Diễn đàn Tu viện Phật giáo Việt nam


THẤT THANH TỊNH

Chuyên đề tham khảo Thiền Nam Tông

Các điều hành viên: Sen Hong, Bất Nhị

THẤT THANH TỊNH

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 4 05 Tháng 3, 2014 9:51 pm

THẤT THANH TỊNH

Đạo lộ giải thoát, thường được trình bày dưới dạng tam học – Giới, Định, Tuệ – đôi khi còn được chia thành bảy giai đoạn gọi là Thất thanh tịnh (Satta-visuddhi).

Căn bản kinh cho hệ thống này là Bảy trạm xe (Rathavinīta Sutta, bài kinh số 24 trong Trung Bộ) và bộ Vô ngại giải đạo (Patisambhidāmagga). Lối sắp xếp có hệ thống của bài kinh khẳng định tính chất đặc thù trong truyền thống chú giải Thượng Tọa Bộ vì nó hình thành cấu trúc cho bộ Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi-magga). Chính vì vậy mà nó được đặt lên hàng đầu trong mọi cuộc luận bàn về các giai đoạn thiền Phật giáo.


Theo lối sắp xếp này, để đạt đến sự giải thoát viên mãn, người hành thiền phải trải qua bảy loại thanh tịnh. Đó là:
Giới thanh tịnh,
Tâm thanh tịnh,
Kiến thanh tịnh,

Đoạn Nghi thanh tịnh,
Đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh,
Đạo hành tri Kiến thanh tịnh và tri kiến thanh tịnh. [25]


Trong khi đó, bộ Vi Diệu Pháp yếu nghĩa (Abhidhammatthasangaha) nhìn nhận các pháp thanh tịnh khác chủ yếu nhắm vào sự phát triển trí tuệ, đó là Tam tướng, Tam pháp quán, mười loại Tuệ minh sát, Tam giải thoát, Tam giải thoát môn. [26] Tuy nhiên vì các pháp này đều nằm trong phạm vi của Thất thanh tịnh nên chúng ta có thể lấy Thất thanh tịnh này làm căn bản cho việc luận bàn và sẽ đề cập đến các pháp khác khi thấy có liên quan.

1. Giới thanh tịnh
Giới thanh tịnh đồng nghĩa với Tăng thượng giới học (Adhisīlasikkha), chú trọng đến bốn thanh tịnh giới đã đề cập ở trên, đó là, Phòng hộ theo giới bổn Ba-la-đề-mộc-xoa (Pātimokkha, Biệt biệt giải thoát giới), Phòng hộ các căn, Thanh tịnh sinh mạng, Giới quán tưởng tứ vật dụng. [27] Đây là nền tảng cho sự phát triển tuệ quán có giá trị như sự tu tập tịnh chỉ.

2. Tâm thanh tịnh
Tâm thanh tịnh đồng với tu tập định hoặc Tăng thượng tâm học (Adhicittasikkhā). Nó được định nghĩa như tám định chứng cùng với cận định. Vị hành giả theo cỗ xe tịnh chỉ hoàn tất thanh tịnh tâm bằng việc thành tựu cận định hoặc an chỉ định trong một hoặc vài bậc thiền, nhờ đó đè nén các triền cái. Hành giả theo quán thừa, như chúng ta đã thấy, thành tựu sự thanh tịnh tâm này nhờ sát na định, và khi nó vượt qua các triền cái thì có thể được xếp vào cận định.

Nguồn:
Con đường Thiền chỉ và Thiền Quán. Tỳ khưu PHÁP THÔNG dịch
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: THẤT THANH TỊNH

