái độ rất cung kính đối với Phật. Dân chúng lấy làm ngạc nhiên tại sao vua cha lại phải cung kính đứa con mình đến mức ấy. Vua mới nói cho mọi người biết nhân cách vĩ đại của con mình, ngay từ khi còn bé. Giới phụ nữ thuộc dòng họ Thích Ca tới quy y học đạo rất đông. Sau khi mọi người tiếp cận giới pháp. Đức Phật dạy kinh nầy :
1.- Đã tiếp nhận đầy đủ giới pháp, chúng con phải nhận diện như thế nào và phải nói như thế nào cho đúng về bậc có Chánh kiến, bậc đã được sinh ra như một vị anh hùng trên thế gian, bậc đã vượt thoát mọi ràng buộc khổ nạn? Xin Đức Gotama chỉ dạy.
2.- Đó là người đã buông bỏ được mọi hiềm hận về quá khứ, mọi thắc mắc, lo âu về tương lai. Trong giây phút hiện tại người ấy cũng không bị hệ lụy vào bất cứ gì, cũng không bị kẹt vào hư danh và sự tôn kính của kẻ khác.
3.- Không tham đắm vào tương lai, không ưu sầu về quá khứ, người ấy trên đường mình đi đã buông bỏ mọi tham cầu, mọi tà kiến, không giữ lại một tư kiến nào.
4.- Đã buông bỏ mọi sợ hãi, đã trở nên vững chãi, nuôi dưỡng được chánh tín, người ấy diệt trừ được mọi nghi nan, không tật đố, không hoan hỷ với những gì đang có và yêu nếp sống thảnh thơi.
5.- Có khả năng tiết chế, không tham vọng, có nhiều tuệ giác, không ganh ghét ai, không nói xấu ai. Không trau chuốt bên ngoài, không nói lưỡi hai chiều, người ấy buông bỏ mọi hý luận và nghi ngờ.
6.- Tâm ý giải thoát, không đắm trước, lìa tư kiến, không thêu dệt hư vọng, bước đi an tường, người ấy có khả năng giải tõa được mọi tranh chấp, không bị dục kéo đi, và đoạn trừ được mọi dục tưởng.
7.- Không mưu toan để đạt tới một cái gì mình muốn, cũng không lo lắng khi mình không có cái kia, người ấy không oán hận, không bị vị ngọt của ái dục sai sử.
8.- Không tự cao, thấy được tự tánh bình đẳng và vô ngã, không có mặc cảm thua người hay bằng người biết quán chiếu, biết đình chỉ tâm ý, người ấy thấy được cái gì là thiện cái gì là ác và buông bỏ được những vọng cầu về tương lai.
9.-Không kẹt vào cái đang xảy ra, không bị cột chân lại bất cứ ở đâu, người ấy biết quán chiếu, nhìn thẳng vào các pháp và không còn bị vướng mắc vào gì nữa. Dù trong cõi dục, cõi sắc hay cõi vô sắc cũng thế, người ấy luôn luôn xử dụng thông tuệ của mình, do đó không có gì mà không vượt thoát được.
10.-Ái đã diệt, tâm đã tĩnh, người ấy đã vượt qua những cơn lũ lụt sầu khổ để tới bến bờ vô ưu, không còn theo đuổi tìm cầu lạc thú gì nữa trong ba cõi. Đã cởi trói, đã buông bỏ tất cả, người ấy không còn gì để gọi là sở đắc.
11.-Không cần con trai, không cần ruộng đất, không cần trâu bò, không cần của cải, người ấy không còn gì để nắm bắt hoặc để đuổi xua.
12.-Dù bị đám đông công kích, phỉ báng, xúc phạm, dù có bị các vị Phạm chí và Sa Môn chê bai, người ấy vẫn ngồi yên bất động, vẫn cứ đường mình mình đi.
13.-Không tật đố, không xan tham, dù có được thế gian tôn kính người ấy cũng không bị vướng mắc. Người ấy không tự tôn, không tự ti, không đòi bằng người, cái gì đúng pháp thì làm, phi pháp thì bỏ.
14.-Thấy được tự tính không, đạt tới vô cầu, vô đắc, không còn vui cái vui phàm tục của thế gian, tâm ý đã thực sự dừng lại, vị Mâu Ni vượt thoát thời gian, đạt tới bản môn, đi vào kiếp ngoại.
Đại ý: Kinh nầy nói về một con người xuất gia lý tưởng. Đây là một vị Mâu Ni, một người thành đạt trên con đường tâm linh và trở thành một bậc thầy, một người gương mẫu cho tất cả những ai muốn sống một cuộc đời xuất trần thượng sĩ. Mâu Ni có nghĩa là người ‘tĩnh lặng’ (tịch mịch), người đã đạt tới bình an, không còn nắm bắt, không còn trông ngóng, hoàn toàn thảnh thơi, không có nhu yếu phô trương./.
(Trích Đạo Bụt Nguyên Chất, Nghĩa Túc Kinh, kinh thứ Đại Tạng Tân Tu 198 tương đương với Puràbheda Sutta – Nipàta 848 – 861).

CHUÔNG CHÙA TỈNH TÂM

Boong ! Boong ! thanh thóat tiếng ngân xa,
Thức tỉnh sinh linh giữa ái hà.
Biển khổ mênh mông đầy sóng bạt
Bồ Đề chí diệu diệt oan gia,
Chày kình anh dõng tiêu phiền não
Vang giọng thâm trần diệt ấm ma.
Mộng ão trần gian đành đổ vở
Một lòng hành đạo, chẳng sai ngoa./.


Re: ###Sách: Niệm Phật vãng sanh Tịnh Độ

Gửi bàiĐã gửi: Chủ nhật 17 Tháng 4, 2016 4:22 am
gửi bởi thichthientri
3

KINH ĐIỀU NGỰ

Trong TRUNG BỘ KINH có nói :”Một hôm, có AGGIVESSANA thuộc dòng Bà La Môn đến hỏi Đức Phật về phương pháp tu hành, Đức Phật dạy như sau :
-Nầy AGGIVESSANA, sau khi vị Thánh đệ tử đã giữ giới Patimokkha đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sự nguy hiễm trong lỗi nhỏ nhặt, thọ lãnh và tu học trong học pháp. Như Lai lại huấn luyện thêm cho vị đệ tử ấy. Hãy đến nầy Tỳ Kheo, hãy bảo hộ các căn, khi mắt thấy sắc chớ có nắm giữ tướng chung, chớ có nắm giữ tướng riêng. Nhưng nguyên nhân gì, vì nhãn căn không được chế ngự khiến tham ái, ưu, bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, hãy tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, thực hành sự hộ trì nhãn căn; khi tai nghe tiếng, mũi ngữi hương, lưỡi nếm vị, thân cảm xúc, ý nhận thức các pháp, chớ có nắm giữ tướng chung, chớ có nắm giữ tướng riêng.
Như Lai huấn luyện thêm vị Thánh đệ tử ấy : “Hãy đến nầy Tỳ Kheo, hãy tiết độ trong sự ăn uống, chơn chánh giác sát thọ dụng món ăn, không phải để vui đùa, không phải để tham mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, chỉ để thân nầy được duy trì, được bảo dưỡng, khỏi bị gia hại, để chấn trì phạm hạnh nghĩ rằng :”Như vậy ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới. Và ta sẽ không phạm lỗi lầm sống được an ổn”.
Nầy Aggivessana, sau khi vị Thánh đệ tử đã tiết độ trong ăn uống. Như Lai lại huấn luyện thêm cho vị ấy :”Hãy đến nầy Tỳ Kheo, hãy chú tâm vào giác tỉnh. Ban ngày đi kinh hành và trong khi đang ngồi, hãy gội sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp, ban đêm trong canh giữa, hãy nằm xuống phía hông bên phải như dáng con sư tử nằm, chân gát lên chân với nhau, chánh niệm tỉnh giác, hướng niệm đến lúc ngồi dậy. Ban đêm trong canh cuối, khi đã thức dậy trong khi đi kinh hành và trong khi đang ngồi, hãy gội sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp”.
Sau khi vị Thánh đệ tử đã chú tâm vào giác tỉnh. Như Lai lại huấn luyện thêm cho vị ấy. Nầy Tỳ Kheo, hãy thành tựu Chánh niệm, tỉnh giác khi đi tới, khi đi lui, đều tự giác, khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tự giác, khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tự giác, khi co tay, khi duổi tay đều tự giác, khi đi, đứng, nằm, ngồi, ngủ, thức, nói, yên lặng, đều tự giác.
Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái, gội rửa hết tham ái, từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng hữu tình, gội rửa tâm hết sân hận. Từ bỏ hôn trầm, thùy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm, thùy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng chánh niệm tĩnh giác, gội rửa hết tâm hôn trầm thùy miên. Từ bỏ trạo cử, hối quá, nội tâm trầm lặng gội rửa hết trạo cử hối quá. Từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống với tâm thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gội rửa hết nghi ngờ đối với thiện pháp. Vị ấy sau khi đoạn trừ năm triền cái, những triền cái làm ô nhiễm tâm tư, làm yếu ớt trí tuệ, vị ấy sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để điều phục tham ưu ở đời.
Vị Tỳ Kheo kham nhẫn lạnh, nóng, đói, khát, sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, mặt trời và các loài bò sát, các ác ngữ, các lời nói chữi mắng, vị ấy sống quen kham nhẫn với những cảm thọ về thân thống khổ, đau nhói, đau đớn đến chết, được gội sạch về uế nhiễm, tham, sân, si. Vị ấy xứng đáng được cúng dường, cung kính, tôn trọng, chấp tay, là vô thượng phước điền trên đời./.
Ghi Chú : Năm triền cái : Tham dục (tham mê ngũ dục), sân hận (giận tức, buồn phiền), thùy miên (ngủ nghỉ, lười biếng), trạo hối (xao xuyến và hối hận), nghi (nghi ngờ, do dự).
***
LỜI DẠY CỦA ĐỨC PHẬT HAI MƯƠI ĐIỀU KHÓ

