Diễn đàn Tu viện Phật giáo Việt nam


NHẬN THỨC VÀ TU HÀNH PHÁP MÔN NIỆM PHẬT p2

Thảo luận kinh điển Tịnh.

Các điều hành viên: Sen Hong, Bất Nhị, Phattutaigia

NHẬN THỨC VÀ TU HÀNH PHÁP MÔN NIỆM PHẬT p2

Gửi bàigửi bởi thienlongthuy89 » Thứ 4 17 Tháng 12, 2014 3:26 pm

[b]Người niệm Phật nhận đuợc quang minh chiếu chạm là đã được Phật A Di Đà hỗ trợ nhân thiện.
[/b]Tâm thiện tăng sẽ trở thành người thiện, vì thế kinh A Di Đà Phật Thích Ca gọi người chuyên niệm Phật là thiện nam, thiện nữ.
Đã có thêm nhân thiện lại được Chư Phật mười phương hộ niệm hỗ trợ duyên thiện nên thành quả phúc hiện tiền là hay gặp nhiều may mắn.
Vì thế trong kinh Phật nói người niệm Phật nhận được bảo châu như ý là như vậy. Nếu một đất nước (quốc độ) người người chuyên tu niệm Phật, nhà nhà chuyên tu niệm Phật thì quốc độ đó chuyển từ uế độ thành thiện độ và nhờ tha lực của Phật, từ thiện độ dân nước đó sẽ được chuyển sinh về Tịnh độ của đức Phật A Di Đà. Thế mới là đại nguyện tiếp dẫn độ tận chúng sinh của Như Lai vậy.
[b]Người niệm Phật nếu tâm mình đã chuyển
, khi bệnh nặng gần đến cái chết mà biết lời dạy của tổ Thiện
[/b]Đạo trả lời Tri Quy Tử trong Niệm Phật Cảnh: [b]“Phàm tất cả người mạng chung muốn được vãng sinh cần phải không được sợ chết. Thường nghĩ thân này nhiều đau khổ, bất tịnh, nghiệp ác trùng trùng xen tạp.
Nếu bỏ được thân hình nhơ nhớp này, siêu sinh Tịnh độ thì thọ hưởng vô lượng niềm vui, giải thoát con đường đau khổ sinh tử.
Như vậy mới vừa ý. Ví tợ cởi bỏ chiếc áo nhơ xấu, được thay vào y phục quý đẹp. Chỉ nên buông bỏ thân tâm đừng sinh lòng lưu luyến. Hễ có bệnh thì nhớ về vô thường, một lòng chờ cái chết đến”.

[/b]Lời Tổ dậy rất hay vì sợ chết tức là tham sống.
Con người lúc sắp chết, niệm tham sống khởi lên rất mãnh liệt, mãnh liệt nhất.
Nếu không sợ chết mà chờ nó đến thì những niệm tham khác như tham luyến tình cảm, tham tiếc của cải gọi là những niệm sai lầm, không vượt qua nó được.
Nếu người tu pháp môn niệm Phật tâm đã chuyển, đến khi bệnh nặng sắp đến cái chết lại theo lời khuyên dạy của Tổ Thiện Đạo mà “một lòng chờ cái chết đến” thì nhất định người đó sẽ giữ được chính niệm, liền được chư Phật mười phương hộ niệm. Chư Phật mười phương hộ niệm, ngoại ma không phá được nên người tu pháp môn niệm PHẬT mới giữ được chính niệm cho đến khi “Phật cùng Thánh Chúng hiện ra trước mặt” để tiếp dẫn.
Thế thì việc vãng sinh đã nắm chắc trong tay, vãng sinh đâu có khó.
Tổ Tri Húc dạy: Niệm Phật còn nhiều tán loạn nếu được vãng sinh thì về hạ hạ phẩm, nếu ít tán loạn thì về trung hạ phẩm.
Nếu không còn tán loạn thì về thượng hạ phẩm.
Nếu chứng tam muội sự thì về ba phẩm trung.
Chứng tam muội lý thì về ba phẩm thượng.
Phàm phu tội chướng thời mạt pháp chúng ta niệm Phật cầu vãng sinh được về hạ hạ phẩm (đới nghiệp vãng sinh) là phù hợp với căn cơ của mình vậy.
iV.Người tu pháp môn niệm Phật phải giữ được chính niệm (tin, nguyện) cho đến trước khi lâm chung. Đến khi lâm chung Phật A Di Đà cùng Thánh Chúng tiếp dẫn về Tây phương Cực Lạc.

