Diễn đàn Tu viện Phật giáo Việt nam


Chú thích: Kinh A Di Đà Yếu Giải (1)

Thảo luận kinh điển Tịnh.

Các điều hành viên: Sen Hong, Bất Nhị, Phattutaigia

Chú thích: Kinh A Di Đà Yếu Giải (1)

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 4 29 Tháng 10, 2014 1:12 pm

Kinh A Di Đà Yếu Giải


Hán dịch: Cưu Ma La Thập. Yếu giải: Trí Húc. Việt dịch: Thích Tuệ Nhuận.



I. Thông Tự (Nghĩa là nêu lên pháp hội, thời kỳ, xứ sở, và đại cúng, nững ai được nghe pháp tu Tịnh Độ này. )


1. Chân lý màu nhiệm của Thực Tướng (Thực Tướng là tâm tính của con người) Thực tướng ấy từ xưa đến nay chẳng hề biến đổi, nó vẫn như như cho nên gọi là “ Như “. Người ta y vào Lý-Thực-Tướng mà niệm Phật, cầu sinh Tịnh Độ, là một pháp nó tạo ra quyết định không sai, cho nên nói là “Thị“.

Thực Tướng là cái ta chân thực, sống lâu mãi mãi, không giống cái thân người biến diệt đây, mà người đời nhận lầm nó là thân ta.
Nó chỉ là cái ta giả tạm. Ngài Anan không bỏ cái ta giả tạm ấy cho nên ngài vẫn xưng là “Ta”.

Căn tai của ngài phát ra cái biết nghe ở tai, chính Ngài được nghe tiếng Phật.
Cái nghe của ngài với cái tiếng của Phật giống như hai cái hư không in vào nhau, thì gọi là nghe.

Ý nói cái nghe với cái tiếng đều do Thực tướng tạo ra, cùng ở trong Thực tướng, giống như hai hư không in vào nhau thành một.

(Đoạn này thích nghĩa 4 chữ “Như thị ngã văn”. Trên đầu các kinh Phật nói bao giờ cũng có 4 chữ này, là một sự tối quan trọng. Khi Phật sắp nhập Niết Bàn, Anan hỏi “Sau này con chép kinh Phật thì phải chép như thế nào? “
Phật dạy “ Bao giờ cũng phải viết một câu Như Thị Ngã Văn lên trên hết.


GHI CHÚ: Theo nghĩa thế gian thì như thị có nghiã là như thế này hay như thế kia mà thôi. Như theo nghĩa huyền vi của nhà Phật thì mọi pháp thế gian đều có mười cái như thị như trong kinh Pháp Hoa đã nói, đó là:

Tính như thị, tướng như thị, thể như thị, lực như thị, tác như thị, nhân như thị, duyên như thị, quả như thị, báo như thị, và cứu cánh như thị.

Mỗi khi Phật muốn ấn chứng một pháp nào là chánh pháp, Phật thường nhắc đi nhác lại hai chữ “Như Thị”
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Chú thích: Kinh A Di Đà Yếu Giải

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 4 29 Tháng 10, 2014 1:45 pm

Trích dẫn: http://thuvienhoasen.org/p27a13426/a-di-da-kinh-hop-giai


b. Khai thị pháp môn phương tiện thù thắng:

Nhất tâm niệm Phật, bỏ hết muôn duyên, đó là Bố Thí Ba La Mật.
Nhất tâm niệm Phật, các ác đều dứt, đó là Trì Giới Ba La Mật.
Nhất tâm niệm Phật, tâm tự nhu hòa, chính là Nhẫn Nhục Ba La Mật.

Nhất tâm niệm Phật, vĩnh viễn chẳng thoái đọa, đó chính là Tinh Tấn Ba La Mật.
Nhất tâm niệm Phật, chẳng nghĩ đến điều gì khác, đấy chính là Thiền Định Ba La Mật.
Nhất tâm niệm Phật, chánh niệm phân minh, chính là Bát Nhã Ba La Mật.

