Diễn đàn Tu viện Phật giáo Việt nam


Luận giải Kinh Chánh Tri Kiến

Chuyên đề tham khảo Thiền Nam Tông

Các điều hành viên: Sen Hong, Bất Nhị

Luận giải Kinh Chánh Tri Kiến

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 6 27 Tháng 6, 2014 8:07 pm

Trích dẫn: luận giải kinh Chánh Tri Kiến Tỳ khưu Chánh Minh.

Đoàn Thực

Chánh kinh.

“Chư Hiền, thế nào là thức ăn, thế nào là tập khởi của thức ăn, thế nào là đoạn diệt của thức ăn, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt của thức ăn?

Chư Hiền, có bốn loại thức ăn này, khiến các loài hữu tình đã sanh được an trú.

hay các loài hữu tình sẽ sanh được phò trợ .


Thế nào là bốn?
-
Đoàn thực thô hay tế (ālāra oḷāriko và sukhumo),
-
xúc thực là thứ hai (phasso dutiyo),
-
tư niệm thực là thứ ba (manosañcetana tatiyo),
-
thức thực là thứ tư (viññanaṃ catuttho).

Từ tập khởi của Ái có tập khởi của thức ăn (taṅhā samudayā āhārasamudayo).
Từ đoạn diệt ái có đoạn diệt thức ăn (taṅhānirodha āhāranirodho).


Thánh đạo tám ngành (ariyo aṭṭhanigiko maggo) là con đường đưa đến đoạn diệt của thức ăn, tức là: Chánh kiến (sammādiṭṭhi), chánh tư duy (sammāsaṅkappo), chánh ngữ (sammāvācā), chánh nghiệp (sammākammanto), chánh mạng (sammā-ājīvo), chánh tinh tấn (sammāvāyāmo), chánhniệm (sammāsati), chánh định (sammāsamādhi)”.

****

Nguồn: http://www.budsas.org/uni/u-chanhminh/ctk03.htm

*******
Diễn đàn:
*******

Từ tập khởi của Ái có tập khởi của thức ăn (taṅhā samudayā āhārasamudayo).
Từ đoạn diệt ái có đoạn diệt thức ăn (taṅhānirodha āhāranirodho).
Tập khởi nghĩa là gì?

Ái ở đây thì gọi là gì?

(Còn tiếp...)

******
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Luận giải Kinh Chánh Tri Kiến

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 7 05 Tháng 7, 2014 3:32 pm

Từ tập khởi của Ái có tập khởi của thức ăn! - Tức từ sự có thói quen ''Ái'' tham mùi vị ma sanh khởi thèm ăn... Nếu chúng ta không có vị giác của lưỡi cũng không có thói quen này.
Từ là đoạn diệt ái có rồi thì thức ăn cũng đoạn diệt.
*********************
I. Đoàn thực (kalaḷīkāra āhāra).[/i]

Đoàn thực là những miếng ăn, hay là dưỡng tố có trong miếng ăn.

Có câu giải tự: Kalaḷīkāro āhāro āhārarūpaṃ nāma:
Gọi là đoàn thực là sắc vật thực (tức là chất bổ dưỡng trong miếng ăn).

Thành phần cơ bản của sắc vật thực là “đất, nước, lửa, gió”, chính “dưỡng tố (ojā)” mới là quan trọng.

Một cọng rau hay miếng thịt chỉ là “cách gọi tên (chế định)” chứ bản chất thực của chúng đều là đất, nước, lửa, gió, chúng chỉ khác nhau về dưỡng tố.

Theo thực tính pháp (sabhāvadhamma), sắc vật thực là tinh chất của tứ đại, nói cách khác nương từ tứ đại, sắc vật thực hình thành.
***********************************
***********************************
II. Có hai loại sắc vật thực là:

- Sắc vật thực bên ngoài (bahidhāhāra): Là những chất bổ dưỡng từ bên ngoài đưa vào thân thể.
- Sắc vật thực bên trong (ajjhattāhāra):Là chất bổ dưỡng của mỗi bọn sắc trong thân thể chúng sinh, đây là loại sắc thành tựu do nghiệp thủ (kammupādāna).

Kinh văn ghi “đoàn thực thô hay tế” là chỉ cho loại sắc vật thực bên ngoài, thô hay tế mang tính tương đối:
- Đoàn thực thô, tế.

*- Vật thực cứng gọi là thô (oḷāriko), vật thực mềm gọi là tế (sukhumo).
Cứng hay mềm chỉ là cách so sánh tương đối, gân mềm so với xương nhưng cứng so với thịt, thịt mềm so với gân nhưng cứng so với mở...