Theo kinh Phật, lúc lâm chung thân ngũ uẩn gồm sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn.
Sắc uẩn là thân thịt xương máu mủ, bốn uẩn còn lại là thần kinh hệ, đang bị phân ly và liệt hoại làm cho thân thể bị đau đớn. Còn tâm thì hiện ra ấm cảnh làm cho điên đảo.
Ấm cảnh là gì?
Ấm cảnh là cảnh giới của lục đạo luân hồi do nghiệp nhân thiện ác mà con người gây ra khi còn sống và một số nghiệp nhân quá khứ tạo nên.
Đến sát na lâm chung là một loáng thời gian trước khi chết, ấm cảnh hay cảnh giới nào mạnh sẽ lôi kéo thần thức và thân ngũ ấm người chết đó vào cảnh giới tương ứng của lục đạo luân hồi.
Từ đặc điểm trên của khi lâm chung, liên hệ với Kinh A Di Đà “Chỉ có những người một lòng chuyên niệm danh hiệu của Phật A Di Đà… Người ấy khi nào lâm chung Phật cùng Thánh chúng hiện ra trước mặt, tâm không điên đảo, người ấy liền sinh sang nước Cực Lạc của Phật A Di Đà”.
Như vậy thì chỉ có những người tu pháp môn niệm Phật giữ được chính niệm (tin, nguyện) cho đến trước khi lâm chung.
Vì chính niệm (tin, nguyện) đồng với Đại nguyện tiếp dẫn của Phật thì khi lâm chung Phật cùng Thánh chúng mới hiện ra trước mặt để tiếp dẫn.
Phật hiện nên ấm cảnh không hiện ra được, vì thế tâm người niệm Phật mới không điên đảo vẫn giữ được chính niệm (tin nguyện).
Trong niệm Phật Tông Yếu Tổ Pháp Nhiên Thượng Nhân cũng dạy như vậy: “Người niệm Phật có lòng cầu vãng sinh và không nghi ngờ Di Đà bản nguyện, khi lâm chung không bị điên đảo.
Sở dĩ được vậy là nhờ chư Phật lai nghinh. Phật lai nghinh để người tu niệm Phật cầu vãng sinh lúc lâm chung được chính niệm, không phải lúc lâm chung cần phải chính niệm thì Phật mới lai nghinh.
Người không biết nghĩa này cho rằng lúc lâm chung cần phải chính niệm niệm Phật Phật mới lai nghinh.
Kiến giải như vậy là không tin vào Phật nguyện và không hiểu kinh văn nữa”.
Nhưng chính niệm lúc lâm chung mới chỉ là tâm chân thật của phàm phu tội chướng, Phật chưa tiếp dẫn về Tịnh độ được.
Phải đợi đến khi tâm chân thật của phàm phu trở thành tâm thanh tịnh, Phật mới phóng quang tiếp dẫn về Tịnh độ của Phật.
Lời khuyên người niệm Phật của Tổ Thiện Đạo trong Niệm Phật Cảnh làm rõ ý này.
Niệm Phật trước trừ tâm tham ái
Lâm chung tâm định thấy Di Đà
Tợ trăng sáng tỏ soi đầm biếc.
Có trừ được tâm tham ái mới giữ được chính niệm trước khi lâm chung.
Còn khi lâm chung tâm định mới thấy Di Đà.
Tâm có định mới sinh trí tuệ.
Trí tuệ tâm Phật chính là tâm thanh tịnh.
Nhờ có con mắt trí tuệ của tâm thanh tịnh mới thấy Di Đà, bởi thân của Phật là thân năng lượng, giống như hình hiện trên ti vi.
Mắt của người không thấy được.
Nhưng tâm định vào thời điểm nào của khi lâm chung?
Tâm định vào sát na lâm chung, sát na lâm chung là một loáng thời gian trước khi chết, trong một loáng thời gian này, thân ngũ uẩn vừa liệt hoại xong (hơi dứt mạng hết) đột ngột không ngăn che trí tuệ tâm Phật, ví như đèn hết dầu phụt sáng trước khi tắt. Vậy sát na lâm chung tâm người niệm Phật mới được thanh tịnh và Phật A Di Đà tiếp dẫn họ vào thời điểm này.
Tổ Pháp Nhiên Thượng Nhân cũng xác định như vậy: “Sát na lâm chung dễ như cắt sợi tơ, người ngoài không biết được, chỉ có Phật và người niệm Phật biết được mà thôi” (Trích Niệm Phật Tông Yếu).
Thật đúng với lời dạy của Phật Thích Ca trong kinh A Di Đà: “…ai đã nguyện thì đã sinh rồi. Ai nay đang nguyện thì nay được sinh. Còn ai mới nguyện thì mai sẽ sinh.
Bởi thế cho nên, này Xá Lợi Phất! Thiện nam, thiện nữ, hễ có ai tin thì nên phát nguyện sinh về Cực Lạc”
.
Dựa vào ý này của Phật Thích Ca, Tổ Tri Húc, tổ thứ chín Tịnh Tông Trung Quốc có lời dạy như sau: “Được sinh cùng chăng toàn do tín nguyện có hay không. Về phẩm thấp cao đều do niệm Phật sâu hay cạn”.
Tổ Ấn Quang đã khẳng định lời dạy này của Tổ Tri Húc. “Đây là luận án thép. Nghìn Phật ra đời cũng không thay đổi”. (trích thư gửi Cao Thiệu Lân trong quyển Lá Thơ Tịnh Độ).
Còn những người tu pháp môn niệm phật không giữ được chính niệm (tin nguyện) cho đến trước khi lâm chung. Khi lâm chung ấm cảnh hiện, làm cho tâm điên đảo.
Đến sát na lâm chung, ấm cảnh hay cảnh giới nào mạnh liền lôi kéo thần thức và ngũ ấm thân những người đó vào cảnh giới tương ưng của lục đạo luân hồi.
Vì thế tổ Thiện Đạo có lời khuyên dạy như sau: “Việc luân hồi sinh tử rất lớn lao, phải tự mình gắng sức mới được.
Nếu một niệm sai lầm để luống qua thì nhiều kiếp chịu khổ.
Có ai thay thế cho mình! Nên suy nghĩ kỹ, nên suy nghĩ kỹ”.