ĐỨC PHẬT có dạy rằng : “Làm người có 20 điều khó như dưới đây :
1.-Nghèo nàn bố thí là khó. 2.-Giàu sang học Đạo là khó.
3.-Bỏ thân mạng quyết chết là khó. 4.-Thấy được Kinh Phật là khó.
5.-Sinh vào thời có Phật là khó. 6.-Nhẫn sắc, nhẫn dục là khó.
7.-Thấy tốt không cầu là khó. 8.-Bị nhục không tức là khó.
9.-Có thế lực không dựa là khó. 10.-Gặp việc Vô Tâm là khó.
11.-Học rộng nghiên cứu sâu là khó. 12.-Diệt trừ “ngã mạn” là khó.
13.-Không khinh người chưa học là khó.
14.-Thực hành tâm bình đẳng là khó.
15.-Không nói chuyện “phải trái” là khó.
16.-Gặp được Thiện Tri Thức là khó.
17.-Học Đạo thấy Tánh (=Kiến Tánh) là khó.
18.-Tùy duyên hóa độ người là khó.
19.-Thấy cảnh tâm bất động là khó.
20.-Khéo biết phương tiện là khó./.
***
KINH PHÁP CÚ
Gần Đạo thì danh được tỏ rạng như lên núi Tuyết.
Xa Đạo thì như bắc cung ban đêm
***

THÂN BỆNH & TÂM BỆNH

Một thời, Đức THẾ TÔN trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, gọi các Tỳ Kheo nói : “Nầy các Tỳ Kheo, có hai lọai bệnh nầy. Thế nào là hai ?”.
-“Bệnh về THÂN và bệnh về TÂM”.
-Nầy các Tỳ Kheo, chúng ta thấy có chúng sanh tự nhận là mình không có bệnh về “THÂN” được 1 năm, được 5 năm, được 10 năm, được 50 năm, cho đến 100 năm.
Nhưng này các Tỳ Kheo, rất khó tìm được ở đời là những chúng sanh tự nhận mình không có bệnh về “TÂM” dù chỉ trong khỏanh khắc, trừ những bậc Thánh đã đọan trừ hết các lậu hoặc./.
(ĐTKVN, Tăng Chi Bộ II, Chương 4, Phẩm các căn.
Phần Bệnh [trích], VNCPHVN ấn hành, 1996, tr. 86)
***›
NGƯỜI CƯ SĨ

Một thời, Đức Thế Tôn trú giữa dân chúng Sakka, trong khu vườn cây bàng. Rồi MAHÀNÀMA đi đến đảnh lễ, bạch Thế Tôn :
- Cho đến thế nào, Bạch Thế Tôn, là người Cư sĩ ?.
- Ai quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Cho đến như vậy, nầy Mahànàma, là người Cư sĩ.
- Cho đến thế nào, bạch Thế Tôn, là người Cư sĩ đầy đủ giới ?.
- Nầy Mahànàma, người Cư sĩ từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say rượu. Cho đến như vậy, nầy Mahànàma, là người đầy đủ giới.
- Cho đến thế nào, bạch Thế Tôn, là người Cư sĩ đầy đủ tín ?.
- Ở đây, nầy Mahànàma, người cư sĩ có lòng tin, tin tưởng sự giác ngộ của Như Lai : “Đây là Như Lai, bậc A La Hán, Phật, Thế Tôn”. Cho đến như vậy, nầy Mahànàma, là người Cư sĩ đầy đủ tín.
- Cho đến thế nào, bạch Thế Tôn, là người Cư sĩ đầy đủ bố thí ?”.
- Ở đây, nầy Mahànàma, người cư sĩ trú ở gia đình, tâm thoát khỏi cấu uế của xan tham, bố thí dễ dàng, bàn tay rộng mở, thích thú từ bỏ, chia sẽ vật bố thí. Cho đến như vậy, nầy Mahànàma là người Cư sĩ đầy đủ bố thí.
- Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là người cư sĩ đầy đủ trí tuệ ?
- Ở đây, nầy Mahànàma, người cư sĩ thành tựu trí tuệ về sanh diệt, trí tuệ các bậc Thánh thể nhập, đưa đến đoạn tận khổ đau. Cho đến như vậy, nầy ahànàma, là người Cư sĩ có đầy đủ trí tuệ./.

Re: ###Sách: Niệm Phật vãng sanh Tịnh Độ

Gửi bàiĐã gửi: Thứ 3 19 Tháng 4, 2016 11:16 am
gửi bởi thichthientri
4

NHỮNG PHIỀN NÃO VÀ KHỔ ĐAU Ở TRONG TAM GIỚI !

-Kiến thứt thiết trụ địa phiền não” là những phiền não, khổ đau ở nơi cõi Ta Bà (=Tam Giới=Nhà lửa).
Dưới đây là những phiền não và khổ đau ở trong nhà lửa (=Tam giới) :
1.-Cõi Dục (Dục giới) : Dục ái trụ địa phiền não.
2.-Cõi Sắc (Sắc giới) : Sắc ái trụ địa phiền não.
3.- Cõi Vô Sắc (Vô sắc giới) : Hữu ái trụ địa phiền não.

Ghi chú: Tam Giới hay Nhà Lửa là : Vũ trụ Tương Đối ,Vũ trụ Vật Chất hay Vũ trụ Cảm Giác . Nó to lớn không thể nào lường được.

***
GHi Chú : Muốn được liễu snh thoát tử” hay chuyển phàm thành Thánh hoặc muốn được Vảng Sanh về TỊNH ĐỘ của Đức PHẬT A DI ĐÀ hay chứng đắc đạo quả Vô Thượng Bồ Đề (thành Phật, làm Tổ), hành giả phải tu tập bằng cách thức nào đó mà Đức Phật đã chỉ dạy, để thoát ra khỏi nhà lửa (=Tam Giới hay Vũ Trụ Cảm Giác) , thì lúc bấy giờ mới có hy vọng được mãn nguyện./.