*- Vật thực có nhiều dưỡng tố là vật thực tế, ít dưỡng tố là vật thực thô.
Một người dùng chén cháo trắng đầy, không bao lâu lại cảm thấy đói, trái lại người dùng chén canh có nhiều dưỡng tố có thể no cả ngày.
Vật thực và dưỡng tố liên quan mật thiết với nhau, vật thực làm tan biến sự đói khát, nhưng không bảo dưỡng được sinh mạng chúng sinh, dưỡng tố bảo dưỡng duy trì được sinh mạng chúng sinh, nhưng không diệt trừ được đói khát.
Vật thực và dưỡng tố kết hợp nhau vừa dứt trừ sự đói vừa bảo dưỡng được sinh mạng chúng sinh.


Có câu hỏi rằng: Vật thực bảo dưỡng cho các pháp khác được tồn tại và tăng trưởng? Vậy pháp nào bảo dưỡng cho vật thực?

Đáp: Chính vật thực tự bảo dưỡng cho mình. Ví như người mẹ bảo dưỡng hài nhi, giúp hài nhi lớn mạnh, chính người mẹ cũng tự bảo dưỡng mình.

Chúng sinh năm uẩn đang và sẽ hiện hữu với bốn loại thức ăn.

Chúng sinh bốn uẩn đang và sẽ hiện hữu với ba loại thức ăn: xúc thực, tư niệm thực và thức thực.

Chúng sinh Vô tưởng đang hiện hữu (ṭhīti) với sắc mạng quyền do nghiệp tạo, sắc mạng quyền là thành quả của tư niệm thực, tuy hiện tại không có tư niệm thực nhưng thành quả còn đó xem như có tư niệm thực, ví như di chúc của người quá cố.
Khi chúng sinh cõi Vô tưởng mệnh chung, thức tái sinh hiện khởi do duyên tư niệm thực.
(còn tiếp...)
********************
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Luận giải Kinh Chánh Tri Kiến

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 4 09 Tháng 7, 2014 4:28 pm

Hiểm họa của đoàn thực là ái luyến sắc thân.


I.
Vật thực nuôi dưỡng thân, thân được xinh tốt là do vật thực có nhiều dưỡng tố, đồng thời chính vị chất của dưỡng tố làm tâm đắm nhiễm.

Vật thực là một nhu cầu không thể thiếu được của chúng sinh trong cõi Dục.
Chính vì nhu cầu này nên chúng sanh phải đi tìm kiếm (ngoại trừ những chúng sanh có nhiều quả lành như Chư thiên).

Sự tìm kiếm vật thực không phải dễ dàng, loài người phải làm việc vất vả mới có được.
Chính vì vật thực mà người ta có thể tạo ra những ác bất thiện pháp như sát sanh, trộm cắp, lừa dối, giết hại lẫn nhau…

Ngay cả loài thú cũng vì miếng ăn, đôi khi chúng phải đổ máu, mang thương tật hay bị thiệt mạng.
Nhiều tai nạn, bất trắc, ác bất thiện pháp nảy sinh từ miếng ăn, đây là hiểm họa của vật thực.

Đói khát là sự sợ hãi lớn, hằng đè nặng tâm của chúng sinh, đói khát là một chứng bịnh trầm kha không bao giờ dứt.

Thông thường, khi đau ốm người ta dùng những dược chất thích hợp để trị, bịnh sẽ thuyên giảm rồi dứt hẳn, nhưng bịnh đói thì bất trị, hễ ăn no rồi sau đó lại đói.
“Jighachā paramā rogā: Đói là chứng bịnh tối trọng”.



II.
Trong Trung bộ kinh II, bài kinh Catuma, có nêu lên:

“Ví như người lội xuống nước có bốn điều sợ hãi chờ đợi là: Sợ hãi về sóng, sợ hãi về cá sấu, sợ hãi về nước xoáy, sợ hãi về cá dữ. Cũng vậy, bậc xuất gia cũng có bốn điều sợ hãi chờ đợi là: Sợ hãi về sóng, sợ hãi về cá sấu
, sợ hãi về nước xoáy và sợ hãi về cá dữ.

Sợ hãi về cá sấu
là sợ đói, không kham nhẫn trong vật thực vị Tỳkhưu có thể vì đói khát mà hoàn tục, hoặc do đắm nhiễm trong vị ngon của vật thực phải trở về với đời sống thế gia. Câu truyện sau đây là minh chứng. (Còn tiếp...)