V.Sơ đồ Nhân Duyên Quả của Pháp môn Niệm Phật
Hình ảnh

VI. Kết luận:
Người tu pháp môn niệm phật nếu nương vào Di Đà bản nguyện chuyên tu niệm Phật, lại tuân theo lời khuyên dạy của Tổ Thiện Đạo, tổ Pháp Nhiên Thượng Nhân và các pháp tu của ngài Tư Vân Sám Chủ của tổ Ấn Quang mà thực hành niệm Phật, thì nhất định người ấy sẽ được chư Phật mười phương hộ niệm để giữ được chính niệm (tin nguyện ) đến trước khi lâm chung và đến khi lâm chung được Phật A Di Đà cùng Thánh Chúng tiếp dẫn về Tây phương Cực Lạc.
Thật đúng là: “Một đường Tây phương rộng thênh thang, thẳng tắp về nhà không cần hỏi” (lời của Tổ Thiện Đạo).
Viết đến đây tôi lại càng thấy thấm thía và xót xa trước câu nói ghi trong lời tựa của Niệm Phật Cảnh “Niệm Phật rất dễ thực hành.
Tịnh độ rất dễ vãng sinh, mà chúng sinh không thể thực hành, không thể vãng sinh, thì chư Phật chẳng biết làm thế nào!”

