Diễn đàn Tu viện Phật giáo Việt nam


###Sách: Niệm Phật vãng sanh Tịnh Độ

Thảo luận kinh điển Tịnh.

Các điều hành viên: Sen Hong, Bất Nhị, Phattutaigia

Re: ###Sách: Niệm Phật vãng sanh Tịnh Độ

Gửi bàigửi bởi thichthientri » Thứ 7 23 Tháng 4, 2016 10:45 am

9

"TỈNH GIÁC ‘GIỮ CHÁNH NIỆM"

Tỉnh Giác Giữ Chánh Niệm” là pháp tu để cho Thân, KhẩuÝ của người tu được thanh tịnh. Do đó, những ai phát tâm tu để khi lâm chung được Vãng Sanh về Tịnh Độ của Đức PHẬT A DI ĐÀ, hoặc tu để được đại tự tại và giải thóat lớn (=thành Phật làm Tổ) cũng đều phải tu pháp nầy cho có kết quả thật tốt, thì lúc bấy giờ mới có hy vọng được mãn nguyện.
Ngày xưa, Sư HUỆ TẠNG (Thạch Cũng) đang ngồi rửa rau ở nhà trù, Thiền Sư MÃ TỔ (Đạo Nhất) đi đến thấy vậy, hỏi : -”Con đang làm gì đó ?”
thưa : “Bạch Hòa Thượng,! con đang “Chăn Trâu”.
MÃ TỔ hỏi : “-Con chăn thế nào?”.
- thưa :”Trâu vừa đưa mõm để ăn lúa mạ của người, con liền nắm vàm (mũi) kéo lại”.
MÃ TỒ (Đạo Nhất) khen :”Con chăn trâu giỏi”.
*
Thời nay, nếu ai muốn tu tập “Tỉnh Giác Giữ Chánh Niệm” có kết quả tốt, nên biết rằng : Chữ NIỆM có hai ý nghĩa khác nhau. Nếu như chữ “Niệm” là một danh tự, thì nó có nghĩa là : tư tưởng, (một) ý niệm, ý nghĩ (tà, chánh hay vô ký)… Còn chữ “Niệm” là một động từ, thì nó có nghĩa là : ức, nhớgiữ gìn. Thí như : Niệm Phật, Niệm Pháp, Niệm Tăng và Niệm công đức cha mẹ…
Thế nên, hai chữ “Chánh Niệm” nói ở đây có nghĩa là những ý niệm lành, ý nghĩ tốt hay là những tư tưởng chơn chánh hợp với Đạo. Trái ngược với Chánh NiệmTà Niệm. Tà niệm là những niệm dữ, niệm ác, ý nghĩ xấu như những ý niệm Tham, Sân, Si …….hoặc là những tư tưởng, quan niệm không chơn chánh không hợp với Đạo.
Phật tử nào cũng biết, ở trong nhà Phật có nêu ra 10 điều ác của Thân, Khẩu (miệng) và Ý như sau :
-Ba nghiệp của Thân : Sát sanh, Trộm cướp và Tà dâm.
-Bốn nghiệp của Miệng : 1.-Vọng ng (nói láo), 2.-Nói hai lưỡi (nói đâm thọc), 3.-Nói lời ác. 4.-Nói thêu dệt hay ỷ ng.
-Ba nghiệp của Ý : Tham, Sân và Si.
Trái ngược với 10 điều ác là 10 điều lành : Không sát sanh, Không trộm cắp, Không tà dâm, Không vọng ng, Không nói đâm thọc, Không nói lời ác hay thêu dệt và Không Si, tham, sân.
Là con cháu nhà họ THÍCH hay là một Phật tử thuần thành nhất định không bao giờ để phạm phải 10 điều ác, mà chỉ chuyên làm những việc lành
để đem lại an vui và hạnh phúc cho người và cho mình, như : phóng sanh, bố thí, chung thủy, nói thực, nói lời hòa hợp, nói lời hòa ái, cúng dường, nhẫn nhục và không si……..có phải vậy không ?
Tuy nhiên, để làm cho được những công việc nầy cho có kết quả thật tốt (100%) không phải dễ dàng như lấy đồ trong túi đâu. Mà cần phải biết cách thức (hay kỹ thuật) tu tập “Tĩnh giác GIỮ CHÁNH NIỆM” hay “CHĂN CON TRÂU” của mình cho thật miên mật, thì lúc bấy giờ mới có hy vọng thành công. Thế nên, người tu ở vào thời buổi hiện nay nên biết rằng :
1.-Nguyên tắc tu là hướng nội (nhập lưu). Nhờ có hướng nội, nên người tu mới có thể thấy biết được những ý niệm ở trong tâm như : tham, sân, tà, chánh hay vô ký….. dấy khởi lên ở chỗ nào trong cái thân ngũ uẫn nầy, để mà tu, có phải vậy không ?
2.-Những ý niệm lành, dữ, thiện, ác; ý nghĩ nầy tư tưởng nọ, hoặc những ý niệm tham, sân, Si ……. dấy khởi lên đó đều xuất phát từ nơi cái Ý (ý căn) hay cái Tâm.
Ở trong kinh có nói : “Nhứt thiết duy tâm tạo” (=Tất cả đều do tâm tạo). Cho nên, cái Ý (căn) là cái gốc và cũng là đầu mối tạo nên những nghiệp lành, nghiệp dữ hoặc không lành không dữ (vô ký)……Do đó, chúng ta mới nói nó là kẻ chỉ huy và cũng là thủ phạm, còn cái Thân và cái Miệng chỉ là kẻ bị sai khiến bởi cái Ý, nên cả hai chỉ là tòng phạm mà thôi.
3.-Công cụ dùng để tu tập “Giữ Chánh Niệm” là sự “Tỉnh Giác” hay sự “Tỉnh Thức” thường trực. Nghĩa là, lúc nào người tu cũng phải “Tỉnh thức”, chớ không phải có lúc “Tỉnh thức”, có lúc mê muội (không tỉnh thức).
Nếu người tu không có được sự tỉnh giác hay sự tỉnh thức ở mọi lúc, mọi nơi, và trong mọi hoàn cảnh, thì khi những Ý niệm tham, sân, tà hay chánh, lành hay dữ khởi lên trong tâm, thử hỏi làm sao biết được để mà xử lý cho kịp lúc chứ !? Do vậy cho nên ở trong Kinh có dạy rằng : “Bất phạ niệm khởi, chỉ phạ giác trì” (=Chẳng sợ niệm khởi, chỉ sợ biết chậm” .
(Lưu ý : Cái giỏi hay cái dở của người tu nằm tại chỗ nầy !)
Nói tóm lại, muốn xây cất một ngôi nhà lầu to lớn, người ta phải làm nền (móng) của ngôi nhà đó cho thật vững chắc. Cũng vậy, những ai muốn chuyển phàm thành Thánh hay muốn được Vãng Sanh về Tịnh Độ của Đức PHẬT A DI ĐÀ, đều phải tu tập ‘Tĩnh Giác GIỮ CHANH NIỆM’ hay ‘Chăn Con Trâu’ của mình cho thật miên mậtđể cho : Thân, KhẩuÝ được thanh tịnh, thì lúc bấy giờ mới có hy vọng được mãn nguyện./.
*
TÌNH SANH TRÍ CÁCH, TƯỞNG DẤY THỂ THÙ
***
PHÁP MÔN NIỆM PHẬT