***
NGŨ TRƯỢC

Ngũ Trược” gồm có 5 thứ : “Kiếp Trược, Kiến Trược, Phiền Não Trược, Chúng Sanh Trược Mạng Trược”.
Như thế nào là Kiếp trược, Kiến trược, Phiền não trược, Chúng sanh trược và Mạng trược ?
1. - Kiếp Trược : Thời đại không yên, không tốt xảy ra nhiều điều tai biến và loạn ly.
2. - Kiến Trược : Thấy nghe hiểu biết không chân chính, lập ra nhiều tà thuyết, tà kiến, nghĩa là cái kiến thức lù mù lầm lạc, rồi thành ra có nhiều tội ác.
3. - Phiền Não Trược : Mưu cầu, hy vọng chẳng toại nguyện cho nên tức bực khổ tâm, loạn thần rối trí gọi là “Phiền não trược”. Nghĩa là những ý niệm ghét thương mừng giận ham chán ân tình nó làm cho tâm thần ngầu đục.
4 ,- Chúng Sanh Trược : Người và loài động vật thiện ít ác nhiều, mạnh ăn thịt yếu, cấu xé lẫn nhau; tội phạm, tù binh, ngựa người, tôi mọi là chúng sanh trược. Nghĩa là tàn bạo gian tham, hôn mê ngu khốn làm cho nhân sinh điên đảo, bỉ ác, đê hèn.
5 .- Mạng Trược : Sống 100 năm, vắn dài khó hẹn, chết điếu thiên cỗ già trẻ khôn từ, nên gọi là “
mạng trược”. Nghĩa là ai cũng muốn kéo dài sự sống, mà có ai tránh khỏi tử thần. Thấm thoát 100 năm mơ màng một giấc, cái sống quá ê chề, cái mạng nhiều gớm ghiết !./

***
N I Ệ M C H Ế T

Một thời, Đức THẾ TÔN trú ở Nàdika, tại Ginjaka-vasatha. Tại đấy, Đức Thế Tôn dạy các Tỳ Kheo :
- Niệm chết, nầy các Tỳ Kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn thời có quả báo lớn, có lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử. Tu tập “Niệm chết” như thế nào để đưa đến quả lớn, lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử ?
- Nầy các Tỳ Kheo, khi ngày vừa tàn, đêm vừa an trú, suy tư như sau :
- Các nhân duyên đem đến cái chết cho ta rất nhiều. Con rắn, con bò cạp hay con rít có thể cắn ta, ta có thể mạng chung. Ta có thể vấp ngã và té xuống. Thức ăn có thể làm cho ta mắc bệnh, và làm cho ta có thể mạng chung… Như vậy sẽ là chướng ngại.
- Nầy các Tỳ Kheo, khi đêm vừa tàn, ngày vừa an trú, suy tư như sau :
- Các nhân duyên đem đến cái chết cho ta rất nhiều. Con rắn, còn bò cạp hay con rít có thể cắn ta, và ta có thể mạng chung. Ta có thể vấp ngả và té xuống. Thức ăn có thể làm cho ta mắc bệnh, và làm ta có thể mạng chung… Như vậy sẽ là chướng ngại”.
- Nầy các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo ấy cần phải suy nghĩ như sau :
- “Ta còn những pháp ác, bất thiện chưa đoạn tận, nếu như lỡ mạng chung đêm hoặc ngày nay, chúng có thể chướng ngại cho ta”. Biết được như vậy, Tỳ Kheo ấy tinh cần, nỗ lực, Chánh niệm tĩnh giác, ngày đêm cần phải học trong các thiện pháp.
- Nầy Tỳ Kheo, “Niệm Chết” tu tập như vậy, làm cho sung mãn như vậy thời được quả lớn, được lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử./.
***˜
CỘI GỐC CỦA LUÂN HỒI

Không có một pháp khác
Quần sanh bị bao phủ
Ngày đêm chạy luân chuyển
Như bao bọc bởi SI
Và ai phá được SI.
Đâm thủng khối u ám
Chúng không lưu chuyển nữa
Trong chúng nhân không còn./.
***
TA THẬT & TA GIẢ

Mỗi con người đều có 2 thân, một cái thân giả là tấm thân bảy thước mà ai cũng thấy đó, còn một cái thân thật (bình dân hay gọi là linh hồn hay tinh hồn), nó nằm trên thân xác máu thịt của chúng ta, hai thân chồng khít lên nhau đến độ, thân xác nầy không sao phát hiện ra sự hiện diện của thân thật cả. Tuy nhiên cũng có lúc trong một vài trạng huống đặc biệt, người ta mới có thể chứng thực được sự tồn tại của cái thân thật nầy, như trường hợp bà PASSON ở Mỹ chẳng hạn.
Xin mời quý vị xem kỹ bài báo sau đây để thấy được lúc bà bị bệnh nguy kịch, hai thân ấy tách ra như thế nào :
-“Nó sinh ra hết sức đột ngột. Phút trước, tôi còn nằm trên giường, phút sau, tôi tự biết mình bồng bềnh trên không, thấy rõ cá bác sĩ, y tá, đang tìm cách cấp cứu thi thể vô tri vô giác của tôi ‘.
- Đó là lời kể của một người đàn bà bi bệnh tim rất nặng, ngay trong phòng cấp cứu, nhận ra được một trường hợp lìa hồn kỳ lạ nầy.
“Sự hiện diện nầy xảy ra vào đêm trước của Lễ Giáng Sinh năm ngóai” bà PASSON, ở thành Phố CHEYENNE thuộc tiểu bang WYOMING (USA) nói:
-‘Khi bệnh tim của tôi phát ra, anh FREDIE, chồng tôi lập tức lái xe đưa tôi đến bệnh viện. Trong lúc chuyên viên viên y khoa đang tìm cách cấp cứu tôi trong phòng cấp cứu, đột nhiên, tôi cảm thấy mình biến thành người thứ hai, bồng bềnh trên không, cách mặt đất khỏang năm sáu thước, nhìn thấu rõ họ đang tìm mọi cách làm cho thân xác tôi hồi tỉnh lại.
Tôi thấy rất rõ, có một người cầm một ống tiêm lớn, châm vào bụng tôi. Kế đó, họ lấy máu ở cánh tay tôi và thổi vào mũi tôi một thứ bột trắng. Tuy khắp thân thể tôi cắm đầy y cụ, nhưng tôi hòan tòan không chút cảm giác đau đớn gỉ, chỉ có điều, tôi không thể nghe thấy họ nói gì cả. Linh hồn tôi hòan tòan tự do, có thể nói một cách hết sức thành thật rằng, từ lúc sanh ra đến nay, đó là ‘giây phút sung sướng an lạc nhất” của tôi !
Bà ôn lại trí nhớ nói tiếp :
Tôi đã ở trên cao, không có thứ gì trên thế gian nầy có thể chạm được vào tôi cả. Trong tâm tôti hòan tòan không chút gì sợ hải hay đau khổ. Tôi mường tượng như là một đứa trẻ nhỏ, đang được bà mẹ ôm vào lòng che chở, với tất cả sự thương yêu trìu mến.
Nếu như được quyền chọn lựa, chắc chắn tôi sẽ không chịu trở lại thế gian nầy, mà chỉ muốn sống mãi mãi trong cảnh giới tuyệt với ấy”.
Nhưng sự tình không được như ý nguyện của bà, bà buồn bã tiếp :
-“Bổng nhiên, trong khỏanh khắc, linh hồn tôi lại nhập vào thân xác tôi”.
Sáng hôm sau, vị Bác sĩ trị liệu cho tôi bảo, nếu khi trái tim bà đã ngừng đập ấy, mà không có chúng tôi kịp thời cứu chữa, chắc chắn bà phải chết thôi.
- Cho dù thế nào chăng nữa, cái lần mà hồn tôi ra khỏi xác đó, đã khiến cho tôi không bao giờ sợ chết nữa. Bởi vì, nếu chết mà được sung sướng như thế, thì quả thật, trạng thái đó vô cùng tuyệt diệu.
Đến nay, đã hơn một năm qua, nhưng tôi vẫn nhớ mồn một cái cảm giác thanh thoát vô cùng, lúc tôi lìa bỏ thân xác của tôi. Tôi không sao quên được cái ánh sáng hiện ra kỳ dị, nó vẫn còn chiếu lấy tôi.
Hiện nay, đêm nào tôi cũng ngủ ngon lành như một em bé. Lúc nào tôi cũng cảm thấy sung sướng, an vui. Tất cả sự sợ hải, lo lắng trên đời nầy, đã hoàn toàn biến mất trong tôi !”.