Như vậy, nhất tâm niệm Phật là đầy đủ cả sáu Ba La Mật, nên không cần phải tu trọn lục độ, vạn hạnh.

h. Do hữu niệm chứng nhập vô niệm:
Chân Như tự tánh ai nấy sẵn có, vốn dĩ vô niệm. Tiếc là từ vô thỉ đến nay, do một niệm vọng động khiến cho bao tạp niệm trùng trùng, tạo tác mãi bao ác nghiệp, chết đây sanh kia, không lúc nào ngơi.

Như sóng và nước vốn cùng một thể, chân cùng vọng danh khác thể đồng. Bởi đó, chân tâm lẫn vọng tâm chẳng ngoài một niệm hiện tiền của chúng ta.

Nay pháp môn Niệm Phật đây dùng tịnh niệm trừ khử vọng niệm,
dùng tế niệm thay thế thô niệm,
dùng thiện niệm dứt ác niệm,
dùng nhất niệm đối trị vạn niệm,

tức là “dùng độc trị độc, dùng quân dẹp quân, dùng niệm dứt niệm”.

Khi độc đã hết, giặc đã bình, thuốc lẫn quân còn dùng chi nữa! Bởi thế, khi đã niệm đến mức nhất tâm bất loạn, thì sẽ niệm mà vô niệm; đấy chính là chân niệm.

Chân niệm ấy chính là chân như tự tánh, ta và Phật không còn phân biệt nữa!


i. Dùng vãng sanh để ngộ nhập vô sanh: Lý do vì sao, cầu vãng sanh

Về lý, tuy chúng sanh và Phật đồng một thể tánh, nhưng xét trên sự, thánh phàm cách biệt muôn trùng.

Xét ra: Khi sanh thì duyên sanh, nhưng pháp tánh chẳng hề sanh cùng với duyên. Khi diệt thì duyên diệt nhưng pháp tánh cũng chẳng bị diệt theo duyên.

Vì thế, nếu còn mê thì dù có nói là vô sanh nhưng vẫn sanh. Nếu luận theo pháp tánh thì dù có sanh nhưng vẫn là vô sanh. Vì mê muội, chúng sanh lầm thấy có sanh diệt. Do đã ngộ, chư Phật chỉ thấy vô sanh.

Đức Phật thương xót chúng sanh cõi này, nhận vọng là chân, mê tánh chạy theo cảnh, nên từ bi nói ra pháp môn Niệm Phật, khích lệ đại chúng vãng sanh. Nếu hành nhân niệm đến khi mọi vọng duyên đều tan sạch, tâm chỉ còn một khối, sẽ thể hội tâm ta chính là Phật A Di Đà, A Di Đà Phật chính là tâm ta; nào còn thấy sanh hay vô sanh nữa!
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Chú thích: Kinh A Di Đà Yếu Giải

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 4 29 Tháng 10, 2014 2:06 pm

Trích dẫn: http://thuvienhoasen.org/p27a13426/a-di-da-kinh-hop-giai


II. HIỂN THỂ (minh định thể tánh của kinh này)


Thể” là thể tánh (bản thể, bản chất). Thể tánh của một bản kinh được gọi là Giáo Thể, đôi khi còn gọi một cách tổng quát là Lý Thể.
Theo đại sư Bân Tông: “Lìa hết thảy các tướng thì gọi là Tánh; chỗ hết thảy các nghĩa quy về gọi là Lý. Nghĩa trọng yếu của các pháp gọi là Thể”.

Phô bày minh bạch yếu chỉ của một bản kinh, nêu rõ chỗ quy hướng của các giáo nghĩa được dạy trong kinh ấy thì gọi là “hiển thể”.