Pháp Môn NIỆM PHẬT là pháp tu của Tông TỊNH ĐỘ và được y cứ nơi Kinh VÔ LƯỢNG THỌ PHẬT như sau :
“Trong cung vua TẦN BÀ SA LA (Bimbisara) xảy ra biến cố. Vị vua thương dân như con mình lại bị chính đứa con ruột của mình là A XÀ THẾ (Ajatasattu) bắt giam vào ngục tối, bỏ đói cho chết. Hoàng Hậu VIDEHI (mẹ của A Xà Thế) không biết phải làm cách nào để giải cứu nhà vua và hai vị quan đại thần. Do đó, bà vô cùng buồn chán cho cõi đời ô trược đầy ác độc khổ đau nầy, và cũng không còn muốn sống ở cái thế giới TA BÀ nầy nữa. Bà liền thỉnh cầu Đức Phật chỉ dạy cho bà cách thức tu hành. Đức Phật liền dùng thần thông giúp bà nhìn thấy nhiều cõi nước của các Đức Phật khác rất trang nghiêm, đẹp đẽ để cho bà tùy ý lựa chọn. Cuối cùng, bà chọn Thế Giới Cực Lạc ở Phương Tây của ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ, cách xa mười muôn tám ngàn cõi nước khác. Đức Phật dạy bà niệm thánh hiệu của PHẬT A DI ĐÀ một cách miên mật, để được Vãng Sanh về cõi đó, kết quả là bà được như ý muốn !
Đại Sư HUỆ VIỄN (334-416) ở triều đại Đông Tấn (Trung Quốc) xem thấy kinh nầy mừng còn hơn được vật báu, liền lập ra hội Niệm Phật tên là “BẠCH LIÊN XẢ”. Đây là cơ sở đầu tiên để phát triển thành Tông Tịnh Độ sau nầy, và gồm có bốn chi :
1.-Chi của Ngài HUỆ VIỄN, thì chú trọng vào việc: “Quán Tưởng Niệm Phật”.

2.-Chi của Ngài ĐÀM LOAN, thì chú trọng vào việc: “Tín Tâm Niệm Phật”.

3.-Chi của Ngài THIỆN ĐẠO (613-681 đời Tùy), thì chú trọng vào việc “Khẩu Xưng Niệm Phật”.

4.-Chi của Ngài TỪ MẪN, thì chú trọng vào việc “Thiện Căn Niệm Phật”.

***
KINH NHÂN QUẢ :

Muốn biết nhân đời trước nên nghiệm xét quả đời nầy; muốn biết quả đời sau, nên nghiệm xét nhân hiện tại.
***
KINH PHÁP CÚ :

Phi chơn tưởng là chân thật, chân thật lại thấy là phi chơn. Cứ tư duy môt cách đúng đắn, người như thế mau đạt đến chân thật.
*
thichthientri
Cảm ơn, Thành viên Moderator (Xin thông báo BQT)
 
Bài viết: 157
Ngày tham gia: Thứ 2 09 Tháng 4, 2012 2:17 am

Re: ###Sách: Niệm Phật vãng sanh Tịnh Độ

Gửi bàigửi bởi thichthientri » Chủ nhật 24 Tháng 4, 2016 11:00 am

10

PHƯƠNG PHÁP NIỆM PHẬT


NHẤT TÂM BẤT LỌAN’

Thời nay, đa phần Phật tử ở xứ mình (VN) đều muốn được Vãng Sanh về Tịnh Độ của Đức PHẬT A DI ĐÀ, nên “Dùng Miệng Niệm Phật” theo chi của Thiện Đạo lưu truyền, vì phương pháp nầy rất đơn giản, dễ tu. Nhưng, theo chỗ thấy biết của chúng tôi, thì những người tu nầy khó mà có hy vọng được toại nguyện. Vì cớ sao ?
Vì trong kinh Tiểu Bổn A Di Đà, Đức THẾ TÔN có kêu Ngài XÁ LỢI PHẤT dạy như sau :
-“Nếu muốn được Vãng Sanh về Tịnh Độ của Đức PHẬT A DI ĐÀ,
người tu phải hội đủ ba điều kiện dưới đây :
1.-Phước đức căn lành phải lớn (Nguyên văn trong kinh :-“Bất khã dĩ thiểu thiện căn, phước đức, nhân duyên đắc sanh bỉ quốc).
2.-Niệm hồng danh của Đức PHẬT A DI ĐÀ cho được “NHẤT TÂM BẤT LOẠN” từ một ngày cho tới bảy ngày.
(Nguyên văn trong Kinh :“Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân văn thuyết A DI ĐÀ PHẬT, chấp trì danh hiệu, nhược nhứt nhựt, nhược nhị nhật, nhược tam nhựt, nhược tứ nhựt, nhược ngũ nhựt, nhược lục nhựt, nhược thất nhựt “Nhất Tâm Bất Loạn”.
3.-Khi sắp lâm chung “tâm không loạn động” (=bất điên đảo). (Nguyên văn : Kỳ nhân lâm mạng chung thời A DI ĐÀ PHẬT dữ chư Thánh chúng hiện tại kỳ tiền, thị nhân chung thời tâm bất điên đảo tức đắc Vãng Sanh A DI ĐÀ PHẬT Cực Lạc Quốc Độ).
Qua những lời dạy nêu trên của Đức TỪ PHỤ, những ai tu theo TỊNH ĐỘ (Pháp Môn Niệm Phật) ở vào thời buổi hiện nay thấy thế nào ?
Có phải chăng, để được Vãng Sanh về TỊNH ĐỘ của Đức PHẬT A DI ĐÀ, người tu phải đáp ứng cho kỳ được ba điều kiện nêu trên, thì khi lâm chung Đức PHẬT A DI ĐÀThánh Chúng mới có thể tiếp dẫn về Tây Phương Cực Lạc Thế Giới ?
Giờ đây, chúng ta có thể nói, với điều kiện thứ nhứt :“Phước đức và căn lành phải lớn”, người tu nào cũng có, bằng cớ là : có được thân ngườiđã đến được với Phật Đạo. Nhưng, với điều kiện thứ hai :“Niệm Phật cho được “Nhất Tâm Bất Loạntừ một ngày cho tới bảy ngày”, thì chắc khó mà tìm cho ra năm ba người làm được cái công việc nầy !? Vì cớ sao ?
Vì thời nay, ít có ai (người) quan tâm và để ý đến ba sự việc hết sức quan trọng dưới đây trong việc tu hành :
1.-Trong Kinh có nói :“Lìa tâm mà cầu Phật là ngoại đạo”.
(Chú ý : Hai chữ ngoại đạo ở đây có nghĩa là con đường nhỏ hẹp, quanh co, khúc khuỷu, và có rất nhiều chướng ngại vật rất khó đi. Chớ không phải để chỉ cho các Tôn giáo khác)
Thế nên, nếu ai dùng miệng để Niệm Phật thì nên biết rằng người nầy đã lìa tâm mà tu rồi ! Nói cách khác, là người nầy đã “gãi ngứa ngoài giày” hay là “đau Nam mà chữa Bắc” !.
2.-TRI GIÁC (=sự hiểu biết) của chúng ta gồm có hai phần :
-Kiến Phần (năng kiến) và Tướng Phần (sở kiến).
a)-Sự Chú ý của người tu là Kiến Phần.
b).-Điểm Niệm Phật (=chỗ mà 4 chữ A DI ĐÀ PHẬT khởi lên một cách đều đều ở trong tâm, khi hành giả mặc niệm) là Tướng Phần.
3.- Ở trong kinh DI GIÁO, Đức Phật có dạy rằng :“Cột tâm một chỗ việc gì cũng xong“(=Chế tâm nhứt xứ vô sự bất biện).
Do vậy cho nên, người tu chúng ta phải cột ở trong Tâm, chớ không thể cột ở bên ngòai được, vì cột ở bên ngòai là lìa tâm mà tu !.
Nói tóm lại, nếu muốn NIỆM PHẬT cho được ‘NHẤT TÂM BẤT LỌAN’, để khi lâm chung tâm không bị lọan động (=điên đảo) và được Vãng Sanh về Tịnh Độ của Đức PHẬT DI ĐÀ, người tu Pháp môn NIỆM PHẬT nên dụng công hay tu tập như sau :
*
PHƯƠNG PHÁP TU :