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 4 05 Tháng 3, 2014 9:55 pm

THẤT THANH TỊNH

1. Giới thanh tịnh

2. Tâm thanh tịnh

3. Kiến thanh tịnh
Năm thanh tịnh còn lại thuộc về giai đoạn tu tập tuệ. Bốn thanh tịnh đầu thuộc phần hiệp thế của đạo lộ (giải thoát), tức tuệ minh sát, thanh tịnh cuối thuộc phần siêu thế, hay thánh đạo tuệ (Magga nñāṇa).
Kiến thanh tịnh nhằm vào việc có được một cái nhìn đúng về bản chất của hiện hữu. Bởi chính sự chấp giữ sai lầm vào cuộc sống đã kết tinh thành ngã kiến, từ đó trói chặt con người vào vòng luân hồi không thoát ra được.
Muốn đạt đến sự giải thoát, tà kiến này phải được làm cho tan biến. Phương tiện để giải thể tà kiến này là kiến tịnh hay cái nhìn trong sáng thấu triệt cái gọi là cá thể này chỉ là một hợp thể gồm các hiện tượng vô thường, không có bất kỳ một cốt lõi thực thể hoặc một bản ngã nào bên trong nó cả. Để thành tựu kiến tịnh, hành giả phải chú tâm vào các hiện tượng này, xác định chúng dưới dạng các đặc tính (vô thường, khổ, vô ngã), rồi dùng tri kiến ấy để loại trừ tà kiến về một cái tôi hữu ngã.
Hành giả theo cỗ xe tịnh chỉ và hành giả theo cỗ xe minh quán sẽ tiếp cận kiến tịnh này từ những góc độ khác nhau, mặc dù kết quả cuối cùng cả hai đều như nhau. Chỉ thừa hành giả, sau khi xuất khỏi một bậc thiền sắc hay vô sắc nào đó, ngoại trừ Phi tưởng phi phi tưởng xứ (vì quá vi tế), sẽ phân biệt các thiền chi và các pháp đồng sanh của bậc thiền ấy trong ánh sáng của các đặc tính, nhiệm vụ, sự thể hiện và nhân gần của chúng.

Kế đến, hành giả xác định các pháp này là “danh pháp” (nāma). Xong, hành giả phân biệt thân là chỗ dựa cho những danh pháp này, sắc trái tim (hadayarūpa), cũng như các loại sắc pháp thuộc tứ đại và do tứ đại sanh còn lại. Những sắc này hành giả gộp chung lại dưới đề mục “sắc” (rūpa). Hành giả nhận thức hữu tình chúng sanh là một hợp thể gồm danh – sắc, không có một tự ngã hay cái ngã thống trị nào nằm bên trong hay đằng sau nó là như vậy.

Quán thừa hành giả bắt đầu việc tịnh hóa kiến của mình bằng cách phân tích thân này thành tứ đại – đất, nước, lửa và gió. Sau khi xác định những đại chủng này theo các đặc tính của chúng, hành giả lập lại phương thức đó với các hiện tượng thuộc về vật chất khác, xác định tất cả đều là sắc pháp. Kế tiếp hành giả chuyển sang các trạng thái tâm và tâm sở của chúng, xác định và gom chúng lại dưới đề mục “danh pháp”. Như vậy, giống như chỉ thừa hành giả, cuối cùng quán thừa hành giả cũng đạt đến chỗ thấu triệt hữu tình chúng sanh chỉ là môt tập hợp của các hiện tượng tâm - vật lí hay danh – sắc tương hỗ lẫn nhau, ngoài chúng ra không có một thực thể riêng biệt nào để có thể xác nhận là một “tự ngã”, một “cá thể” hoặc “một người”.
Trong tiến trình phân tích, hành giả có thể dùng ngũ uẩn, mười hai xứ (sáu căn và sáu trần), mười tám giới (sáu căn, sáu trần, sáu thức), hoặc bất kỳ một cách phân loại nào khác làm căn bản. Cuối cùng tất cả đều được xác định dưới dạng danh – sắc, đưa đến sự loại trừ tà kiến về một cái tôi đồng ngã thể (a self – identical ego).

Nguồn:
Con đường Thiền chỉ và Thiền Quán. Tỳ khưu PHÁP THÔNG dịch
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: THẤT THANH TỊNH

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 5 06 Tháng 3, 2014 5:02 pm

THẤT THANH TỊNH

1. Giới thanh tịnh

2. Tâm thanh tịnh

3. Kiến thanh tịnh

4. Đoạn nghi thanh tịnh

Khi hành giả đã đoạn trừ được tà kiến về một tự ngã bằng việc nhận thức rõ hữu tình chúng sanh này chẳng qua chỉ là sự cấu hợp của các hiện tượng thân – tâm, kế tiếp, hành giả bắt đầu việc đoạn trừ hoài nghi đối với hợp thể này bằng cách truy tầm các nhân và duyên sanh ra danh - sắc hay thân – tâm.