Nói một cách khác, hiển thể một bản kinh chính là minh định chân lý sẽ được phô diễn bởi bản kinh ấy. Một bản kinh nếu không có Thể thì thành ra ma thuyết, ví như một kẻ chỉ có cái tên, chẳng có thân thể thật.
Mỗi một câu, một chữ trong kinh Phật đều nhằm mục đích vận dụng ngôn ngữ, danh tự để người nghe lãnh hội được chân lý.
Bởi vậy, muốn thể hội được huyền nghĩa của kinh, điều tiên quyết là phải nhận chân thể tánh của kinh ấy là gì.


Nói chung, tất cả các kinh Đại Thừa đều lấy Thật Tướng làm Thể.


Thật Tướng chính là cái tâm hiện tiền của chúng ta, vô hình, vô tướng, chẳng sanh, chẳng diệt, rỗng rang, bao trùm vạn pháp, không sót một mảy gì. Muôn pháp sanh diệt chỉ là những điều hư vọng ảnh hiện trong tâm.


Chân tâm của ta dẫu suốt ngày ở trong vọng, nhưng luôn chân thường. Tâm ấy dẫu hằng tiếp xúc với muôn vật, muôn pháp, vẫn thường sáng tỏ, phân biệt mọi sự, mọi pháp rõ ràng không chướng ngại.

Kinh thường diễn tả bằng câu “linh quang độc diệu, hồi thoát căn trần” (có thể tạm hiểu là: xét về bản thể, tâm ấy thiêng liêng, sáng suốt, duy nhất, chiếu rực, không vướng vào căn, trần. Gọi là thiêng liêng vì tác dụng nhận biết của tâm ấy luôn hiện hữu,
không bị biến cải, không sai sót. Sáng suốt vì không bị trần cảnh làm ô nhiễm. T
âm ấy nhận thức rõ mọi pháp không ngăn ngại nên gọi bảo là chiếu rực. Tâm Phật và tâm chúng sanh đồng một thể nên gọi là duy nhất)


Thật Tướng có thể chia thành hai loại:

1. Vô Tướng Thật Tướng: lìa hết thảy tướng điên đảo, hư vọng chính là Thật Tướng chân như, bình đẳng.


2. Vô Bất Tướng Thật Tướng: trong các pháp sanh diệt, tồn tại một tánh bất sanh, bất diệt. Tướng sanh diệt hư vọng ấy chỉ là biệt tướng (tướng riêng của mỗi pháp). Những tướng sanh diệt hư vọng ấy dù thiên sai vạn biệt, nhưng đều không có thực thể, cho nên gọi là “vô tướng”.

Nhưng tánh bất sanh bất diệt lại chân thật chẳng hư vọng, chúng sanh và Phật đồng một thể, thánh phàm chẳng hai. Cái Chân Như thật tánh bình đẳng ấy lại chẳng phải là vô tướng, nên gọi là “vô bất tướng”.


Để dễ hình dung xin mượn một thí dụ: sóng phát sanh từ nước, sóng chính là nước. Sóng có to nhỏ, nhưng tánh ướt chẳng đổi.
Cũng thế, tánh Chân Như bình đẳng bất biến, nhưng tùy duyên có thể sanh khởi những tướng trạng sai biệt cho vạn vật, tùy duyên nhưng bất biến.
Bởi thế, xét đến bản chất thì mọi tướng trạng sai biệt của vạn pháp, không tướng nào chẳng lấy tánh Chân Như bình đẳng làm thể.


Nếu xét tỷ mỉ, mỗi kinh lại lấy một khía cạnh của Thật Tướng làm thể. Chẳng hạn,

kinh Hoa Nghiêm lấy “nhất chân pháp giới” làm thể,
kinh Lăng Nghiêm lấy Như Lai Tạng Diệu Chân Như tánh làm thể.

Riêng về kinh Di Đà, chư sư cùng đồng ý kinh này lấy Thật Tướng làm tổng thể. Pháp sư Văn Châu giải thích:

“Kinh này chú trọng niệm Phật đến nhất tâm bất loạn, đấy chính là Thật Tướng mà cũng chính là Chân Như. Vì thế, cũng giống như các kinh điển Đại Thừa khác, kinh này lấy Thật Tướng ấn làm giáo thể...