1).-Ngồi kiết già hay bán già hoặc xếp bằng. Nếu là người già hay người có chút bệnh có thể ngồi trên ghế cũng được.
2).-Hai mắt nhăm kín lại (vừa khít thôi), vì nhăm mắt mới thấy được tâm, còn mở mắt là cảnh.
3.-Không Quán Tưởng, vì quán tưởng sẽ sinh huyễn giác.
4.-Không nhớ đến PhậtBồ Tát.
5.-Không lần chuổi, vì lìa tâm mà tu.
6.-Trong tâm liên tục Mặc Niệm (=niệm thầm ở trong tâm) 4 chữ A DI ĐÀ PHẬT liên tục (không gấp không huởn) mỗi chữ khỏang chừng một giây đồng hồ.
(Lưu ý : a).-Mặc Niệm 6 chữ : NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT cũng được, nhưng vẫn không bằng Mặc Niệm 4 chữ. Vì việc nầy thuộc về kỹ thuật.
b).-Nếu Mặc Niệm nhanh, sưc hấp dẫn sẽ yếu, không thể hấp thu tòan bộ những tàn tích Vọng tưởng Tạp niệm còn nằm sâu trong Tâm linh. Còn Mặc Niệm chậm quá, thì Vọng tưởng Tạp niệm dễ xen vào.
7.-Trong khi Mặc Niệm 4 chữ A DI ĐÀ PHẬT, người tu dùng con mắt
tâm (tâm nhãn) quan sát trong thân tâm (từ hai xuống tới rốn) cho thật kỹ để xem coi 4 chữ A DI ĐÀ PHẬT khởi lên ở chỗ nào ? Khi nước tâm (tâm thủy) lóng trong, thì người tu sẽ thấy được ĐIỂM NIỆM PHẬT.
Lưu ý : a).- Chỗ mà 4 chữ A DI ĐÀ PHẬT khởi lên đều đều, chỗ đó chính là ĐIỂM NIỆM PHẬT.
b).-Nếu người tu Mặc Niệm vài ba câu rồi ngưng lại để tìm Điểm Niệm Phật, thì không thể nào tìm thấy được, vì Điểm Niệm Phật đã tan mất rồi. Do đó, phải vừa Mặc Niệm vừa tìm, thì mới có thể thấy được.
c)-Nếu Mặc Niệm nhanh, sức hấp dẫn sẽ yếu, không thể hấp thu tòan bộ tàn tích tạp niệm còn nằm sâu trong tâm linh. Còn Mặc Niệm chậm quá, thì ‘Vọng tưởng Tạp niệm’ hay những thứ ‘nghĩ bậy tưởng bạ’ dễ xen vào.
d)-Với Pháp Tu nầy. có người chỉ cần dụng công 5 phút là thấy được Điểm Niệm Phật. Nhưng cũng có người phải dụng công cả tuần lễ mới có thể thấy được.
8.-Khi tìm thấy được “Điểm Niệm Phật” ở chỗ nào rồi, người tu cứ Mặc Niệm 4 chữ A DI ĐÀ PHÂT liên tục, đồng thời tập trung sự Chú ý (con mắt tâm) nhìn thẳng ngay vào Điểm Niệm Phật giống như con mèo rình chuột, không được để lơi lỏng.
9.-Trong khi hạ thủ công phu (=vừa Mặc niệm vừa Chú ý, vừa Chú ý
vừa Mặc niệm), nếu thấy (=phát hiện) ở trong Tâm của mình còn có nghĩ nhớ đến việc nầy hoặc nghĩ tưởng đến việc nọ v. v… tức là Vọng tưởng Tạp niệm đã xen vào, thế là chưa được ‘Nhất Tâm Bất Lọan’.
Để được “Nhất Tâm Bất Loạn”, người tu phải vừa Mặc Niệm vừa vận dụng sự Chú ý cho thật tốt, nghĩa là phải Chú ý cho thật kỷ và mạnh hơn một tí thôi, rồi một tí nữa, giống như siết người bù lon từ răng một vậy (cái khéo của người tu nằm tại chỗ nầy) cho đến khi nào thấy không còn có một ý niệm nào khởi lên hoặc là xẹt ra xẹt vào nữa, chỉ còn lại có 4 chữ A Di Đà Phật mà thôi. Thế là, người tu đã Niệm Phật được “Nhất Tâm Bất Loạn” rồi vậy.
(Chú ý : Đừng Chú ý mạnh quá, khi nghỉ dụng công sẽ thấy đau đầu).
*
10.- Và tiếp theo đây là cách thức Niệm Phật để được “Nhất Tâm Bất Loạn” dành cho những người lợi căn, nghĩa là những người hội đủ 3 sức : Sức Chú Ý, Sức Ghi NhớSức Lý Giải.
-Trong khi hành giả vừa Mặc Niệm vừa Chú ý, vừa Chú ý vừa Mặc Niệm 4 chữ A DI ĐÀ PHẬT, nếu thấy có “Vọng tưởng Tạp niệm” hay những thứ ‘nghĩ bậy tưởng bạ’ xẹt vô xẹt ra, người tu liền vận dụng hai phần Kiến (Kiến Phần là sự Chú ý) và phần Tướng (Tướng PhầnĐiểm Niệm Phật) cho cân nhau thì sẽ được ĐịnhTuệ (=Huệ)
Khi đã được ĐịnhTuệ, thì lúc bấy giờ không có một ý niệm nào có thể xẹt vô xẹt ra được nữa. Thế là, người tu nầy đã Niệm Phật được “Nhất Tâm Bất Loạn” rồi vậy !.