Tình trạng bà PASSON ở Mỹ đã trải qua nầy, dĩ nhiên thân thể chúng ta rồi cũng đến đó, vào những năm tháng sắp tới, dù bạn muốn trốn tránh cũng không thể tránh được. Đến lúc ấy, sự nghiệp vất vả suốt đời bạn gầy dựng nên, chỉ trong hơi thở, đã hoàn toàn mất hết. Cho dù, bạn có là vua dầu hỏa hay là con của vua gang thép đi nữa, lúc bấy giờ cũng chẳng thể nắm giữ được xu con nào cả !
Cũng cần lưu ý rằng, trong tương lai sau nầy, bạn có may mắn gặp được tình trạng như bà PASSON hay không, thì chưa hẳn ai cũng được.
Nếu như hằng ngày, bạn luôn luôn sống trong sự sân si tật đố, cho là may mắn để vui mừng chuốc lấy tai họa (ngũ dục lạc), không thèm đếm xỉa gì đến Tâm linh, chỉ chăm lo tòa nhà hạnh phúc ích kỷ bản thân, xây dựng trên nền đau khổ của người khác, thì chắc khó mà được cái may như thế.
Bây giờ, tôi xin nêu lên một tư liệu khác, để qúy vị so sánh.
Đó là chuyện của một thanh niên, trong lúc cái TA THẬT tách rời cái TA GIẢ, đã phát sanh một việc hết sức đáng sợ, đăng tải trong ‘DUYỆT VI THẢO ĐƯỜNG bút ký” của KỶ HIỂU LAM :
-“ Có một thanh niên tên X,, trong lúc ngủ trưa, thấy mình tách ra khỏi xác, đi ra ngòai du ngọan.
Anh đi qua mấy con đường lạ chưa từng đến, cũng cứ đi mãi không sợ lạc lối, giống như không còn sức chủ động, mơ màng đi một cách phản xạ tự nhiên. Lát sau, bỗng gặp một người đưa tặng cho anh bộ y phục màu đen. Anh nhận lấy mặc vào mà không cần đắn đo suy nghĩ gì cả. Sau đó, đến một cái cổng nhỏ, bên ngòai có che tấm vải đen. Anh chẳng cần biết đó là nhà của ai, giở tấm màn bước vào.
Nhưng than ôi ! Họa lớn đã đến rồi : anh từ trong bụng một con heo nái chung ra ngòai, biến thành chú heo con.
Lúc bấy giờ, anh hoàn toàn tỉnh táo, nhớ rất rõ là mình đang ngủ trưa, sao bây giờ trở thành chú heo con thế nầy ? Rồi điều đáng sợ nhất, trong kiếp heo nầy, làm sao tránh khỏi có ngày bị con dao thọc huyết ! Nghĩ đến đó, bất giác anh la khóc inh ỏi. Nhìn chung quanh, anh phát hiện ra đây là nhà của một người quen họ TRƯƠNG. Bà Trương đang chăm sóc heo con mới sinh. Anh vội kêu lớn : “Bà Trương ơi ! Cứu tôi với, tôi là X đây mà !”.
Anh thấy bà Trương không có phản ứng gì chứng tỏ nghe hiểu, quá cấp bách, anh chạy xổ đến bà, mấy lần đến đều bị bà Trương tay cầm gậy xô đuổi ra.
Anh sực hiểu rằng, bà Trương không thể nào nghe hiểu được lời nói của mình. Vậy là không còn cách nào cứu giúp được nữa rồi. Tình thế hết sức cùng quẩn, anh cắn răng dồn hết sức, tông mạnh vào vách tường của chuồng heo...!
Bổng nhiên, anh tỉnh lại, toàn thân đẫm ướt mồ hôi. Anh nằm im thở hổn hển, lát sau mới hoàn hồn trở lại. Anh suy nghĩ việc xảy ra vừa rồi, đâu chỉ là giấc mộng !. Để tìm cho ra lẽ cơn “ẢO MỘNG” nầy, anh ngồi dậy, mặc áo ra khỏi nhà, đến nhà họ Trương để tìm ra sự thực. Nhà nầy ở cùng một xóm cách đó không xa lắm. Đến nơi, quả thấy bà Trương đang bận rộn chăm sóc đàn heo mới đẻ, công việc chưa xong.
Anh lên tiếng trước : - “Bà Trương ơi ! Heo bà vừa mới đẻ phải không ? Được mấy con ?”.
Trương nghiệm lại đáp : - “Được 12 con, rất tiếc, có một con cứ chạy ào vào tôi ba bốn lần, tôi lấy gậy xua ra. Nó tức mình hay sao, mà tông vào tường chết tươi. Hiện chỉ còn 11 con thôi, uổng quá !”.
Anh sững sờ, không dám hỏi thêm, cáo từ ra về. Càng nghĩ càng sợ. Nếu như sự việc đó tái diễn thực sự thì sao !?
Xưa nay, anh hoàn toàn không tin vào lý Nhân Quả, phủ định sự Luân Hồi, nên làm việc gì cũng chỉ cốt giành lợi cho mình mà thôi, ai sống ai chết mặc kệ. Sau khi xảy ra chuyện trên, anh đã vì sợ tái nhập vào bụng heo nữa, nên đã hoàn toàn thay đổi thành con người mới, làm ăn hết sức lương thiện./.
***
TÀI SẢN CỦA 5 NHÀ :
1.-Nước lụt. 2.-Trộm cướp. 3.-Lửa cháy.
4.-Con bất hiếu. 5.-Vua hay Quan quyền cướp đọat.


Re: ###Sách: Niệm Phật vãng sanh Tịnh Độ

Gửi bàiĐã gửi: Thứ 4 20 Tháng 4, 2016 11:02 am
gửi bởi thichthientri
5

MƯỜI BỐN ĐIỀU RĂN CỦA ĐỨC PHẬT

1.-Kẻ thù lớn nhất đời người là“chính mình”.
2.-Ngu dốt lớn nhất của đời người là “dối trá”.
3.-Thất bại lớn nhất của đời người là “tự đại”.
4.-Bi ai lớn nhất của đời người là “ghen tỵ”.
5.-Sai lầm lớn nhất của đời người là“đánh mất mình”.
6.-Tội lỗi lớn nhất của đời người là “bất hiếu”.
7.-Đáng thương lớn nhất của đời ngừơi là “tự ty”.
8.-Đáng khâm phục lớn nhất của đời người là “vươn lên sau khi ngã”.
9.-Phá sản lớn nhất của đời người là “tuyệt vọng”.
10.-Tài sản lớn nhất của đời người là “sức khỏe, trí tuệ”.
11.-Món nợ lớn nhất của đời người là “tình cảm”.
12.-Lễ vật lớn nhất của đời người là “khoan dung”.
13.-Khiếm khuyết lớn nhất của đời người là “kém hiểu biết”.
14.-An ủi lớn nhất của đời người là “bố thí./.
***
NĂM ĐIỀU THƯỜNG NHỚ

Trong TĂNG CHI BỘ KINH, Đức Phật có dạy các thầy Tỳ Kheo hằng nhớ năm điều thì tâm không buông lung :
1. - GIÀ : Tất cả mọi người rồi cũng phải già yếu tàn tạ không một ai tránh khỏi.
2. - BỆNH : Bệnh tật luôn luôn rình rập bên mình không phút giây lơi lỏng.
3. - CHẾT : Chết là luật chung của mọi người, ai rồi cũng phải chịu luật Vô thường không thể tránh khỏi.
4. - TẤT CẢ SỰ NGHIỆP ĐỀU VÔ THƯỜNG : Cái gì có tạo ra rồi cũng hoàn không, không ai giữ mãi tài sản được.
5. - MỖI NGƯỜI ĐỀU LÀ CHỦ TẠO NGHIỆPTRẢ NGHIỆP: không một ai có thể thay thế cho mình được./.
***˜
SI MÊ LÀ GỐC ĐAU KHỔ
Đêm dài với người thức
Đường dài với kẻ mệt
Luân hồi dài, với kẻ ngu
Không hiểu chân diệu pháp.
***
TAI HẠI CỦA NGŨ DỤC