Tôi hy vọng nhiều bạn đồng tu cũng có tình cảm này để cùng nhau thực hành niệm Phật, để cùng nhau vãng sinh Tịnh độ, để cùng được đền ơn trong muôn một Đức Bổn Sư Thích Ca chỉ đường, Đức Từ Phụ A Di Đà tiếp dẫn và chư Phật mười phương hộ niệm.
NAM MÔ TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC THẾ GIỚI ĐẠI TỪ ĐẠI BI TIẾP DẪN ĐẠO SƯ A DI ĐÀ PHẬT!
NGHI THỨC CHUYÊN TU NIỆM PHẬT.
I. KHẤN NGUYỆN.
Chủ sám niệm: Nam Mô A Di Đà Phật.
Đại chúng hòa: Đệ tử chúng con 1 lòng cầu sinh Tịnh Độ mà Niệm Phật, nguyện được Phật A Di Đà phóng quang tiếp dẫn, Chư Phật mười phương, Chư Đại Bồ Tát, Chư Thánh Chúng, Thiên Long, Hộ Pháp đồng hộ niệm (1 vái).
II. LỄ NGUYỆN.
Chủ sám Chí tâm đỉnh lễ.
Đại chúng hòa: (12 lễ).
1/ A Di Đà Phật: Nguyện cho chúng con nhận được quang minh chiếu chạm than mình.(quỳ lạy 1 lễ).
2/ A Di Đà Phật: Nguyện cho chúng con nghiệp chướng được tiêu trừ. (quỳ lạy 1 lễ).
3/ A Di Đà Phật: Nguyện cho chúng con căn lành thêm lớn. (quỳ lạy 1 lễ).
4/ A Di Đà Phật: Nguyện cho chúng con luôn tăng trưởng lòng tin sâu nguyện thiết. (quỳ lạy 1 lễ).
5/ A Di Đà Phật: Nguyện cho hoa sen chúng con đang sinh nơi Tịnh Độ. (quỳ lạy 1 lễ).
6/ A Di Đà Phật: Nguyện cho chúng con trước phút lâm chung thân không bệnh khổ. (quỳ lạy 1 lễ).
7/ A Di Đà Phật: Nguyện cho chúng con trước phút lâm chung tâm không tham luyến, khi lâm chung ý không điên đảo. (quỳ lạy 1 lễ).
8/ A Di Đà Phật : Nguyện cho chúng consát na lâm chung được thấy Phật. (quỳ lạy 1 lễ).
9/ A Di Đà Phật : Nguyện cho chúng con được Phật và Thánh chúng tiếp dẫn về Tịnh Độ (quỳ lạy 1 lễ).
10/ A Di Đà Phật : Nguyện cho chúng con tu tiếp ở Tịnh Độ chứng được Bồ Tát Bất Thoái. (quỳ lạy 1 lễ).
11/ A Di Đà Phật : Nguyện cho chúng con trở lại Ta Bà hóa độ chúng sinh. (quỳ lạy 1 lễ).
12/ A Di Đà Phật: Nguyện cho chúng con hoàn thành hạnh nguyện của Bồ Tát, đồng thành Phật đạo (quỳ lạy 1 lễ).
III. SÁM NGUYỆN.
(Tụng bài Sám Di Đà theo chuông mõ).
Một lòng giữ niệm Di Đà
Hồng danh sáu chữ thật là rất cao.
Năng trừ tám vạn trần lao
Người đời nên sớm hồi đầu mới hay.
Khuyên ai xin chớ mê say
Tịnh tâm niệm Phật việc gì cũng an.
Niệm Phật tội nghiệp tiêu tan
Muôn tai ngàn họa khỏi mang vào mình.
Niệm Phật mở trí cao minh
Bao nhiêu hôn chướng chẳng sinh vào lòng.
Niệm phật cứu được tổ tông
Khỏi nơi biển khổ thoát vòng sông mê.
Niệm Phật thân tộc đề huề
Một nhà sum họp chẳng hề ghét nhau.
Niệm phật khỏi khổ khỏi đau
Bao nhiêu tật bệnh mau mau hết liền.
Niệm Phật có phúc có duyên
Xung mãn tài, lợi , bình yên cửa nhà.
Niệm Phật trừ được tà ma
Yêu tinh quỷ quái lánh xa ngàn trùng.
Niệm Phật năng khử độc trùng
Các loài ác thú hết hung hóa hiền.
Niệm Phật hết khùng hết điên
Có gương trí tuệ có đường quang minh.
Niệm Phật khỏi sự bất bình
Sự người chẳng nhớ sự tình chẳng ưa.
Niệm Phật cứu số long đong
No cơm ấm áo thung dung mãn đời.
Niệm Phật cảm động khắp nơi
Ai ai cũng mến người người đều thương.
Niệm Phật sinh dạ hiền lương
Từ bi thì có , bạo cường thì không.
Niệm Phật trời cũng thương lòng
Thường thường ủng hộ cả trong đêm ngày.
Niệm Phật thần cung kính vì
Thường hay trợ niệm trong khi đứng ngồi.
Niệm Phật lòng chẳng bồi hồi
Như cây không gió, nhánh chồi chẳng rung.