****
Lời bình:

Vấn đề ăn uống là một vấn đề tối quan trọng. Nếu là người dùng chay lạc thì cũng cần hiểu thêm về dinh dưỡng của thực vật để nuôi dưỡng cơ thể thế nào cho tốt. Còn người cư sĩ tại gia thì có vu vi một chút về cách ăn uống. Nhưng cũng phải làm sao đừng vì miếng ăn mà tạo nhân ác thì không tốt.
***


Có người đặt nghi vấn, tu là phải kham khổ thì hạnh mới lành, cớ sao ngộ thế.

Người tu là người đang mong cầu giải thoát, chớ sao lại tu mà còn lo ăn uống thì có phải là người tu thật hay tu về nhu cầu ăn uống?

- Như vậy, quí vị thấy thế nào chia sẽ thêm!
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Luận giải Kinh Chánh Tri Kiến

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 5 10 Tháng 7, 2014 9:24 am

Truyện đoàn thực: Tôn giả Cūlapiṇḍapatika Tissa.
1. Thanh niên Tissa là con độc nhất của một gia đình giàu có trong thành Vương xá.
Một hôm được nghe pháp từ Đức Thế Tôn, vị ấy suy nghĩ:
“Theo lời dạy của Đức Thế Tôn thì đời sống tại gia, giới hạnh không được bóng sáng như vỏ ốc xa cừ được đánh bóng. Vậy ta hãy xuất gia”.
2.Thế rồi, Tissa về nhà xin với cha mẹ cho phép chàng xuất gia, cha mẹ chàng không đồng ý, Tissa bỏ ăn 7 ngày như công tử Ratthapāla (Kinh Trung bộ, số 83) và chàng được xuất gia.
Sau khi xuất gia, Tôn giả Tissa đi đến thành Sāvatthī (Xávệ) trú ngụ nơi Jetavanavihāra (Tinh xá Kỳ viên), thực hành hạnh đầu đà “đi khất thực ăn”, nên Ngài được gọi là Cullapiṇḍapatika Tissa.

3.Tại thành Vương xá (Rājagaha), nhân một ngày lễ hội, cha mẹ của Tissa lấy đồ trang sức của Tissa thường dùng bỏ vào trong hộp bạc, cầm hộp bạc đặt trên ngực mình than khóc:
- Trong những ngày lễ hội, con ta thường mang những trang sức này. Sa môn Gotama mang đứa con yêu quý nhất của chúng ta đến thành Xávệ. Nay con chúng ta ngồi ở đâu? Đứng ở đâu?

Một kỹ nữ xinh đẹp đi ngang qua, thấy bà trưởng giả than khóc, liền hỏi vì sao bà than khóc. Bà trưởng giả kể lại câu chuyện, nàng kỹ nữ hỏi thăm:
- Thưa bà, con trai bà ưa thích gì?
- Nó ưa thích thứ này, thứ này…
- Nếu bà cho con chủ quyền hoàn toàn trong gia đình này. Con sẽ đem con trai bà về.
Bà trưởng giả đồng ý lời đề nghị của nàng kỹ nữ, cho tiền phí tổn đến nàng bảo rằng:
- Hãy đi và dùng sức mạnh của nữ nhân đem con trai ta về.

4. Nàng kỹ nữ đi đến thành Sāvatthī (Xávệ), thuê căn nhà có 7 tầng lầu trên đường Ngài Cullapiṇḍapatika Tissa đi khất thực.
Khi Tôn giả đi khất thực ngang qua nhà nàng, nàng cúng dường vật thực loại thượng vị vào bát Tôn giả.
Vài ngày sau nàng cho tiền bọn trẻ, bảo bọn trẻ tung bụi lên khi nàng cúng dường vật thực cho Tôn giả Cullapiṇḍapatika Tissa. Bọn trẻ làm theo lời dặn, nàng bạch với Tôn giả:
- Thưa Ngài, bọn trẻ quấy rối quá, xin Ngài hãy ngự vào trong nhà.
Tôn giả đi vào trong nhà nhận vật thực, vài ngày sau nàng lại cho tiền bọn trẻ, bảo chúng hãy ném gạch đá vào nhà, rồi nàng thỉnh Tôn giả ngự lên lầu một.
Theo cách thức ấy, nàng đưa Tôn giả đến lầu bảy.