Một hôm, Đức Phật kêu các thầy Tỳ Kheo nói :
-“Ví như trên núi tuyết, chỗ đất bằng người và thú qua lại. Có kẻ lấy nhựa cây gài bên thức ăn để nhử đàn khỉ. Một vài con khỉ vì tham ăn nên rời khỏi đàn tìm đến bên thức ăn lấy tay bốc. Ngờ đâu cánh tay vừa sờ vào liền bị nhựa dính cứng ! Chú khỉ bèn lấy tay kia gở ra, thương thay ! Lại dính luôn một tay nữa !. Chú khỉ lại lấy chân mặt quào ra, và một chân nữa lại dính luôn vào nhựa. Tiếp theo chân trái đồng dính cả. Khổ thay ! Chú khỉ chỉ còn cái mồm, chú hy vọng dùng mồm để cạp may ra thoát khỏi. Nhưng than ôi ! Nhựa cây kia cũng không chừa lại. Thế là hai tay, hai chân và cái mồm chú khỉ dính cứng vào nhựa cây. Thật đáng thương ! Người thợ bẫy kia có thể xách chú đi đâu thì cứ mà tùy ý”.
Nầy các Tỳ Kheo ! Nhựa cây kia ví như ngũ dục (tài, sắc, danh, thực và thùy), còn năm bộ phận (hai tay, hai chân và cái mồm) dính vào nhựa ví như năm căn (-Mắt dính sắc.-Tai dính thanh.-Mũi dính mùi.-Lưỡi dính vị.-Thân dính xúc).
Như chú khỉ kia, khi năm bộ phận dính cứng vào nhựa cây thì tùy ý người kia đem đi. Cũng vậy, người nào năm căn (mắt, tai, mũi, lưỡi và thân) dính cứng vào ngũ dục thì lúc bấy giờ tùy ý ma dẫn đi.
Tóm lại, vì không chịu ở nơi địa vức của mình nên mới bị nạn khổ !
Thế nào là ở nơi địa vức của mình ?
-Tức là quán “TỨ NIỆM XỨ”. Người thường quán “Tứ Niệm Xứ” thì sẽ không bị lôi, không bị dẫn. Cũng như chú khỉ kia nếu ở trong đàn thì không bị nạn./.
Ghi Chú : Tứ Niệm Xứ : 1.-Quán Thân Bất Tịnh. 2.-Quán Thọ Thị Khổ. 3.-Quán Tâm Vô Thường. 4.-Quán Pháp Vô Ngã (Các pháp không có thật thể hay chủ thể, vì do duyên hợp lại mà thành, khi duyên tan thì mất)./.

***
CHỈ MỘT CHỮ “TÂM”
Tâm là nguồn của mọi pháp lành.
Tâm là chủ của muôn công đức.
Niết Bàn thường vui do tâm mà ra.
Ba cõi lăn lóc cũng theo tâm mà dậy.
Tâm là cửa, là ngõ của đạo xuất thế.
Tâm là bến, là ải của đạo giải thoát.
Cửa ngỏ đã biết, há lo khó vào ?
Bến ải đã rõ, há ngại chẳng thông ?
***
TÂM TỨC Ý NIỆM

“Tâm tức Ý niệm’ là lời dạy của ĐỨC PHẬT”.
Hành giả thời nay nên lưu ý những câu hỏi dưới đây :
A.-Cái thân thể (tứ đại hay ngũ uẫn) tạo tác ra hành động, cử chỉ, ngôn ngữ… có phải do ‘Ý Niệm’ chỉ đạo không ?
B.-Nếu lìa bỏ ‘Ý Niệm’ cái thây ma (cái thân tứ đại, vật chất máu mủ nầy) có còn xử dụng được không ?
C.-Vì thiếu sự quán sát một cách miên mật những “Ý Niệm” của mình, nên người tu xưa nay khó mà được MINH TÂM KIẾN TÁNH cũng như không thể nào thấy biết được rằng, ở trong cái TÂM của mình (=Tâm Thể Vô Niệm, Chân Như, Chân Tâm, Phật Tánh hay Vũ Trụ Tri Giác, Tổng Cơ Quan Ao Bí Của Vũ Trụ) có chứa sẳn vô vàng vật báu !./.

***
Ý NIỆM & THÂN THỂ CÁI NÀO QUAN TRỌNG HƠN ?

Tôi từng hỏi một số đệ tử thuộc tầng lớp trí thức :”Theo anh, ‘Ý niệm’ là quan trọng hay thân thể quan trọng ?”
Anh đáp : “ Ý niệm quan trọng hơn”.
Tôi hỏi tiếp, tại sao ? Anh đáp : “Vì thân thể chỉ là công cụ của ‘Ý Niệm”. --- Tôi nói :
-“Hơn thế, Ý Niệm còn chính là tổng nguồn gốc của mọi thứ thấy nghe hiểu biết, cũng chính là động lực chính của Sanh, Già, Bệnh, Chết. Nó chứa đựng vô vàng vật báu giá trị liên thành. Nó đầy rẩy những ‘Thuốc Bất Tử’ mà cõi bồng lai tiên cảnh cũng còn thiếu…….. Tất cả, chỉ đợi chờ ‘NGƯỜI MẮT SÁNG” (Minh nhãn) lấy dùng mà thôi.
Câu trên, có lẽ thiết thực và cụ thể hơn câu nói chung chung :
NHỨT THIẾT DUY TÂM TẠO"


Re: ###Sách: Niệm Phật vãng sanh Tịnh Độ

Gửi bàiĐã gửi: Thứ 5 21 Tháng 4, 2016 11:09 am
gửi bởi thichthientri
6
TẠI NÓ HAY TẠI MÌNH ?

Hồi Đức PHẬT còn tại thế, có vị Tỳ Kheo đến thưa với Đức Phật :
-“Bạch Đức Thế Tôn ! Xin Đức THẾ TÔN cho phép con thiến (cắt bỏ bộ sinh dục) nó đi, thì con mới có thể tu hành được !”.
Đức PHẬT liền bảo :”Hãy xem cho kỹ lại coi tại nó hay tại mình ?”
Sau khi quan sát kỹ, vị Tỳ Kheo đến thưa với Đức PHẬT rằng :
- ‘Bạch Đức THẾ TÔN : -“Tại mình chớ không phải tại nó !”.
Đức PHẬT nói : “Sao không thiến mình, mà lại đòi thiến nó ! ”.
***`
T A M Đ Ộ C

Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi Tà kiến làsáu cái căn bản phiền não, nhưng đa phần trong bốn chúng Phật tử lại thấy Tham, SânSi nguy hiễm hơn hết, cho nên gọi chúng là Tam độc.
Sáu cái căn bản phiền não nói trên, nếu như sắp xếp lại cho đúng theo thứ tự từ gốc đến ngọn, thì phải nói : Si, Tham, Sân, Mạn, Nghi Tà kiến (hay ác kiến). Bởi vì, chữ Si có nghĩa là Ngu si hay Si Mê, và tên khác của Ngu si hay Si Mê là VÔ MINH. Và cũng chỉ vì Si Mê hay Vô Minh cho nên người ta mới tham, sân, mạn, nghi, và tà kiến, để rồiphải bị trầm luân trong biển khổ sanh tử từ vô thỉ cho đến ngày nay !
Đọc kinh sách Phật chúng ta thấy có nói rằng :”Nhứt niệm Tham, Sân khởi bá vạn chướng môn khai”. Có nghĩa là, một niệm Tham hay một niệm Sân khởi lên, thì trăm ngàn chướng nạn (tức là phiền não và khổ đau) sẽ hiện bày. Thế nên, chư vị Tổ Sư mớichỉ dạy cho những người tu phương pháp “Bố Thí” và phương pháp “Nhẫn nhục” để đối trị hai cái bệnh nầy.
Nhưng, trong kinh Pháp Bảo Đàn thì lại dạy như sau :
-”Bất phạ niệm Tham, Sân khởi mà chỉ phạ giác trì”. Nghĩa là, chẳng sợ những ý niệm Tham hay những ý niệm Sân khởi lên, mà chỉ sợ biết chậm mà thôi. Do đó, bốn chúng Phật tử đều y cứ vào lời dạy nêu trên để tu tập bằng cách Tỉnh Giác GIỮ CHÁNH NIỆM”, hay “CHĂN TRÂU” hoặc là tu tập để“Làm Chủ Cho Được Chính Mình”. Khi tu tập được thuần thục rồi, thì những người nầy sẽ không còn sợ những ý niệm Tham hay những ý niệm Sân hoặc những ý niệm Ac khởi lên nữa. Tại sao ?
Tại vì, những người nầy đã Chăn Con Trâu của mình (tức là coi chừng cái tâm điên đảo của mình) hết sức miên mật ở trong mọi hoàn cảnh và ở bất cứ nơi nào. Do đó, mỗi khi thấy những ý niệm Tham, Sân hay những ý niệm Ác vừa khởi lên, thì họ liền cắt đứt những ý niệm đó ngay, và nhất định không cho phép thân làm, miệng nói. Trái lại, mỗi khi họ thấy những ý niệm lành hay những ý niệm hợp với Đạo không có hại cho người và cho mình khởi lên thì họ lại để cho nó được tự do, đồng thời cho phép thân làm và miệng nói.
(Ghi chú : Nên xem bài Tỉnh Giác GIỮ CHÁNH NIỆM)
Thí như, có ai đó tu tập được như thế tức là người Chăn Trâu giỏi, và cũng là người đã làm chủ được chính mình. Thế là, người nầy sẽ có được sự an vui và hạnh phúc ở ngay tại cõi đời đầy dẫy khỗ đau nầy, và khi lâm chung nhất định người nầy sẽ được sanh về cõi Trời hay cõi Người, nếu như người nầy không tu cái Đạo Giải Thoát.
Còn những ai phát tâm tu cái Đạo Giải Thoát tức là tu để chấm dứt mọi nỗi khổ đau và phiền não ở trên cõi đời nầy hay tu để được “liễu sanh thoát tử” hoặc tu để thành Phật làm T, thì những người nầy đã xây đắp được nền móng vững chắc cho công việc tiến tu của mình rồi vậy.
Và lẽ dĩ nhiên, để cho công việc tu hành của mình có được kết quả tốt đúng như ý muốn, những người nầy nên biết rằng :
-Trong Vũ Trụ Tương Đối (=Vũ Trụ Cảm Giác=Vũ Trụ Vật Chất) có chia ra làm thành ba cõi : Dục Giới, Sắc Giới Vô Sắc Giới. Và tất cả những thấy biết mê lầm ở trong Tam Giới được gọi là “Kiến nhứt thiết trụ địa phiền não”.Và sau đây là những hiểu biết mê lầm của từng cõi :
-Dục Ai Trụ Địa Phiền Não : tức là tư tưởng hay hiểu biết mê lầm của Dục Giới, nặng nhất là cái lỗi “Tham Ái”, nên đề ra cái chánh để bao gồm tất cả những thứ phiền não khác.
-Sắc Ai Trụ Địa Phiền Não : tức tất cả những tư tưởng, hiểu biết mê lầm của Sắc Giới.
-Hữu ái Trụ Địa Phiền Não : tức tất cả những tư tưởng, hiểu biết mê lầm của Vô Sắc Giới. Vô Sắc Giới tuy không có sắc thân, nhưng còn chấp A LẠI DA THỨC làm Ngã (Ta). Mà hễ còn có Ngã (cái Ta), thì còn có ÁI, cho nên gọi là “Hữu Ái”.
*
Và cũng như chúng ta đã biết, chỉ vì SI (Vô Minh) cho nên mới có Tham, Sân, Mạn, NghiTà kiến (=ác kiến). Nhưng, chúng ta lại chưa biết chính SI hay VÔ MINH là “Cội Gốc Của Luân Hồi”. Bởi vì, Đức THẾ TÔN có dạy như sau :
Không có một pháp khác
Quần sanh bị bao phủ
Ngày đêm chạy luân chuyển
Như bao bọc bởi Si
Và ai phá được Si
Đâm thủng khối u ám
Chúng không lưu chuyển nữa.
Trong chúng, nhân không còn.
SI tức là VÔ MINH. Nhưng như thế nào là Vô Minh (avidyâ) ?
Trong kinh A HÀM, Đức Phật đã định nghĩa hai chữ Vô Minh như dưới đây :
1.-“Nếu chẳng biết tiền tế, chẳng biết hậu tế, chẳng biết cả tiền hậu tế; chẳng biết trong, chẳng biết ngoài, chẳng biết cả trong lẫn ngoài; chẳng biết nghiệp, chẳng biết báo; chẳng biết Phật, chẳng biết Pháp, chẳng biết Tăng; chẳng biết Khổ, chẳng biết Tập, chẳng biết Diệt, chẳng biết Đạo; chẳng biết nhân, chẳng biết pháp sanh khởi bởi nhân, chẳng biết thiện, bất thiện, có tội, không tội, tập, không tập; hoặc kém, hoặc hơn, nhiễm ô, hoặc thanh tịnh; phân biệt duyên khởi, tất cả điều chẳng biết; đối với sáu xúc nhập xứ không giác tri như thật, đối với các pháp nầy không thấy không biết, không hiện quán, bị si ám, không có minh, tối mù mịt, đó gọi là Vô Minh.
2.-“Không biết rõ TỨ DIỆU ĐẾ (=Tứ Thánh Đế) như thực là Vô Minh.
Nhưng, trong kinh VIÊN GIÁC, Đức Phật lại nói :
-Thấy thân ngũ uẫn và sáu trần (sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp) đều thật là Vô Minh.
GHI CHÚ :
A.-Những tên khác của Vô Minh là : Căn Bản Vô Thỉ Sanh Tử, Vô Minh Nguyên Thủy, Hoặc+Nghiệp+Khổ, Vô Minh Trụ Địa Phiền Não và Biến Dịch Sinh Tử (=cái chết của bậc Thánh).
B.-Tu Thiền (Thiền tông) là để thành Phật hay làm Tổ, nếu như người tu không biết rõ Vô Minh là cái gì, ở đâu và làm thế nào để tiêu diệt cho được nó, thì khó mà có hy vọng được mãn nguyện./.

***
KHỔ ĐAU NHIỀU HƠN HẠNH PHÚC

Một thời, Đức THẾ TÔN trú ở Sàvatthi, gọi các Tỳ Kheo dạy:
- Các ông nghĩ thế nào, nầy các Tỳ Kheo, cái gì là nhiều hơn? Nước mắt tuôn chảy do các ông than khóc lúc phải hội ngộ với những gì không "ưa" (oán tắng hội), phải chia ly với những gì mình “thích, khi lưu chuyển luân hồi trong thời gian dài hay nước trong bốn biển?
- Bạch Thế Tôn, theo lời Thế Tôn dạy, chúng con hiểu rằng, nhiều hơn là nước mắt tuôn chảy do chúng con than khóc lúc phải hội ngộ với những gì mình không ưa, phải chia ly với những gì mình thích, khi lưu chuyển Luân hồi trong thời gian dài chớ không phải nước trong bốn biển.
-Lành thay! Này các Tỳ Kheo, các ông đã hiểu pháp mà Ta đã dạy./.
(ĐTKVN, Tương Ưng Bộ II, chương 4, phẩm I,
phần nước mắt. VNCPHVN ấn hành, 1993, tr. 312)

***
CÓ THÂN LÀ CÓ KHỔ, KHÔNG THÂN THÌ CÓ LO GÌ !



Re: ###Sách: Niệm Phật vãng sanh Tịnh Độ

Gửi bàiĐã gửi: Thứ 6 22 Tháng 4, 2016 1:38 am
gửi bởi thichthientri
7
K I Ế T S Ử