Niệm Phật khỏi sự hãi hùng
Gian tà đạo tặc chẳng chung tới nhà.
Niệm Phật giấc ngủ an hòa
Chiêm bao không có, niệm tà đều không.
Niệm Phật oan trái trả xong
Nợ nần kiếp trước hết mong hết đòi.
Niệm Phật trăm việc xong xuôi
Dầu sinh dầu tử cũng vui tấm lòng.
Niệm Phật hết sự đèo bòng
Chẳng ham tài lợi bỏ vòng công danh.
Niệm Phật uế nhiễm chẳng sinh
Cái gương tâm tính như vành trăng thu.
Niệm Phật lòng có sở cầu
Muốn tu thì được dễ đâu sai lầm
Niệm Phật niệm được nhất tâm
Bao nhiêu nghiệp cảm tiêu trầm biển khơi.
Niệm Phật sẽ sống trọn đời
Khỏi vòng nước lửa, khỏi nơi hung tàn.
Niệm Phật thân thể bình an
Khỏi vương ách nạn chết oan trên đời.
Niệm Phật niệm ở khắp nơi
Phá tan địa ngục rã rời ma quân.
Niệm Phật, Phật phóng hào quang
Chư Phật biến hóa ngồi ngang trên đầu.
Niệm Phật, Phật chẳng bỏ đâu
Niệm đâu Phật đó phải cầu chi xa.
Niệm Phật, Phật sẽ rước ta
Tây Phương đã sẵn một tòa hoa sen.
Niệm Phật phải niệm cho chuyên
Thì hoa sen ấy liền liền tốt tươi.
Niệm Phật, niệm niệm không dời
Tinh thần đã sớm dạo chơi Liên Trì.
Niệm Phật lơ láo ích chi
Sen kia khô héo khó mà tốt tươi.
Niệm Phật cần phải kính thành
Giữ cho thanh tịnh trong mình lục căn.
Niệm Phật như nước với trăng
Nước trong trăng tỏ, nước nhăn trăng mờ.
Niệm Phật có lắm huyền cơ
Miễn đừng đem dạ nghi ngờ là xong .
Niệm Phật giữ một tấm lòng
Di Đà oai đức mênh mông biển trời .
Đức Phật biến hóa khắp nơi
Thương đời cứu vớt những người trầm luân.
Chí tâm niệm Phật tinh cần
Lâm chung ngày cuối trọn phần vãng sinh.
IV. NIỆM PHẬT RA TIẾNG
Theo máy niệm Phật của Chùa Hoằng Pháp phát hành.
Tụng bài kệ theo chuông mõ
Quy mạng lễ A Di Đà Phật
Ở Tây Phương thế giới an lành
Con nay xin phát nguyện vãng sinh
Cúi xin Đức Từ Bi tiếp độ.
Nam Mô Tây Phương Cực Lạc thế giới
Đại Từ, Đại Bi, tiếp dẫn đạo sư
A Di Đà Phật (3 lần).
Niệm Phật theo máy:
Máy niệm Nam Mô, đạo tràng lắng nghe và hít vào. Máy niệm tiếp A Di Đà Phật, đạo tràng thở ra và đồng thanh niệm theo máy.
Máy nghỉ đạo tràng vẫn hít vào và thở ra niệm A Di Đà Phật.
* Lưu ý: Khi niệm không nghe tiếng niệm Phật của máy, chỉ nhiếp tâm nghe tiếng niệm Phật của mình (30 phút).
V. KINH HÀNH THEO MÁY.
(Bài niệm Phật phổ nhạc 2) 15 – 20 phút.
Nam Mô A (bước chân trái, đặt gót chân vào đúng chữ A).
Di Đà Phật (bước chân phải, đặt gót chân vào đúng chữ Phật).
VI. LỄ PHẬT THEO MÁY.
(Bài niệm Phật phổ nhạc 2) 15-20 phút.
*Lần 1:
Nam Mô A (chắp tay trước ngực, hít vào).
Di Đà Phật (đưa tay lên trán ngang mũi, thở ra).
*Lần 2:
Nam Mô A (quỳ xuống, hai tay nâng vạt áo trước, hít vào).
Di Đà Phật (tay cầm vạt áo trải xuống chiếu, úp mặt lên vạt áo, thở ra).
*Lần 3:
Nam Mô A (vẫn úp mặt, ngửa hai bàn tay lên, hít vào).
Di Đà Phật (vẫn úp mặt, úp tay xuống, thở ra).
*Lần 4:
Nam Mô A (ngẩng mặt, quỳ đứng lên, hít vào).
Di Đà Phật (đứng thẳng lên, buông xuôi hai tay, thở ra).
VII. NIỆM PHẬT THẦM.
(Niệm bốn tiếng A Di Đà Phật).
Tụng bài kệ theo chuông mõ
Bể cả ái dục Muốn cầu giải thoát
Sóng gió ngàn trùng Khổ não luân hồi
Đại dương khổ não Cần phải cấp tốc
Sâu thẳm vạn dặm Niệm Phật Di Đà
Nam mô Tây Phương Cực Lạc thế giới đại từ , đại bi tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật (3 lần).