Nói tóm lại, khi Niệm Phật được “Nhất Tâm Bất Loạn” rồi, người tu phải giữ vững trạng thái “Nhất Tâm Bất Loạn” đó càng lâu chừng nào càng tốt chừng nấy. Nhưng, chỉ một hoặc hai phút sau đó, lại thấy có nghĩ đến việc nầy, nhớ đến việc nọ… tức là Vọng tưởng tạp niệm đã xen vào không còn “Nhất Tâm Bất Loạn” được nữa. Thế là, người tu lại phải tiếp tục dụng công cho thật thuần thục, thật nhuần nhuyễn để được “Nhất Tâm Bất Loạn” từ 30 phút cho đến một tiếng đồng hồ, thì lúc bấy giờ mới có thể thân chứng được cái mà nhiều người tu theo Tịnh Độ Tông hằng mơ ước, đó là: “VÔ SANH NHẪN”.
-Lại nữa, khi Niệm Phật được “Nhất Tâm Bất Loạn” thuần thục rồi , thì lúc bấy giờ không còn có một ý niệm nào có thể xen vô được nữa. Do đó, khi sắp lâm chung, người tu nầy chỉ cần một bề Niệm Phật giữ chặt cái “Nhất Tâm Bất Loạn” đó cho thật miên mật, thì lúc bấy giờ cái tâm của người nầy đâu có loạn động (=điên đảo), vì sợ chết, luyến tiếc tài sảnluyến ái người thân. Thế là người nầy thoát ra khỏi sức hút của Vũ Trụ Cảm Giác (=nhà lửa= Tam Giới) và được Đức Phật A DI ĐÀThánh Chúng tiếp dẫn về Tây Phương Cực Lạc Thế Giới./.
***
XIN LƯU Ý :
1.-Người mới bắt đầu tu tập, mỗi lần dụng công không được quá 30 phút, và trong một ngày đêm (24 giờ) chỉ có thể dụng công từ 5 hay 6 lần. Và sau khi thấy cơ thể đã thích nghi rồi, mới tăng dần thời gian dụng công lên 40 phút, rồi 50 phút cho đến 2 tiếng đồng hồ.
2.-Trong khi tu, dù được “Nhất Tâm Bất Loạn” hay chưa, người tu nên để ý đến vấn đề phát sinh cảnh giới như sau :
a.-Nếu thấy Phật hay Bồ Tát hiện đến cũng không nên mừng hay lễ lạy chi cả. Hoặc thấy ma quỷ v.v… cũng không nên sợ hãi bỏ chạy. Bởi vì, những thứ đó chỉ là “Huyễn giác’, không thể nào làm hại chúng ta được. Cứ công phu bình thường, nó sẽ tự hết.
b.-Cũng có khi người tu ngửi thấy mùi thơm, mùi hôi thối…….. lạ tỏa ra khắp cả nhà; hoặc hào quang chiếu sáng, nghe tiếng khóc của ma quỉ, nằm mơ thấy việc lành dữ v.v… nói chung là cảnh giới khác thường, cũng cứ để yên, mặc kệ chúng, huyễn cảnh sẽ tự mất. Vì trong kinh Kim Cang, Đức Phật có dạy :“Phàm cái gì có hình tướng đều giả dối không thật (Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng).
***
Nói tóm lại, nếu muốn Niệm Phật cho được “Nhất Tâm Bất loạn” người tu phải có phương pháp và kỷ thuật cho thật tốt để tu. Chớ không phải muốn Niệm như thế nào thì cứ mà tùy ý !.
Nếu như có ai đó Niệm Phật đến chỗ “Không Niệm Mà Niệm” cũng chưa đến chỗ “Nhất Tâm Bất Loạn” đâu. Đó là điều mà người tu ở vào thời buổi hiện nay phải nên đặc biệt lưu ý. Nếu như không khéo hiểu biết, thì sẽ làm mất thì giờ quý báu và tốn công nhọc sức vô ích mà thôi.
Với Pháp tu Niệm Phật để được ‘Nhất Tâm Bất Lọan’ nêu trên, từ năm 1994 cho đến ngày nay đã có rất nhiều người nhờ pháp tu nầy mà có được lợi ích thiết thực trong công việc tu hành. Cá biệt, có hai nữ Cư sĩ Phật tử : DIỆU HOADIỆU ANH đã bị khiếm thị từ thuở nhỏ, hiện cư ngụ tại TP. HCM. chỉ cần tu tập có ba tuần lễ là được “Nhất Tâm Bất Loạn”.
Nếu như có Phật tử nào đó không tin, cứ việc lấy Pháp tu nầy tu thử một thời gian xem sao, vì đâu có tốn đồng xu cắt bạc nào mà sợ !. Vã lại, ở trong Kinh Phật đâu không có nói :
-“Bất Ai bất sanh Ta Bà,
Niệm Phật bất Nhất bất sanh Tịnh Độ”./.
(Nghĩa là : Vì Ái dục (lòng ham muốn) nên mới sanh ra ở cõi Ta Bà.
Còn Niệm Phật, nếu như không được ‘NHẤT TÂM BẤT LỌAN’ thì không thể nào được Vãng Sanh về TỊNH ĐỘ của Đức PHẬT A DI ĐÀ).
***
LỜI NGUYỆN CỦA NGÀI VĂN THÙ :
Nguyện ngã lâm dục mạng chung thời
Tận trừ nhứt thiết chư chướng ngại
Diện kiến bỉ PHẬT A DI ĐÀ
Tức đắc vãng sanh An Lạc Sát.
(Nghĩa là : Tôi nguyện đến khi lâm chung, diệt trừ hết cả chướng ngại, trước mắt thấy được PHẬT A DI ĐÀ, liền được vãng sanh về cõi an lạc)./.
***
DUY KỲ TÂM TỊNH TỨC PHẬT ĐỘ TỊNH
thichthientri
Cảm ơn, Thành viên Moderator (Xin thông báo BQT)
 