5.Tôn giả Cullapiṇḍapatika Tissa vì tham vị chất ngon ngọt, đã rơi vào bẩy của nàng kỹ nữ. Khi lên đến lầu bảy nàng khêu gọi dục tình của Tôn giả Cullapiṇḍapatika Tissa và Tôn giả đã phá hoại giới cấm, từ bỏ đời sống xuất gia trở về đời sống thế tục.
***
**
*
...Nghe được kệ ngôn, Tôn giả Sundarasamudda đình chỉ dục vọng, đưa tâm quán xét chứng quả Alahán, Ngài dùng thần thông xuyên qua nóc nhà cô kỹ nữ về đến Jetavanavihāra (Tinh xá Kỳviên), đảnh lễ Đức Thế Tôn.

6. Lại nữa, một người dùng vật thực nhiều dưỡng tố và đầy đủ, xác thân sẽ tươi nhuận xinh đẹp, trái lại do thiếu vật thực, thân xác gầy guộc, xấu xí…
Do thân thể xinh đẹp, người này có thể rơi vào ái luyến thân của mình, từ đó dẫn đến tham đắm các mỹ phẩm sắc, hương, cùng các vật trang điểm khác để tô điểm thân xác này thêm xinh đẹp.
Thế là tâm đắm chìm trong dục (kāma) dẫn đến luân hồi trong cõi dục, đây là một trong những hiểm họa của đoàn thực.
***
**
*
7. Điển hình là nàng Abhirūpanandā (em gái Ngài Nanda, con của bà Pajāpati Gotamī) thuộc gìòng Thích ca, được xuất gia trong Pháp luật này, chỉ vì ái luyến thân xinh đẹp của mình nên không chịu đi nghe Pháp từ Đức Thế Tôn.
Tuy nhiên, khi duyên lành hội tụ, Tỳkhưu ni Abhirūpananda đến nghe Pháp từ Đức Thế Tôn, Đức Phật dùng thần thông hóa ra một nữ nhân xinh đẹp đứng quạt hầu Ngài.
Nữ nhân này nhan sắc rất diễm lệ, sắc đẹp của nàng Abhirūpananda so với sắc đẹp của nàng chẳng khác nào con quạ đen so với con công.
Khi tâm trí nàng Abhirūpanandā chỉ còn biết lặng ngắm nữ nhân xinh đẹp, Đức Thế Tôn khiến thiếu nữ phát triển từ từ, có một con, 2 con … rồi già, bịnh, chết.
Tấm thân xinh đẹp trước đây, khi ấy chỉ còn là một khối sình thối, rữa nát... Nàng chợt tỉnh ngộ, tiếp theo Đức Phật dạy kệ ngôn:
Aṭṭhinaṃ nagaraṃ kataṃ. Maṇsalohitalepanaṃ.
Yattha jarā ca macu ca. Māno makkho ca ohito.
“Thành trì (này) dựng lên bằng xương, đấp thịt và máu bên ngoài, trong đó tích trữ bịnh tật, chết chóc, ngã mạn và phỉ báng.
Nghe xong bà chứng quả Alahán trở thành vị nữ Thánh nữ Alahán.(Tỳ khưu Chánh Minh)
**********
Lời bàn:
Đoàn thực hay gọi là thức ăn uống dinh dưỡng để nuôi sự sống của người. Nhưng cũng chính gì đoàn thực này sẽ tạo ra nhiều nguyên nhân gây ác... (Vi dụ: thân thể no đủ thì phát sanh lòng dục; người đẹp thì cũng có thể phát sanh luyến ái, tham ái.v.v. Thành gặt hái quả khổ, chỉ vậy. ''Xem lại tích chuyện trên...)
Tóm lại: hành giả tu tập tứ niệm xứ, không phải chỉ hiểu ''đoàn thực'' nguy hiểm thế nào, mà còn phải huân tập thân tâm không thể lụy về nó. Như vậy mới thật là thực hành ''Thân niệm xứ'' cả tướng sự và lý vậy.
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Luận giải Kinh Chánh Tri Kiến

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 7 12 Tháng 7, 2014 3:39 pm

1.Đoàn thực ví như người phải ăn thịt chính con của mình.
Phần I:
Đoạn kinh văn miêu tả như sau: Ví như hai vợ chồng cùng với đứa con khả ái, thương mến, họ mang theo một ít lương thực, đi qua một quảng đường hoang vu.
Thế rồi, lương thực hết quảng đường còn dài, khi đứa con chết hai vợ chồng đành dùng thịt con mình làm lương thực, để vượt qua vùng hoang dã.