Niệm Phật thầm (niệm Kim Cương): (niệm từ 20 - 30 phút ).
(Theo Pháp nhiếp tâm thập niệm ký số của Tổ Ấn Quang - Phần III bài “Niệm Phật như thế nào mới được Phật A Di Đà tiếp dẫn về Tây Phương Cực Lạc”).
VIII. PHÁT NGUYỆN VÀ HỒI HƯỚNG.
Nguyện sinh Tây Phương cõi Tịnh Độ
Chín phẩm hoa sen là cha mẹ
Hoa nở thấy Phật chứng vô sinh
Bồ Tát Bất Thoái là bạn lữ.
Nguyện đem công đức niệm Phật
Hồi hướng bốn ân ba cõi
Nguyện khắp pháp giới chúng sinh
Đồng sinh Tịnh Độ tròn Phật đạo.
GHI CHÚ.
1. Nghi thức chuyên tu niệm Phật sử dụng cho đạo tràng và cho cá nhân.
Nếu là cá nhân thì không cần chuông, mõ cũng được.
2. Thực hành khoá lễ theo 3 trình độ.
Trình độ 1: Mới lập đạo tràng hay cá nhân mới niệm Phật thì hành trì đầy đủ nghi thức.
Trình độ 2: Hành trì tương đối thành thục.
Bỏ phần III (không tụng bài sám Di Đà).
Phần IV: Không niệm Phật ra tiếng mà thầm niệm .
Trình độ 3: Hành trì đã thành thục .
Hành trì theo ba phần:
- Khấn nguyện.
- Niệm Phật thầm.
- Phát nguyện và hồi hướng.
(Thời gian tuỳ duyên).
BẢN THUYẾT MINH SƠ ĐỒ SƠ ĐỒ CHỈ RÕ CẢNH GIỚI CỦA PHẬT, CỦA CHÚNG SINH (THÁNH PHÀM) VÀ QUÁ TRÌNH TU HÀNH THEO PHÁP TỰ LỰC, THA LỰC ĐỂ VƯỢT QUA CỬA ẢI LUÂN HỒI SINH TỬ.
(Bảng sơ đồ ở trang cuối sách).
Hình ảnh
I.DÒNG: Gồm có 6 dòng.
Dòng 1:
Phật có ba thân gồm: ứng thân, báo thân, pháp thân.
Pháp thân là thân chung của chư Phật khắp mười phương pháp giới.
Báo thân là thân riêng của mỗi vị Phật.
Báo thân phân thân đi độ sinh thì gọi là Ứng thân.
Cả ba thân đều là một thể năng lượng hào quang nhưng có mức độ khác nhau.
-Ứng thân: ở mức năng lượng thấp nhất.
-Báo thân: ở mức năng lượng cao hơn.
-Pháp thân: ở mức năng lượng cao nhất.
Tùy theo cơ cảm khác nhau mà chúng sinh thấy được thân nào của Phật mà thôi:
-Nếu tu chứng mà đắc quả vị A La Hán, niệm Phật tha lực mà chứng Niệm Phật Tam Muội Sự, hoặc đới nghiệp vãng sinh thì thấy được Ứng thân Phật.
-Nếu tu chứng mà đắc Bát Địa Bồ Tát hoặc ở Tịnh độ mà chứng được Bồ Tát Bất Thoái thì thấy được Báo thân Phật.
-Nếu tu chứng mà đắc Cửu Địa Bồ Tát trở lên hoặc niệm Phật tha lực mà chứng Niệm Phật Tam Muội Lý, và tu tiếp thì dần dần thấy hết được Pháp thân Phật.
Như vậy thân Phật chỉ là một thể năng lượng luôn luôn hiện tiền, bao chùm khắp pháp giới.
Ví như chiếc đỉnh phải có đủ ba chân, chữ Y phải có đủ 3 gạch, không thể tách rời nhau được.
Dòng 2:
Chân tâm Phật: Bát Nhã Tâm Kinh gọi là tính chân không, là năng lượng bản thể giác tính.
Khoa học gọi là năng lượng thông tin, gồm có bốn trí:
-Thành sở tác trí
-Diệu quan sát trí
-Bình đẳng tính trí
-Đại viên kính trí.
Mức năng lượng thấp nhất (Ứng thân Phật), có trí tuệ Thành sở tác trí và Diệu quan sát trí (Lục thần thông).
Mức năng lượng cao hơn (Báo thân Phật), có thêm Bình đẳng tính trí.
Mức năng lượng cao nhất (Pháp thân Phật), có thêm Đại viên kính trí (đủ bốn trí).
Còn thêm Ba minh là :
-Thiên nhãn minh
-Túc mạng minh
-Lậu tận minh
năm nhãn là:
-Nhục nhãn
-Thiên nhãn
-Tuệ nhãn
-Pháp nhãn
-Phật nhãn
Dòng 3.
Tâm phàm phu gồm:
Thức tâm phan duyên: do sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) tiếp xúc với sáu trần (Sắc, thanh hương, vị, xúc, pháp) tạo ra sáu thức (nhãn thức, nhĩ thức, tỵ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức).