Những thứ phiền não ràng buộc thân tâm để rồi kết thành quả khổ gọi là : “KIẾT”. Đeo đuổi và xúi giục chúng sanh không cho thoát ra khỏi sanh tử gọi là : “SỬ”.
A.-KIẾT gồm có 9 loại :
1.-Ái kiết : Say đắm cảnh ngũ dục không rời.
2.-Nhuế kiết : Giận dữ bất bình đối với nghịch cảnh.
3.-Mạn kiết : Kiêu căng ngạo nghể.
4.-Vô Minh kiết : Ngu si mờ ám đối với lẽ chơn chánh.
5.-Kiến kiết : Tà kiến không tin Nhân Quả.
6.-Thủ kiết : Vọng chấp sự hiểu biết không chơn chánh và giới pháp sai lầm, làm điều ác.
7.-Nghi kiết : Dụ dự không tin chơn lý, không tu hành theo hạnh chơn lý, và làm nhiều điều không chơn chánh.
8.-Tật kiết : Ghen ghét những bậc hiền đức.
9.-Xan kiết : Bỏn xẻn không chịu bố thí, lại làm nhiều điều ác.
*
B.-SỬ gồm có 10 món : 5 Độn Sử 5 Lợi Sử.
-5 Độn Sử : 1.-Tham Dục Sử. 2.-Sân Nhuế Sử. 3.-Vô Minh Sử.
4.-Mạn Sử. 5.-Nghi Sử.
-5 Lợi Sử : a)-Thân Kiến Sử. b)- Biên Kiến Sử c)-Tà Kiến Sử.
d)-Kiến Thủ Sử. đ)- Giới Thủ Sử.
CHÚ Ý : -1)-Độn Sử do sự đắm chấp mà có.
-2)-Lợi Sử do sự nhận thức sai lầm mà có./.
***
LỰA CHỖ Y CHỈ

Trong TĂNG CHI BỘ KINH, Đức Phật có dạy:
Người xuất gia phải lựa chỗ y chỉ và chỗ không nên y chỉ“.
1.- Ở chỗ nào mà những điều ác tăng trưởng, điều thiện tổn giảm, lại không đủ tứ sự cúng dường (cơm ăn, áo mặc, giường chỏng, thuốc thang), Phật nói : nên đi, khỏi thưa với thầy trụ trì (=viện chủ).
2.-Ở chỗ nào mà điều ác tăng trưởng, điều thiện tổn giảm, dù có đầy đủ tứ sự cúng dường, cũng nên đi, khỏi thưa với thầy trụ trì.
3.-Ở chỗ nào mà những điều ác tổn giảm, điều thiện tăng trưởng, dù thiếu bốn sự cúng dường vẫn kiên nhẫn ở tu học.
4.-Ở chỗ nào ma những điều ác tổn giảm, điều thiện tăng trưởng và được tứ sự cúng dường đầy đủ, dù có bị đuổi cũng cố gắng xin ở lại để tiếp tục việc tu học./.
***–
TỔN THẤT LỚN NHẤT

Một thời Đức Thế Tôn trú ở Vesàli, tại Đại Lâm, dạy các Tỳ Kheo :
- “Nầy các Tỳ Kheo, có năm điều tổn thất này. Thế nào là năm?
- Tổn thất bà con, tổn thất tài sản, tổn thất vì bệnh tật, tổn thất giới và tổn thất tri kiến. Nầy các Tỳ Kheo, không do tổn thất bà con, không do tổn thất tài sản, không do nhân tổn thất vì bệnh tật mà các loài hữu tình sau khi mạng chung sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Nầy các Tỳ Kheo, chính do nhân tổn thất giới, tổn thất tri kiến mà các loài hữu tình sau khi mạng chung sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
Nầy các Tỳ Kheo, có năm tổn thất nầy./.
***–
CỘI GỐC CỦA LUÂN HỒI

Không có một pháp khác

Quần sinh bị bao phủ

Ngày đêm chạy luân chuyển

Như bao bọc bới Si

Và ai phá được Si

Đâm thủng khối u ám

Chúng không lưu chuyển nữa

Trong chúng nhân không còn.

***
Bận gấp tính toan, hết khổ đâu,
Đói no lạnh ấm, tạm xuân thu.
Chiều chiều, sáng sáng, lo cơm áo,
Tỉnh tỉnh, mơ mơ, bạc trắng đầu.
Bao chuyện thị phi, luôn dính mắc,
Những điều phiền não, cứ đeo sâu !
Đường tu sáng rỡ, bày ra đấy,
Ngàn vạn chúng sinh, sao chẳng mau…!!! ?
(Ghi Chú : Bài thơ nầy do vị Trạng Nguyên họ La triều nhà Minh làm ra, tuy chỉ có mấy câu đơn sơ, mà nói được nhiều trạng thái đời người khá đủ. Đó là hồi trống chiều, chuông sáng để nhắc nhỡ chúng sinh. Nhất là hai câu sau, con đường tu bằng phẳng rõ ràng, tại sao muôn muôn ngàn ngàn người lại chẳng chịu tu !? )./.
*
ĐÊM NẰM ÔM GỐI MỘNG MƠ
SÁNG RA NẤU ĐẬU NHƯ XƯA KHÁC GÌ !?
***
CỘI NGUỒN CỦA KHỔ ĐAU

Một thời, Đức Phật trú ở Sàvatthi, tại Đông Viên, Lộc Mẫu giảng đường. Lúc bấy giờ, người cháu trai của VISÀKHÀ bị mệnh chung. Và VISÀKHÀ với áo đẫm ướt, tóc đẫm ướt, vào buổi sáng sớm đi đến đảnh lễ Đức Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên.
Thế Tôn nói với Visàkhà: - “Nầy Visàkhà, bà từ đâu đến, với áo và tóc đẫm ướt, đi đến đây quá sớm vậy ?”
- “Bạch Thế Tôn, đứa cháu khả ái và dễ thương của con đã mệnh chung. Cho nên con với áo và tóc đẫm ướt, đi đến đây vào sáng sớm như vậy”.
- “Nầy Visàkhà, bà có muốn tất cả người ở Sàvatthi nầy là con và là cháu của bà không ?”
- “Bạch Thế Tôn, con muốn tất cả người ở Sàvatthi nầy là con và là cháu của con”.
- “Nhưng nầy Visàkhà, có bao nhiêu người ở Sàvatthi mạng chung (chết hay từ trần) hằng ngày ?”.
- “Bạch Thế Tôn, có 10 người ở Sàvatthi mạng chung hằng ngày. Cho đến có một người ở Savatthi mạng chung hàng ngày. Bạch Thế Tôn, ở Sàvatthi không có thoát được số người bị chết”.
- “Bà nghĩ thế nào, này Visàkhà ? Như vậy, bà có khi nào được khô vải và tóc không bị ướt không ?”.
- “Thưa không, bạch Thế Tôn ! Thật là vừa đủ cho con, số nhiều như vậy về con và về cháu.
- “Nầy Visàkhà, những ai có một trăm người thân yêu, những người ấy có 100 sự đau khổ. Cho đến những ai có một người thân yêu, những người ấy có một sự đau khổ. Những ai không có người thân yêu những người ấy không có sự đau khổ. Ta nói rằng họ là người không sầu, không tham đắm và không có ưu não”./.
(ĐTKVN, phẩm Pàtaligàmiya)
***
L Ư Ớ I Á I

Trong TĂNG CHI BỘ KINH, Đức Phật có dạy :
-Nam nhân bị nữ nhân trói buộc bởi 8 điều kiện :
1.-Nhan sắc. 2.-Tiếng cười. 3.-Tiếng nói. 4.-Giọng ca.
5.-Nước mắt. 6.-Quần áo. 7.-Vật tặng. 8.-Xúc chạm.
Trái lại, nữ nhân bị nam nhân trói buộc cũng thế !