Bài viết: 157
Ngày tham gia: Thứ 2 09 Tháng 4, 2012 2:17 am

Re: ###Sách: Niệm Phật vãng sanh Tịnh Độ

Gửi bàigửi bởi thichthientri » Thứ 7 23 Tháng 7, 2016 9:57 am

11
H Ỏ I & Đ Á P


HỎI : Người tu hành thời gian gần đây ngày càng đông hơn xưa, nhưng tại sao người tu thành công chẳng thấy có được mấy người ?
ĐÁP : Phần nhiều gốc ở quan niệm sai lầm, rơi vào cái “trống rỗng”. Có người hướng về Thiên Đàng, Cực Lạc Thế Giới, liễu sanh thóat tử, ra khỏi Luân hồi, thành Phật, làm Tổ, lý tưởng của họ có phần hảo huyền thái quá, mục tiêu lại không rõ ràng, nên không biết từ chỗ nào mà hạ thủ (tu). Nếu có mục tiêu thì cũng chỉ là ‘gãy không đúng chỗ ngứa’, gắng sức một thời gian rồi tự động buông bỏ !
HỎI : Sự nhận thức của lòai người gồm có mấy thứ ?
ĐÁP : Gồm có 3 thứ : Sức Chú Ý, Sức Lý Giải và Sức ghi nhớ.
HỎI : Trong 3 sức, sức nào quan trọng hơn hết ?
ĐÁP : Sức Lý giải quan trọng hơn hết.
HỎI : ---Tư thế tĩnh tọa, dùng thứ nào tốt hơn hết ?
ĐÁP : Bất cứ tư thế nào đều cũng có thể thực hành được. Lấy việc có thể ngồi được lâu, thư thái, thích hợp làm tốt. Người tuổi đã cao, ngồi trên ghế dựa, hai chân buông thỏng xuống cũng có thể được.
HỎI : Trong lúc Tĩnh Tọa, có người ngồi thân thể tự nó dao động (=nghiêng qua ngả lại), đây là cớ gì ?
ĐÁP : Thứ hiện tượng nầy, Thiền học gọi là ‘BẢN NĂNG HỌAT ĐỘNG”. Người mới học thường hay có hiện tượng nầy, nhưng đừng sợ hải gì cả, vì đó là phản ứng của thân thể. Nếu kềm giữ được yên thì tốt, còn không thì cứ để mặc cho nó dao động, không cần phải dùng sức chi phối nó, vì nó có ích cho sự kiện khang của thân tâm, lâu rồi tự nó ngừng lại. Có nhiều người mang bệnh nan y bất trị, thầy thuốc bó tay, trải qua một thời gian dao động, mà bệnh tiêu mất đi.
HỎI : Trong thời kỳ dụng công, có người thấy nhức đầu, chóng mặt, tinh thần hỏang hốt, tim hay miệng đau nhức, phải chăng đã xảy ra ‘Thiền bệnh’ ?
ĐÁP : Thiền bệnh chia ra làm thành hai : Phương diện tinh thầnPhương diện thân thể. Như thấy Phật, thấy ánh sáng (=hào quang), mùi thơm… đều là ‘huyễn giác’, nếu cứ chấp giữ chẳng chịu buông bỏ, lâu ngày sẽ có khả năng mắc phải ‘Thiền bệnh’ trên tinh thần. Chúng ta lúc bình thường tinh thần hướng ngọai, từ 6 cửa chảy ra ngòai. Hiện nay, vì có sự liên hệ đến tu Thiền, tinh thần xoay trở vào phía trong thân thể, để chữa trị tâm bệnh, hình thành ra 180 độ, do ở góc độ lớn quá, khiến thân thể lúc ban đầu chẳng thể thích ứng, cho nên có hiện tượng nầy. Như lúc cảm thấy khó chịu, phải ngừng lại nghỉ ngơi, không liên quan gì tới sự kiện khang của tâm và đầu óc, chẳng cần đi thầy thuốc uống thuốc, nghỉ ngơi liền hết bệnh. Sau khi khôi phục chính thường, lại lên bồ đòan, nối tiếp gắng sức dụng công thì có nhiều hy vọng được Vãng Sanh hay được Giải thóat.
HỎI : ---“Tạp niệm ở trong tâm Phật học gọi là gì ?
ĐÁP : -‘Hoặc+Nghiệp+Khổ’, ba cái nầy, tuy ba mà một, một mà ba.
HỎI : Con đường nào cũng thông đến ‘TRƯỜNG AN”, câu nầy có hợp với sự thật không ?