Chúng sinh mê lầm nhận là tự tính. Sáu thức này sinh diệt.
Thức tinh nguyên minh.
Hay căn bản Bồ Đề chính là nguồn sinh sống của mình mà không tự biết.
Duy thức luận gọi là thức thứ 8, hay thức A lại da, chính là thần thức vậy.
Dòng 4.
Chúng sinh mê lầm là do năm uẩn ngăn che trí tuệ mà sinh ra năm ấm: Sắc ấm, thọ ấm, tưởng ấm, hành ấm, thức ấm.
Là năm lớp mê lầm thuộc về vọng tâm.
Dòng 5.
Do tâm mê lầm mà sinh ra phiền não gọi là Lậu hoặc gồm: Kiến hoặc, Tư hoặc, Trần sa hoặc và Vô minh hoặc.
Dòng 6.
Thần thức theo nghiệp dẫn đi đầu thai vào lục đạo luân hồi, thuộc cảnh giới phàm (Tam giới).
Thần thức chuyển sinh sang cảnh giới Thánh:
-Niết bàn A La Hán
-Tịnh Độ của đức Phật A Di Đà
II.CỘT.
1. Bốn cột thuộc năm dòng trên:
Cột 1: Chỉ tâm Phật (giác).
Tâm chúng sinh (mê).
Cột 2: Chỉ rõ mối quan hệ lưu chuyển giữa tâm Phật (giác).
Tâm chúng sinh (mê) thuộc cảnh giới phàm.
Cột 3 và 4: Chỉ rõ mối quan hệ, lưu chuyển giữa tâm Phật (chân tâm) với Thức tâm nguyên minh (thần thức) thuộc cảnh giới Thánh.
2.Hai cột thuộc dòng thứ 6:
Cột 1: Cảnh giới Phàm (Tam giới) .
Cột 2: Cảnh giới Thánh (Tịnh Độ).
III. CỬA ẢI VƯỢT LUÂN HỒI SINH TỬ:
Tượng trưng bởi giao điểm của hai dòng kẻ:
1.Dòng kẻ dọc: chia đôi sơ đồ (kể từ dòng kẻ ngang thứ 3 trở xuống), tượng trưng cho đường biên giới của cảnh giới phàm phu và Thánh xuất thế gian.
2.Dòng kẻ ngang: là dòng kẻ thứ 4 kể từ trên xuống.
Tượng trưng cho con đường tu hành tự lực hay tha lực.
a/ Tu tự lực theo các pháp phương tiện mà phá xong sắc ấm, thọ ấm, tưởng ấm, nhập diệt tận định thì chứng quả A La Hán, cửa ải luân hồi liền mở.
Nếu mạng sống vẫn còn thì cảnh giới của A La Hán gọi là Niết Bàn hữu dư.
Nếu mạng sống chấm dứt, cảnh giới này gọi là vô dư Niết Bàn (mô tả ở dòng 6, cột 2 trong sơ đồ).
b/ Tu tha lực là Pháp môn Niệm Phật.
Nếu người tu là phàm phu tội chướng mà giữ được chính niệm (tin nguyện) cho đến trước khi lâm chung.
Đến khi lâm chung, Phật A Di Đà cùng Thánh Chúng hiện ra trước mặt nên người đó giữ được chính niệm, tức là tâm chân thật.
Đến sát na lâm chung, tâm chân thật chuyển thành tâm thanh tịnh, cửa ải luân hồi sinh tử mở, liền được Phật A Di Đà phóng quang tiếp dẫn về hạ hạ phẩm của Tây Phương Cực Lạc hay cõi Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà(mô tả ở dòng 6, cột 2 trong sơ đồ).
Nếu người tu không giữ được chính niệm hay người không tu cho đến trước khi lâm chung, ấm cảnh hiện làm cho tâm điên đảo.
Đến sát na lâm chung, là một loáng thời gian trước khi chết, cửa ải luân hồi sinh tử mở nhưng thần thức người tu hay không tu đó bị nghiệp lực cột chặt, lôi kéo đầu thai trở lại vào lục đạo luân hồi (3 cõi) (mô tả ở dòng 6, cột 1 của sơ đồ).
Nếu người tu chứng Niệm Phật Tam Muội cửa ải luân hồi sinh tử mở tung, người tu muốn trở về Cực Lạc lúc nào là tùy theo ý muốn.
Nếu chứng Niệm Phật Tam Muội Sự thì sinh về 3 phẩm Trung, nếu chứng Niệm Phật Tam Muội Lý thì sinh về 3 phẩm Thượng của Tây Phương Cực Lạc hay cõi Tịnh Độ của Phật A Di Đà (mô tả ở dòng 6, cột 2 của sơ đồ).
Cư sĩ Như Trụ kính biên soạn và lập sơ đồ.
Thế danh: Dương Nguyễn Thạch
Địa chỉ: 110 dãy B khu tập thể 3 tầng –
Phố Lê Hồng Phong – Quận Hà Đông – TP Hà Nội.
ĐT: (04)33511553