Re: ###Sách: Niệm Phật vãng sanh Tịnh Độ

Gửi bàiĐã gửi: Thứ 6 22 Tháng 4, 2016 4:14 am
gửi bởi thichthientri
8
TÍN HẠNH NGUYỆN

***˜
I.-LUẬN VỀ ĐỨC TIN
Tín có nghĩa là tin, đại lược như, tin các chơn thiệt nghĩa của Phật dạy, tin Tam Bảo chuyển mê khai ngộ, tin luật nhân quả chí công, tin Chánh đạo cảm ứng mầu nhiệm, tin công đức tu hành sáng suốt của mình, tin nguyện lực hoằng thâm của Chư PhậtBồ Tát, tin nhứt tâm tịnh niệm hồng danh Đức Phật A Di Đà thì chắc tự tại an lạc.
***
II.-LUẬN VỀ ĐỨC HẠNH
Thiết tưởng ! Làm người dù giàu sang tột bậc, dầu học giỏi cực điểm mà không có Hạnh cũng thất nhân tâm. Vã chăng người vô Hạnh thường chìu theo dục vọng, không tự chủ được mình, nặng lòng tự ái, trầm trọng bệnh “chấp ngã”,hànhđộng lợi kỹ tổn nhân gây ra vô số nghiệp chướng phiền não.
Vậy Phật tử có bổn phận xây dựng đức Hạnh, đại lược :
Thường nhựt, Phật tử phải chuyên cần công phu tu tập do các bậc Thanh Tịnh Tăng truyền dạy, như Giữ giới, trì trai, sám hối, lễ bái, cúng dường, tụng kinh, tri chú, Tọa thiền, quán tưởng và Niệm Phật v. v…
Suốt đời, Phật tử phải biết điều chế ba nghiệp : Thân, Khẩu Ý. Thân không làm điều dữ mà chuyên làm điều lành, khẩu (miệng không nói lời dữ mà chuyên nói lời lành, ý không tưởng dữ mà chuyên tưởng lành. Làm, NóiTưởng đều theo gương “trọn lành” của Chư Phật thật hành.
Trong sự sanh họat, phải kiện tòan hai đức tánh thiểu ( ít muốn) và “tri túc” (biết đủ) dầu nghèo cũng an tâm, quí hơn kẻ đa dục và bất tri túc (chẳng biết đủ) dầu giàu sang cũng khổ tâm.
Phật tử phải ngăn ngừa các tật xấu làm tổn bình sanh chi đức, như : cống cao ngã mạn, tự phụ kiêu căng, khinh người ngạo vật, mục hạ vô nhân.
Phật tử phải siêng làm các việc phước đức khế hiệp với luật Nhân Quả như: hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự Sư Trưởng, cúng dường Tam Bảo, thuyết pháp tạo tự, ấn tống kinh tượng, bố thí phóng sanh, tu kiều bối lộ, cứu kẻ lâm nguy; tóm tắt lại, Phật tử luôn luôn phải nương theo tôn chỉ Từ Bi mà xử thế, lúc nào cũng khiêm tốn ôn hòa, giữ lấy đức “Nhân” làm căn bổn vì Nhân là giềng mối phát huy các đức tính : hiếu, để, trung, thứ, tín, mục, liêm, tiết, thành, kỉnh, khiêm, cung, v. v….; giữ tròn đức “Nhân” tức là đề cao nhân vị, tương xứng nhân phẩm, sáng suốt cả hai phương diện cá thể và xã hội, sẳn sàng độ lượng quảng đại vị tha, tùy khã năng và cơ duyên giúp đời tiến hóa lành mạnh.
***˜
III.-LUẬN VỀ ĐỨC NGUYỆN
Nguyện sám hối tam nghiệp tội, nguyện dứt điều dữ, năng làm việc lành, trau dồi tâm sạch, nguyện cầu học Chánh pháp, cầu tu Chánh đạo, không hề thối chuyển, nguyện quy y Phật Pháp Tăng giữ một lòng thủy chung như nhứt, y giáo phụng hành, nguyện thành tâm niệm Phật A Di Đà, nương nhờ Phật-lực bảo hộ cho tu hành, nguyện khi lâm chung, dụ tri thời chí, thân vô bệnh khổ, tâm không tham luyến, ý bất điên đảo như nhập Thiền định, nguyện sanh Cực Lạc, nguyện thành Chánh Giác, cứu độ chúng sanh cũng như Chư Phật, đó là Chánh nguyện./.__MCE_ITEM__§
***
B I Ế T P H Á P

Trong Tương Ưng Bộ Kinh, Đức Phật có dạy như sau :
- Có ba hạng người biết Pháp :
1. - Biết vị ngọt. 2. - Biết nguy hại. 3. - Biết xuất ly.
Thế nào là Biết vị ngọt ?
- Tức là ám chỉ người Si mê chạy theo 6 trần (sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp) sanh tâm tham ái nhiễm trước, đắm chìm trong ngũ dục (tài, sắc, danh, thực thùy).
-Thế nào là Biết nguy hại ?
- Tức là biết rõ mọi sự vật (các pháp) là vô thường biến diệt, là pháp đưa đến khổ đau và bất hạnh.
-Thế nào là Biết xuất ly ?
- Tức là biết rõ các pháp vô thường biến hoại đưa đến khổ đau không phải pháp chân thật an lạc nên cầu xuất ly ra khỏi sanh tử luân hồi./.
***

BỐN THỨ MA

1.- PHIỀN NÃO MA : Tham, Sân, Si hay làm não hại thân tâm.
2.- ẤM MA : Sắc, Thọ, Tưởng, Hành Thức là 5 ấm thường sanh ra các phiền não.
3.- TỬ MA : Chết hoặc đọan tuyệt mạng căn của người.
4.- THIÊN MA : Ma Vương ở trên từng Trời thứ 6 (Tha Hóa Tự Tại) của Dục Giới, hay làm hại mất việc phúc thiện của người đời./.
***
NHỨT THIẾT DUY TÂM TẠO
***–
KINH TÌNH THƯƠNG

Đức Phật dạy rằng : Những ai muốn đạt tới an lạc thường nên học hạnh thẳng thắn, khiêm cung, biết sử dụng ngôn ngữ từ ái. Những kẻ ấy biết sống đơn giản mà hạnh phúc, nếp sống từ hòa, điềm đạm, ít ham muốn, không đua đòi theo đám đông. Những kẻ ấy sẽ không làm bất cứ điều gì để các bậc thức giả có thể chê cười.
Và đây là điều mà họ luôn luôn tâm niệm :
- Nguyện cho mọi người và mọi loài được sống an toàn và hạnh phúc, tâm tư hiền hậu và thảnh thơi.
- Nguyện cho tất cả loài sinh vật trên trái đất đều được sống an lành; những loài yếu, những loài mạnh, những loài cao, những loài thấp, những loài lớn, những loài nhỏ, những loài ta có thể nhìn thấy, những loài ở gần, những loài ở xa, những loài đã sinh và những loài sắp sinh.
- Nguyện cho đừng loài nào sát hại loài nào, đừng ai coi nhẹ tính mạng của ai, đừng có ai vì gì giận hờn hoặc ác tâm mà mong cho ai bị đau khổ và khốn đốn.
Như một bà mẹ đang đem thân mạng mình che chở cho đứa con duy nhất, chúng ta hãy đem lòng từ bi mà đối xử với tất cả mọi loài.
Ta hãy đem lòng từ bi không giới hạn của ta mà bao trùm cả thế gian và muốn loài, từ trên xuống dưới, từ trái sang phải. Lòng từ bi không bị bất cứ gì làm ngăn cách, tâm ta không còn vương vấn chút hờn oán hoặc căm thù. Bất cứ lúc nào, khi đi, khi đứng, khi ngồi, khi nằm, miễn là còn thức, ta nguyện duy trì trong ta Chánh Niệm từ bi. Nếp sống Từ Bi là nếp sống cao đẹp nhất. Không lạc vào tà kiến, loại dần ham muốn, sống nếp sống lành mạnh và đạt thành Tri Giác, hành giả sẽ chắc chắn vượt khỏi tử sinh./.
***
NẮM LÁ TRONG BÀN TAY

Một thời, Đức Thế Tôn trú ở Kosambi, tại rừng Simsapà. Đức Thế Tôn lấy tay nhặt lên một ít lá Simsapa, rồi bảo các Tỳ Kheo :
- Các ông nghĩ thế nào, nầy các Tỳ Kheo, cái gì là nhiều hơn, một ít lá Simsapà mà Ta nắm lấy trong tay hay lá trong rừng Simsapà ?
- Thật quá ít, bạch Thế Tôn, một ít lá SimsapàThế Tôn nắm lấy trong tay và thật là quá nhiều, lá trong rừng Simsapà.
- Cũng vậy, nầy các Tỳ Kheo, thật là quá nhiều, những gì Ta đã thắng tri (hiểu biết rất rõ) mà không nói cho các ông ! Thật là quá ít những gì Ta đã nói ra!./.