ĐÁP : Phật Pháp gồm có 5 thừa, mỗi thừa có chỗ thông với nhau, còn thông với TRƯỜNG AN, thì chỉ có một con đường. Người tu hành đối với sự lựa chọn pháp môn để tu, phải hết sức thận trọng. Nếu như kinh nghiệm chưa đầy đủ, thì pháp môn mình lựa đối với mình chẳng có ích lợi gì, thế thì cũng phải biết nên lấy dùng pháp môn đó hay nên bỏ, chẳng nên cứ giữ lấy khư khư, chẳng nên bảo người khác nói sao, thì mình cũng nói vậy, người khác tu sao, thì mình cũng tu vậy, có ích lợi hay không, tự lòng mình biết dạ mình hay, chẳng cần phải hỏi người khác. Kiếp sống con người ngắn ngủi, chớ nên bỏ qua kiếp sống nầy !.
HỎI :----Xin ông cho tôi biết nguyên tắc lựa chọn ?
ĐÁP :-“Ra dòng day về sanh tử, vào dòng thành Giải thóat”(=Xuất lưu hướng sanh tử, nhập lưu đắc giải thóat). Đây là nguyên tắc nhứt định. Hãy hỏi pháp môn mà mình tu đây là tu ở ngòai tâm, hoặc tu ở trong tâm ?. Tự mình phải có thể hiểu rõ, tu phân tâm hay không phân tâm cũng phải hiểu rõ. Ngay đến tu ở trong tâm cũng phải chú ý đến phương pháp tu nầy nó có thể khiến cho ‘NHỨT TÂM BẤT LỌAN’ đượckhông ? Nếu không, thì chỗ được của kết quả chỉ là quả nhỏ ở cõi trời cõi người, là nhân hữu lậu.
HỎI : “Vì sao thời buổi ngày nay, trong Phật Giáo ĐẠI THỪA, người tu Thiền không nhiều ?”
ĐÁP : -Vì Thiền pháp có chỗ nghiêng lệch sai lầm, dẫu có kẻ phát tâm tu, nếu chẳng hao phí ngày giờ một cách vô ích, thì cũng là làm hư họai cho thân tâm. Chúng sanh rất hiện thực, vì thấy có hại mà không thấy lợi, nên đối với Thiền tông bèn ‘kính nhi viễn chi’ (Tôn trọng mà xa lánh), xoay lại tu theo TỊNH ĐỘ hoặc MẬT TÔNG.
HỎI : Người người đều nói, Thiền tông là quét tướng nhập Đạo, còn Tịnh Độ thì trước tướng nhập Đạo, lý luận nầy có đúng không ?
ĐÁP :- Trước hết, chúng ta phải hiễu rõ Nguyên TắcMục Đích tu hành của hai tông nầy. Thiền Tông thì ‘Tà chánh đều dẹp hết, Tánh Bồ Đề rõ ràng (Tà chánh tận đã khướt, BỒ ĐỀ tánh uyễn nhiên). Nói một cách khác, tức là ‘TÂM THỂ VÔ NIỆM’. Người tu TỊNH ĐỘ miệng nói muốn được ‘NHẤT TÂM BẤT LỌAN’, để hòan thành điều kiện vãng sanh Tây Phương, đến ‘CỰC LẠC THẾ GIỚI’ học hỏi các vị Thượng Thiện Nhân, các Ngài dạy cho : ”Hoa nở thấy Phật, ngộ Vô Sanh’.
HỎI : Lý luận NIỆM PHẬT, ức Phật tự được tâm khai của TỊNH ĐỘ TÔNG có chính xác không ?
ĐÁP : Tôi cũng là người tu Tịnh Độ, nhưng với phương pháp tu hiện nay của TỊNH ĐỘ TÔNG chưa dám cẩu thả đồng ý. Vì rằng có rất nhiều lý luận trái ngược với nguyên tắc tu hành, phát sinh ra rất nhiều mâu thuẫn mà chẳng tự biết. NIỆM PHẬT, ỨC PHẬT giống như hai ống nước chảy đều xuống, có ý là thu được hiệu quả lớn. Nhưng trái ngược với nguyên tắc ‘TÂM THỂ VÔ NIỆM’, vì đã có ức Phật, thì tâm chưa khai được, bởi ‘một đám mấy trắng che ngang miệng hang, bao nhiêu chim bay mờ mịt ổ’ (Nhứt đóa bạch vân hòanh cốc khẩu, kỹ đa phi điểu tận mê sào), diệu minh Chân Tâm bị tướng Phật che lấp đi.
HỎI : Lý luận ‘Đới nghiệp Vảng sanh’ của TỊNH ĐỘ TÔNG có đúng không ?
ĐÁP : -Nếu như ‘đới nghiệp vảng sanh’ có thể thành sự thật, thì trên thế giới nầy bèn không còn có chúng sinh nào nữa. Vì sao ?
Phật, Bồ Tát thệ nguyện muốn độ hết vô lương chúng sanh. Thế mà hiện nay trên thế giới vẫn còn có vô lượng chúng sanh chìm đắm ở trong biển khổ, đủ thấy câu nói ‘đới nghiệp vảng sanh’ nầy chẳng đủ làm bằng cớ.
Chẳng may câu nói nầy được nói ra ở cửa miệng các vị Tổ Sư, người khác không có phép nào xía miệng vô, vì thiếu cái ‘chiêu bài chữ bằng vàng’ của các vị đó. Cho nên, có một số Thiền Sư chữi Phật, mắng Tổ, vì họ thấy có một vài ‘cỗ đức danh ngôn’ đích xác có sự hiềm nghi làm hại cho sự giải thóat của chúng sanh.
HỎI : TỊNH ĐỘ TÔNG phải tu cách nào mới phù hợp lý tưởng của ông ?
ĐÁP : Phải nhắm 2 con mắt lại, mặc niệm 4 chữ A DI ĐÀ PHẬT, đồng thời Chú Ý “vật năng Niệm’ (Điểm Niệm Phật) coiở chỗ nào trong thân thể. Khi nước tâm đã lóng trong, cái năng niệm hiện ra, thì như mèo bắt chuột, chú ý cái Năng niệm, vừa Chú ý vừa Mặc niệm, vừa Mặc nịệm vừa Chú ý, để ĐỊNH TUỆ cân bằng nhau. Lại phải chú ý đến sự phản ứng bất lương của thân thể, nếu như có thì phải ngừng nghỉ liền, sau khi trở lại chính thường, thì lại dụng công trở lại. Huyễn Giác, Thác giác, hết thảy không đếm xỉa gì tới nó, ngay đến thấy Phật, thấy ánh sáng hoặc thấy Tây Phương hiện ra đều phải thây kệ nó, thì Vãng Sanh TỊNH ĐỘ là cái chắc !?
HỎI : Hiện nay dùng miệng Niệm Phật của TỊNH ĐỘ Tông, phương pháp nầy tu ra sao ?
ĐÁP : “Ra dòng quay về sanh tử, vào dòng thành Giải thóat (Xuất lưu hướng sanh tử, nhập lưu đắc giải thóat). TỊNH ĐỘ TÔNG cũng không ngòai lệ nầy, Dùng miệng Niệm Phật, thì không có phương pháp nào đạt đến ‘NHỨT TÂM BẤT LỌAN’. Ngay đến có thể tu tới trình độ “không niệm mà niệm, niệm mà không niệm’ cũng chưa đủ nhờ cậy được. Đây chỉ là ‘định luật thói quen’ chẳng bao lâu liền tiêu mất đi. Tu hành là việc rất hiện thực, vì là vấn đề thiết thân, được lợi ích nhiều hay ít có thể tự mình hỏi lấy mình, chẳng cần kinh nầy điển nọ. tự dối mình lại dối người khác là không nên.
Liệng bỏ “Nhứt Tâm’ mà lấy ‘bất lọan’, mới là TỊNH ĐỘ CHÂN CHÍNH.
HỎI : Vì sao Thiền Tông có câu nói :”Niệm một tiếng Phật, phải gánh nước rửa thiền đường ba ngày “ ? Niệm Phật có chỗ nào không tốt chăng ?
ĐÁP : Đây là trỏ vào việc niệm ra tiếng mà nói, nên thiền đường bèn bị làm dơ, bởi lẽ Niệm Phật ra tiếng cùng với nguyên tắc giải thoát xây lưng nhau mà đi. Các vị Thiền Sư tâm từ bi thiết tha, vì muốn thiết thực ngăn cấm tệ hại nầy, nên nói ra một cách nghiêm trọng như thế.
HỎI :--- “Sao gọi là NGHIỆP LỰC ?
ĐÁP :- “Nghiệp Lực" tuy không có hình tướng, nhưng trên cảm giác có thể chứng thực. Đương lúc ta nhắm mắt lại, xem thấy trong thân thể ta có nói có cười, nghĩ bậy tưởng bạ rối rối rít rít nầy tức là : ‘NGHIỆP LỰC”.
Nếu muốn tiêu trừ mọi nghiệp, bèn phải ở ngay chỗ nầy dụng công mới đúng chỗ. Nghiệp Lực một khi đã bị triệt tiêu rồi, thì ‘Hoặc’ và ‘Khổ’ cũng tiêu diệt liền ngay đó, vì ba cái nầy tuy một mà ba, ba mà một.
HỎI : ---“Hôn trầm tới phải đối trị cách nào ?”.
ĐÁP : “ Hôn trầm nhẹ, thì cứ để cho người nầy ngủ gật một lúc, sau khi tỉnh dậy sẽ dụng công trở lại. Còn hôn trầm nặng, thì leo lên giường ngủ cho đầy đủ, rồi sẽ dụng công trở lại, chẳng nên quá miễn cưởng làm cho thân thể mệt mỏi, có ảnh hưởng đến sức khỏe của thân thể, thì trái lại không tốt.
HỎI : Điều kiện cần và đủ để tu Thiền là gì ?
ĐÁP : Phải có một vị MINH SƯ để đưa đường và chỉ lối và Diệu Pháp GIẢI THÓAT để công phu, thì mới có hy vọng được tọai nguyện./.

thichthientri
Cảm ơn, Thành viên Moderator (Xin thông báo BQT)
 
Bài viết: 157
Ngày tham gia: Thứ 2 09 Tháng 4, 2012 2:17 am

Re: ###Sách: Niệm Phật vãng sanh Tịnh Độ

Gửi bàigửi bởi thichthientri » Thứ 2 08 Tháng 8, 2016 7:48 am

12

TỲ KHEO NHẤT GIỚI


UTTIGA là một thanh niên
Bà La Môn ở kinh thành
Xá Vệ. Sau khi làm bổn phận của một cư sĩ tại gia như bố thí cúng dường.
UTTIGA đến yết kiến
Đức Phật và xin được xuất gia.
Đức Đạo Sư chấp thuận cho chàng được toại nguyện.