Nếu xét trên phương diện sự tướng niệm Phật, phải lấy sự trang nghiêm của y báo, chánh báo cõi Cực Lạc làm Thể.

Đối với bậc thượng căn lợi trí, từ hữu tướng niệm Phật, họ sẽ đạt đến vô tướng niệm Phật, hiểu thấu suốt một niệm hiện tiền chẳng phải ở trong, chẳng ở ngoài, chẳng ở khoảng giữa, chẳng phải quá khứ, hiện tại, vị lai, chẳng phải xanh vàng đỏ trắng, chẳng phải ngắn dài, vuông, tròn, thậm chí vô phi, bất phi, lìa hết thảy tướng tức là hết thảy pháp.

Ngay khi đó, Pháp Thân hiển hiện, Tịch Quang hiển hiện, còn phân biệt gì là y báo, chánh báo trang nghiêm nữa! Bởi thế giáo thể của kinh này hoàn toàn là Thật Tướng.



...Y báo, chánh báo trang nghiêm của cõi Phật Di Đà đều phát xuất từ Chân Như tự tánh, cho nên kinh này lấy Chân Như Bình Đẳng Thật Tướng làm Thể”.
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Chú thích: Kinh A Di Đà Yếu Giải

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 4 29 Tháng 10, 2014 2:13 pm

Thật tướng niệm Phật tức niệm mà không niệm, không niệm mà niệm, lúc đó hành giả đi vào tham thiền.

Cho nên người hiểu rõ niệm Phật chân chính không phản đối tham thiền; người hiểu rõ tham thiền chân chính cũng chẳng phản đối niệm Phật.
Chẳng những không phản đối niệm Phật mà cũng chẳng phản đối Giáo, Luật, Mật, Tịnh nhưng hợp lại thì "nhất tông bất lập," một tông cũng chẳng có, tất cả đều hổ trợ lẫn nhau, tông này cùng tông nọ đều có mối tương quan với nhau.


Chúng ta là chúng sanh chẳng nên tự sanh tâm phân biệt, chẳng nên "đầu thượng an đầu" trên đầu còn đặt thêm đầu nữa, nói rằng: "Thiền tông là Thiền tông, Mật tông là Mật tông, chẳng có tương quan gì cả."


Không phải như vậy! Tất cả các tông vốn là một, vốn chẳng có phân biệt quá nhiều như vậy, chỉ vì chúng sanh không có việc chi làm, muốn tìm cái gì để làm, cho nên phân ra đây một tông, đó một tông; nam một tông; bắc một tông; đông một tông; tây một tông, trên một tông, dưới một tông, rốt cuộc chẳng biết tôi thuộc tông nào, ông thuộc tông nào.



Tại Mỹ thường có người hỏi tôi: "Chẳng hay thầy thuộc tông nào?" Tôi đáp: "Chẳng tông nào cả. Nếu tôi thuộc một tông thì tôi đang ở trong một phạm vi hạn hẹp; tôi chẳng thuộc tông nào thì tận hư không, cùng khắp pháp giới đều là của tôi, bao trùm tất cả.

Tại sao tôi lại tự vẽ cho mình một phạm vi nhỏ bé, tạo ra một giới hạn chật hẹp, nói rằng mình thuộc một tông nào đó?

Tôi thuộc Phật giáo, không có tông mà cũng chẳng có phái lại cũng chẳng có môn mà cũng không có hộ. Tôi với tông nào cũng là một." Tôi thường nói thế này:



Chân nhận tự kỷ thác,
Mạc luận tha nhân phi,
Tha phi tức ngã phi,
Ðồng thể danh Ðại Bi.

(Thành thật nhận lỗi mình,
Chớ bàn luận lỗi người,
Lỗi người tức lỗi mình,
Ðồng thể tức Ðại Bi.)