Phật dạy: “Này các Tỳkhưu, các ngươi nghĩ thế nào? Chúng ăn món ăn có phải để vui chơi? Hay chúng ăn món ăn để tham đắm? Hay chúng ăn món ăn để trang điểm (thân)? Hay chúng ăn để được béo tốt? “
- Thưa không phải vậy, bạch Thế Tôn.
- Có phải chúng ăn món ăn chỉ với mục đích vượt qua vùng hoang vu.
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
- Cũng vậy, này các Tỳ-khưu, Ta nói, đoàn thực cần phải nhận xét như vậy.
Này các Tỳkhưu,
khi đoàn thực được hiểu biết, thời lòng tham đối với năm dục trưởng dưỡng được hiểu biết.


Khi lòng tham đối với năm dục trưởng dưỡng được hiểu biết, thời không còn kiết sử
, do kiết sử này một vị Thánh đệ tử bị trói buộc để phải sanh lại đời này” (sđd).

Phần II.
2.Sách Thanh Tịnh Đạo có giải thích [26].
2.1- Không phải để vui chơi.
Là dùng vật thực không phải với mục đích để vui đùa như những thanh niên nam nữ.
Không phải để vui chơi “ám chỉ từ bỏ si, làm cho si không tăng trưởng”.
2.2- Không phải để tham đắm.
Là dùng vật thực không phải với mục đích say mê, như võ sĩ say mê với sức mạnh.
Lẽ thường, những võ sĩ tìm những loại thức ăn thích hợp để tăng cường sức mạnh. Cũng vậy, vị Tỳ-khưu không đi tìm những loại thức ăn hợp khẩu vị theo mong muốn, vị Tỳ-khưu không đòi hỏi “thức ăn này phải như vầy... như vầy...”, để tăng cường sức lực cho thân.
Đức Phật có dạy: “Vị xuất gia cần phải nên quán sát: Sự sống của ta tùy thuộc vào người khác nên bậc xuất gia phải là người dễ nuôi dưỡng [27]”, không đòi hỏi những loại vật thực thích hợp với khẩu vị.
Câu “không phải tham đắm” là từ bỏ sân, không làm cho sân tăng trưởng.
Vì sao? Vì khi nhận những loại vật thực không theo ý sẽ làm sân sinh khởi, nhận nhiều lần loại vật thực không ưng ý khiến sân tăng trưởng.
2.3- Không phải để trang sức.
Là dùng vật thực không phải với mục đích làm cho thân thể có vóc dáng xinh đẹp như những vũ nữ của Đức vua, những kỹ nữ... những người này dùng vật thực với mục đích “làm cho thân thể trở nên hấp dẫn người khác”.
Vị Tỳ-khưu dùng vật thực không phải với mục đích “có được thân thể xinh đẹp, tươi tốt”.
2.4- Không phải để béo tốt.
Là không dùng vật thực với mục đích làm cho thân thể được tăng trưởng nhiều thịt, nhiều mở.
Không phải để trang sức” và “không phải để béo tốt” là từ bỏ tham, không làm tham tăng trưởng.

Phần III.
Bản sớ giải kinh Chánh tri kiến [28] có nêu lên chín thứ thịt đáng nhờm gớm là:
1- Thịt của bản thân mình.
2- Thịt của quyến thuộc.
3- Thịt của con mình.
4- Thịt của người yêu quý.
5- Thịt của trẻ nhỏ.
6- Thịt sống.
7- Thịt không phải đễ ăn.
8- Thịt phải ăn khi không muốn ăn.
9- Thịt không được nướng chín.
Do đó, khi dùng vật thực nên quán tưởng “loại vật thực đang dùng là một trong 9 thứ thịt đã nêu”. (Còn tiếp)
*****************
Lời bàn: trong bài này chúng ta chia làm 3 phần cho dễ nhớ.
Phần I, Người sử dụng thức ăn để nuôi dưỡng cơ thể, phải nghĩ '' ví như thể ăn thịt con của mình''. Vì sao...
khi đoàn thực được hiểu biết, thời lòng tham đối với năm dục trưởng dưỡng được hiểu biết.