Sau ngày xuất gia và thọ Tỳ Kheo giới. UTTIGA đâm hoảng và tự nghĩ : ”Không ngờ muốn làm một Sa Môn phải giữ đến 250 giới… chỉ nhớ thôi cũng đã đủ mệt rồi… nói gì đến thọ trì… thôi chết rồi !”
Thế là thầy Tỳ Kheo UTTIGA đâm ra lúng túng vì thầy không tài nào nhớ nỗi 250 giới cấm. UTTIGA đến gặp Đức Phật và xin hoàn tục.
Đức Phật ân cần khuyên hỏi :-“Nầy Tỳ Kheo ! Con xin hoàn tục vì các điều giới quá nhiều khiến con không nhớ nỗi, chứ không phải vì con nuối tiếc ngũ dục lạc ở thế gian, có phải thế không?”.
-“Bạch Thế Tôn ! Đúng vậy ! Con nghĩ rằng khi sống đời cư sĩ, chỉ giữ có 5 giới cấm (không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói láo và không uống rượu) là những điều mà con có thể làm được. Còn hôm nay, 250 giới của Tỳ Kheo con không tài nào nhớ hết thì làm sao mà vâng giữ chi bằng con xin hoàn tục để khỏi vi phạm đến giới pháp cao sâu vi diệu của tăng đoàn”.
-“Nầy Tỳ Kheo ! Nếu Như Lai rút 250 giới luật lại thật tóm tắt, chỉ còn
một vài giới điều thôi, thì con có thể tiếp tục đời sống xuất gia không ?”
-“Bạch Thế Tôn, được như thế thì còn gì bằng”.
-“Nầy Tỳ Kheo, bắt đầu từ hôm nay, con chỉ giữ có một giới nầy thôi. Đó là canh chừng thật chặt chẻ những móng tâm động niệm của con, để biết rõ từng ý nghĩ khởi lên là thiện hay ác.
Nầy Tỳ Kheo ! Làm sao biết đó là ý tưởng (ý niệm) thiện hay ý tưởng ác? Ý tưởng ác là những ý tưởng mà nếu đem ra nói hay làm, sẽ gây tai hại cho mình cho người hoặc cả hai. Đối với những ý tưởng như thế con phải canh chừng theo dõi nó ngay từ lúc mới sanh khởi, lan rộng cho đến khi diệt mất.
Nầy Tỳ Kheo ! Thế nào là những ý tưởng thiện ? Đó là những ý tưởng mà khi đem ra thi hành sẽ không làm hại mình, hại người hoặc hại cả hai…. Đối với những ý tưởng nầy con cũng phải theo dõi từ lúc chúng mới sanh khởi, lan rộng cho đến khi hoại diệt mất.
-“Nầy Tỳ Kheo ! Với một điều giới như thế, con liệu có thể giữ được hay không ?”
Thầy Tỳ Kheo UTTIGA cung kính thưa :-“Bạch Thế Tôn, con có thể giữ được và con xin Thế Tôn cho phép con ở lại Tinh Xá tu học”.
Thế là thầy Tỳ Kheo UTTIGA với một điều giới duy nhứt như thế tinh cần tu tập. Nhưng, không may cho thầy một cơn bệnh nặng chợt đến khiến thầy phải gián đoạn công phu. Cơn bệnh nầy tiếp nối cơn bệnh khác, không dứt khiến thầy UTTIGA vô cùng đau khổ, một hôm trên giường bệnh thầy chợt nghĩ :
“Trong khi ta lâm bệnh khổ, thân thể khó chịu vô cùng như thế nầy, các ý tưởng sinh khởi liên miên không bao giờ dứt. Nếu cái thân tứ đại nầy không được tiếp tế thức ăn, nước uống và không khí thì có lẽ nó đã chết từ lâu. Còn cái Vọng tâm (những thứ “Tự Ngôn Tự Ngữ” hay Vọng tưởng Tạp niệm) của ta, nếu như không được tiếp tế bằng những ý niệm thì có lẽ nó cũng đã chết từ lâu lắm rồi. Thân ta tuy hiện đang bị bệnh khổ bức bách nhưng nó không phải là một cái cớ để ta buông lung. Huống chi đấng Đạo Sư đã thương tình tóm tắt 250 điều giới trong chỉ mỗi một giới mà ta còn lơ là thì thật đáng trách.
Nghĩ như thế, nên Tỳ Kheo UTTIGA tinh cần tu tập. Chẳng bao lâu thầy đắc đạo quả A LA HÁN ngay khi còn nằm trên giường bệnh. Người ta còn ghi lại được một bài kệ đơn giản của vị A LA HÁN nầy như sau :
“Trong khi ta lâm bệnh

Niệm khởi lên nơi ta

Trong khi ta lâm bệnh

Không phải thời phóng dật”./.

*


ĐẠI TỰ NHIÊN
Sum la vạn tượng tuy có muôn màu ngàn vẻ, thiên sai ngàn biệt. Nhưng nói chung lại thì có 3 thứ :
1.-THÂN : Sanh, Lão, Bệnh, Tử.
2.-TÂM : Sinh, Trụ, Dị, Diệt.
3.-VẬT : Thành, Trụ, Họai, Không.

KINH ĐẠI NIẾT BÀN nói :
A.-Chư Hành vô thường.
B.-Chư Pháp Vô ngã.
C.-NIẾT BÀN tịch tỉnh.
*
CÁC HÀNH VÔ THƯỜNG LÀ PHÁP SANH DIỆT
SANH DIỆT DIỆT RỒI TỊCH DIỆT LÀ VUI
*