Hãy nhìn nhận một cách thành thật lỗi lầm của mình, không nên bàn luận lỗi lầm của người khác, kẻ khác có lỗi lầm tức mình có lỗi lầm, lỗi lầm của họ cũng là lỗi lầm của mình, phải tìm cách tự sửa sai mới đúng.

Chớ nên bất cứ lúc nào miệng cũng luôn nói: "Không đúng, không đúng, không đúng, không đúng!" Thử hỏi như vậy có ích lợi chi?

Cho nên có câu: "Ðồng thể danh Ðại Bi," vì tất cả đều là một thể, đó là đại bi tâm. Quý vị đi đâu để tìm đại bi tâm? Quý vị tìm nó từ bản thân của quý vị, chẳng cần đi tìm cầu bên ngoài.



Như vậy thật tướng niệm Phật tức là tham thiền. Do đó quý vị Thiện tri thức chớ nên làm một đệ tử bất hiếu của Phật Thích Ca Mâu Ni, chớ nên luôn quấy nhiễu, chớ nên gây tổn thương tình ruột thịt, chớ nên tự tạo rắc rối cho mình. Ðó là kỳ vọng của tôi đối với Phật giáo hiện đại.(Hòa Thượng Tuyên Hóa)
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Chú thích: Kinh A Di Đà Yếu Giải

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 4 29 Tháng 10, 2014 2:22 pm

Trích dẫn: Niệm Phật thập yếu http://www.budsas.org/uni/u-niemphat/npty05.htm


1. Thật Tướng Niệm Phật, tức là nhập vào đệ nhất nghĩa tâm, là niệm tánh Phật bản lai của chính mình.

Đây là quán pháp thân thật tướng của Phật, kết quả sẽ chứng được Chân Như Tam Muội.

Phương pháp này vẫn thuộc về Thiền, nhưng cảnh giới do tâm Thiền hiển lộ lại là Tịnh Độ, nên cũng nhiếp về Tịnh Độ.

Pháp này không gồm thâu bậc trung, hạ căn, và nếu không phải là bậc thượng thượng căn, tất không thể ngộ nhập.

Vì thế trong tông Tịnh Độ ít có người đề xướng, mà phần hoằng hóa lại thuộc về các vị bên Thiền Tông.


Nhưng theo thiển ý: khi còn đi trên đoạn đường hành trì chưa đạt đến địa vị viên giác, thì tất cả pháp môn đều thuộc về phương tiện, niệm Phật cũng là phương tiện mà tham thiền cũng là phương tiện.

Theo ba kinh Tịnh Độ, đức Thích Tôn mở phương tiện chỉ bày cõi Cực Lạc của Phật A Di Đà, khuyên chúng hữu tình nên niệm Phật cầu sanh về thế giới ấy để không còn bị luân hồi, mượn cảnh duyên thắng diệu tiếp tục tu hành mau tiến lên Phật quả.


Niệm Phật tinh chuyên cũng tỏ ngộ như bên Thiền Tông, nhưng điểm chánh yếu của môn Niệm Phật là cầu vãng sanh, còn tỏ ngộ được bao nhiêu cũng thuộc về phần thứ yếu.


Cho nên pháp Thật tướng niệm Phật, luận về chỗ cứu cánh, vẫn nhiếp thuộc Tịnh Độ. Nhưng nếu nói đến phương tiện vãng sanh nó vẫn chưa chính thức thuộc về Tịnh Độ, như ý nghĩa ba kinh Tịnh Độ mà đức Thích Tôn đã đề xướng.

Có lẽ do điểm này nên chư Tổ bên Tịnh Tông chỉ đề cập để cho rộng thêm về nghĩa lý Tịnh Độ, mà không rộng tuyên hóa để khuyên người tu chăng?
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland


Quay về Chuyên đề Tịnh Độ

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến2 khách

cron