Khi lòng tham đối với năm dục trưởng dưỡng được hiểu biết, thời không còn kiết sử
, do kiết sử này một vị Thánh đệ tử bị trói buộc để phải sanh lại đời này” (sđd).
(Năm dục: về hướng nội là các căn mắt, mũi, lưỡi, tai và thân. Hướng ngoại là các thứ “Tài, sắc, danh, thực, thùy”)

(Kiết sử gồm có 10 loại như: tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến...
Phần II, trong sách Thanh Tịnh Đạo cũng lập lại một lần, khi chúng ta sử dụng thức ăn không phải vì...
vui chơi, tham đắm, trang sức (làm đẹp thân).v.v.
Phần III, trong kinh Chánh Tri Kiến, Ngài dạy có 9 loại thịt đáng nhờm gớm. Không thể và không nên ăn. (xem lại phần này...)

Tóm lại chúng ta dùng thức ăn uống là để nuôi thân mạng để mà tu tâm dưỡng tánh, ngoài ra không thể diện bất cứ lý do gì để ''chẳng gì miếng ăn mà phát sanh mà làm hại đến chúng sanh''.
Cũng là lý do tại sao ta phải ăn chay. Vì duyên sự chớ không phải ăn chay để chứng tỏ là mình là người tu thì không tốt lắm.
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Luận giải Kinh Chánh Tri Kiến

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 2 14 Tháng 7, 2014 1:38 pm

Bài 1:

Từ tập khởi của Ái có tập khởi của thức ăn (taṅhā samudayā āhārasamudayo).

Từ đoạn diệt ái có đoạn diệt thức ăn (taṅhānirodha āhāranirodho).


Bài 2:

1. Đoàn thực là gì?

2. Có hai loại sắc vật thực, một là sắc vật thực bên ngoài, là...
Hai là sắc vật thực bên trong, là...

3. Thế nào gọi vật thực thô hoặc tế ?

Bài 3:

Hiểm họa của đoàn thực là ái luyến sắc thân, như thế nào?

Bài 4: các tích chuyện về đoàn thực.

Bài 5:

Đoàn thực ví như người chính ăn thịt con của mình, thế nào?

***********************************
Sau khi tìm hiểu các nghi vấn ở trên rồi. Chúng ta ôn lại một lần trong lời kinh giảng.


Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikaya) 9. Kinh Chánh tri kiến (Sammàditthi sutta).

Trích dẫn về (Thức ăn)

-- Lành thay, Hiền giả!
Các Tỷ-kheo ấy, sau khi hoan hỷ, tín thọ lời nói Tôn giả Sariputta và hỏi thêm Tôn giả Sariputta câu hỏi như sau:
- Này Hiền giả, có thể có pháp môn nào khác, nhờ pháp môn này vị Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin Pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này?

-- Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri thức ăn, tuệ tri tập khởi của thức ăn, tuệ tri đoạn diệt của thức ăn, và tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của thức ăn, chư Hiền, khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin Pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này.

Chư Hiền, thế nào là thức ăn, thế nào là tập khởi của thức ăn, thế nào là đoạn diệt của thức ăn, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt của thức ăn?

Chư Hiền, có bốn loại thức ăn này, khiến các loài chúng sanh đã sanh được an trú hay các loài hữu tình sẽ sanh được hỗ trợ cho sanh.

Thế nào là bốn? Ðoàn thực, loại thô hay loại tế, xúc thực là thứ hai, tư niệm thực là thứ ba, thức thực là thứ tư.

Từ tập khởi của ái có tập khởi của thức ăn, từ đoạn diệt của ái có đoạn diệt của thức ăn.

Thánh Ðạo Tám Ngành này là con đường đưa đến đoạn diệt của thức ăn, tức là: Chánh Tri kiến, Chánh Tư duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh tấn, Chánh Niệm, Chánh Ðịnh.

Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri thức ăn như vậy, tuệ tri tập khởi của thức ăn như vậy, tuệ tri đoạn diệt của thức ăn như vậy, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của thức ăn như vậy, khi ấy, vị ấy đoạn trừ tất cả tham tùy miên, tẩy sạch sân tùy miên, nhổ tận gốc kiến mạn tùy miên "Tôi là", đoạn trừ vô minh, khiến minh khởi lên, diệt tận khổ đau ngay trong hiện tại. Chư Hiền, như vậy Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin Pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này.
****
Đoàn thực chú thích và sao chép lại,đến đây là hết. Hy vọng số tài liệu này là bước đường cơ bản cho quí hành giả bắt đầu tu tập ''Tứ Niệm Xứ'' lập thành một nền tảng.

Hiểu đúng về ý nghĩa đoàn thực (dưỡng chất nuôi cơ thể) để làm hành trang trên bước đường cầu giải thoát khỏi lục đạo luân hồi. (Hết.)

CP, viết ngày 14-7-2014
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland


Quay về Thiền Nguyên Thủy

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến1 khách

cron