CHÂU LỢI BÀN ĐẶC

CHÂU LỜI BÀN ĐẶC là một Tăng sĩ có trí nhớ kém cỏi lạ thường, dù thầy hãy còn trẻ và mặt mũi rất khôi ngô. Cùng xuất gia một lượt với người anh, cùng nghe giảng pháp từ Đức PHẬT và các thầy giáo thọ A XÀ LÊ. Vậy mà, trong khi người anh đắc quả A LA HÁN thì Châu Lợi Bàn Đặc vẫn chưa thuộc nỗi một bài kệ có 4 câu, dù thầy đã cố gắng đem hết tâm sức để học nó trong suốt hằng mấy tuần trăng.
Trí nhớ kém cỏi của Châu Lợi Bàn Đặc đã làm khổ lòng các vị giáo thọ không ít. Đa văn như Tôn giả A NAN, trí tuệ cỡ Ngài XÁ LỢI PHẤT cũng đều lắc đầu thúc thủ. Sau nữa năm dài cố gắng vô hiệu quả, Châu Lợi Bàn Đặc bị người anh dẫn ra chỗ vắng nói rằng :
-“Nầy chú ! Chỗ tình thân với nhau, anh nói thật cho chú biết, chú nên hoàn tục là hơn. Bởi vì công việc của một người xuất gia là học kinh và hành thiền. Một bài kệ vỏn vẹn có 4 câu, thế mà chú còn không thuộc nỗi thì còn nói chi đến chuyện tu hành. Thôi chú hãy đem y bát cúng dường lại cho những vị mới phát tâm xuất gia, trở về nhà ở với bố mẹ, sống đời cư sĩ, bố thí thiết trai, tu phước để gieo duyên sau nầy”.
Châu Lợi Bàn Đặc òa lên khóc. Dù không đủ tài miệng lưỡi văn chương để diễn tả nỗi lòng của mình như những người khác, chàng vẫn cảm thấy một nội niềm thống khổ đang tràn ngập tâm tư. Tuy không thuộc kinh kệ, giới luật nhưng Châu Lợi Bàn Đặc vẫn mơ hồ cảm thấy có một cái gì đó rất linh thiêng, tha thiết trong cuộc đời tu sĩ. Đã biết bao lần chàng đi kinh hành qua lại dưới những tàn cây rậm lá, nhìn các bạn đồng phạm hạnh đọc kinh hay Tọa thiền một cách tín ngưỡng, khát khao. Phải chi mình thuộc được một bài kệ, chỉ bốn câu thôi để mình thực hành lời dạy của Đức THẾ TÔN... Và dù không tài nhớ được lời dạy bảo của Ngài, chàng cũng đã im lặng lắng nghe với tất cả tầm lòng thành kính, trân trọng như đám bạn bè đồng trang lứa.
Thế mà, giờ đây chàng lại sắp từ giả nếp sống thanh tịnh nầy, cởi bỏ chiếc y vàng quen thuộc, và những người bạn hiền hòa để trở về với nếp sống đa đoan của thế tục.
Không dám cãi lời anh, Châu Lợi Bàn Đặc lủi thủi đi ra khỏi Tinh Xá, vừa đi vừa khóc rất bi thảm. Đi được một quảng, sực nhớ là mình chưa từ giả Đức Phật, Châu Lợi Bàn Đặc bèn quay trở lại, đến hương thất của Đức Phật.
Thấy chàng nước mắt ràn rụa, Đức Phật hỏi :-“Nầy Châu Lợi Bàn Đặc, có chuyện gì vậy ?”.
Châu Lợi Bàn Đặc tấm tức : -“Bạch Thế tôn… ức… ức…con bị đuổi về nhà… ức… không tu được nữa… ức… ức….
-“Con đã phạm lỗi gì ?”.
-“Dạ, bạch Thế tôn ! Con không học thuộc được một bài kệ……. dù con đã cố gắng hết sức, nên anh con bảo con đi về nhà ở, đừng nên tu nữa….. ức ……ức…”.
-“Nhưng lòng con thì còn muốn tiếp tục cuộc sống xuất gia, có phải vậy không ?”
Châu Lợi Bàn Đặc khóc to lên, vì Đức Từ Phụ đã nói đúng tâm nguyện của anh ông ta. Đức Phật an ủi :
-“Nầy Châu Lợi Bàn Đặc ! Không thuộc nỗi một bài kệ, quả thật là một điều khá bất tiện cho việc tu học, nhưng đó không phải là một lỗi lầm cố ý đến nổi phải hoàn tục. Nếu lòng con còn tha thiết muốn tiếp tục cuộc đời phạm hạnh thì bấy nhiêu đó cũng đủ lắm rồi. Đây là một mảnh vải trắng, con hãy cầm lấy”.
Châu Lợi Bàn Đặc cầm chiếc khăn tay mà Đức Phật vừa trao cho, Đức Phật dạy tiếp :
-“Mỗi ngày, con chỉ việc chăm chú theo dõi sự biến chuyển của chiếc khắn nầy… Chỉ có mỗi một việc đó thôi, con liệu có thể làm nỗi không ?”
Châu Lợi Bàn Đặc hớn hở, thưa : “Bạch Thế Tôn, được ạ !”
-“Tốt lắm ! Nếu con kiên nhẫn làm theo lời Như Lai dạy, con sẽ đạt được kết quả tốt trong một ngày gần đây
Từ đó, ai cũng ngạc nhiên khi thấy Châu Lợi Bàn Đặc thường ngồi im lặng trên một tảng đá nhìn chăm chăm vào một mảnh vải treo phía trước. Vì biết đó là một đề tài Thiền Quán do Đức Phật đưa ra nên mọi người đều tôn trọng sự tu tập của thầy, không một người nào dám trêu chọc hoặc là hỏi han chi cả.
Sáng chiều nối gót nhau, ngày tháng qua lại, sau những giờ đi bát về, Châu Lợi Bàn Đặc vẫn theo một thông lệ bất di bất dịch, đến cội cây quen thuộc ngồi nhìn mảnh vải đã ố màu thời gian. Sự thay đổi dần dà của chiếc khăn, từ màu trắng ngà sang đen đúa đã giúp cho Châu Lợi Bàn Đặc khám phá ra sự vô thường của vạn hữu :”Chiếc khăn nầy, lúc Đức Phật đưa cho ta còn trắng và mới. Vậy mà bây giờ đã nhớp nhứa, lấm lem. Và không bao lâu nữa, nó sẽ mục nát. Cũng vậy, con người sanh ra, lớn lên, rồi già nua và bệnh hoạn rồi phải chết giống hệt như chiếc khắn tay nầy vậy”.
Và đúng như lời tiên đoán của Đức Phật, sau một thời gian tu tập với đề mục “CHIẾC KHĂN TAYChâu Lợi Bàn Đặc đắc quả A LA HÁN trước sự kinh ngạc của tất cả các bạn đồng phạm hạnh.
Đức Phật xác nhận thành quả ấy và Ngài đã kết luận rằng :
-“Bằng tất cả nhiệt tâm, tinh cần tu tập Châu Lợi Bàn Đặc đã tạo cho mình một hòn đảo mà không một lượng sóng tham ái nào hay tà kiến nào có thể làm chìm đắm được”. Đó là ý nghĩa câu kinh Pháp Cú thứ hai mươi lăm :
-“Bằng sự cố gắng, hăng hái không buông lung tự khắc chế lấy mình, người thiện trí đã tạo cho mình một hòn đảo mà không ngọn thủy triều nào nhận chìm được”./.
thichthientri
Cảm ơn, Thành viên Moderator (Xin thông báo BQT)
 
Bài viết: 157
Ngày tham gia: Thứ 2 09 Tháng 4, 2012 2:17 am

Trang trước

Quay về Chuyên đề Tịnh Độ

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến3 khách

cron