Hình ảnh
NHẬN THỨC VÀ TU HÀNH PHÁP MÔN NIỆM PHẬT THEO KINH PHẬT VÀ LỜI TỔ.
Cư sĩ Như Trụ
Nhµ xuÊt b¶n T«n gi¸o
53 TRÀNG THI – HÀ NỘI
§T: 37822845 - Fax: (04) 37822841
ChÞu tr¸ch nhiÖm xuÊt b¶n
Giám đốc - Tổng biên tập
NguyÔn c«ng o¸nh
Biên tập : Nguyễn Thị Hà
Sửa bản in : Cư sĩ Như Trụ
Trình bày : Minh Thu
In 1000 b¶n, khæ 14.5 x 20.5cm. T¹i C«ng ty TNHH In - TM & DV NguyÔn L©m
Sè xuÊt b¶n: 2096-2014/CXB/14-311/TG. Mã số ISBN: 978-604-61-1698-1
QuyÕt ®Þnh xuÊt b¶n sè 752/Q§-TG ngµy 17 th¸ng 10 n¨m 2014.
In xong vµ nép lư¬u chiÓu Quý IV - 2014.
thienlongthuy89
Cảm ơn, Bạn đã là thành viên chánh thức. Trong nhóm I
 
Bài viết: 14
Ngày tham gia: Thứ 3 08 Tháng 7, 2014 1:53 pm

Quay về Chuyên đề Tịnh Độ

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến1 khách

cron