Hành giả hiểu rằng hợp thể thân – tâm này không phải là vô nhân, cũng không phải do một nhân riêng lẻ nào tạo ra mà chúng sanh khởi do nhiều nhân và duyên.
Trước tiên, hành giả truy tầm nhân duyên sanh ra thân và khám phá ra rằng thân này hiện hữu là do bốn nhân vận hành từ trong quá khứ, đó là vô minh, ái, thủ, nghiệp, và được duy trì trong hiện tại nhờ thức ăn.
Sau đó chuyển sang tâm, hành giả thấy được rằng mọi hiện tượng tâm lý có mặt đều tùy thuộc vào các duyên, như các căn, trần và các tâm sở đồng sanh, cũng như do những phiền não và nghiệp đã tích lũy trong quá khứ.


Khi hành giả thấy rõ được sự khởi lên của thân tâm trong hiện tại là do các nhân và duyên, hành giả cũng nghiệm ra rằng, cũng nguyên tắc này sẽ áp dụng cho sự khởi lên của nó trong quá khứ và đã áp dụng cho sự khởi lên của nó trong tương lai. Bằng cách này hành giả đoạn trừ mọi hoài nghi và ngờ vực đối với duyên sanh của thân và tâm trong ba thời quá khứ, hiện tại và vị lai.


Nhờ phân biệt căn bản duyên sanh của hợp thể danh - sắc (thân – tâm) như trên, hành giả đi đến chỗ thấy rõ cuộc đời này chỉ là một chuỗi gồm những tiến trình tác nghiệp năng động và những tiến trình thọ quả bị động. Các uẩn khởi lên ở quá khứ đã diệt ngay sau khi sanh nhưng lại làm duyên cho sự khởi lên của các uẩn trong hiện tại. Các uẩn hiện đang khởi cũng sẽ diệt trong hiện tại và làm duyên cho các uẩn khởi sanh trong tương lai. Xuyên qua chuỗi duyên sanh này, không có gì là thường hằng cả. Đó chỉ là sự diễn tiến của các hiện tượng đang tạo tác (nghiệp) và cảm thọ (quả) mà không có một tác nhân nào ngoài các nghiệp hoặc không có một người thọ quả nào ngoài các cảm thọ.

Nguồn:
Con đường Thiền chỉ và Thiền Quán. Tỳ khưu PHÁP THÔNG dịch
[/quote]
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: THẤT THANH TỊNH

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 6 07 Tháng 3, 2014 5:18 pm

THẤT THANH TỊNH

1. Giới thanh tịnh

2. Tâm thanh tịnh

3. Kiến thanh tịnh

4. Đoạn nghi thanh tịnh

5. Đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh
Trước khi thanh tịnh kế tiếp có thể khởi lên, cần phải có một vài bước chuyển tiếp. Thứ nhất, sau khi xua tan mọi hoài nghi bằng duyên khởi trí, hành giả phải làm công việc dưới hình thức minh sát gọi là “thẩm sát theo các nhóm” (kālapasammasana). Sự thẩm sát này đòi hỏi phải tập hợp các hiện tượng (pháp) vào những phạm trù rõ rệt và gán cho chúng ba đặc tánh (vô thường, khổ, vô ngã).

Như vậy, hành giả quán tất cả sắc, thọ, tưởng, hành, thức là vô thường; tất cả là khổ, tất cả là vô ngã – mỗi nhóm làm một sự thẩm sát riêng biệt. [28] Không phải chỉ đối với năm uẩn thôi mà hành giả còn có thể áp dụng phương pháp thẩm sát này vào các phạm trù khác tạo thành những thành phần của kinh nghiệm
– sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu xúc, sáu thọ, sáu tưởng, sáu tư, mười hai xứ, mười tám giới, v.v... Bốn thiền sắc giới, bốn Phạm trú (Brahmavihāra) và bốn thiền chứng vô sắc cũng được kể vào đó. Vì lẽ kinh thường khuyên một hành giả mới bắt đầu tu tập thẩm sát nên quán những pháp nào được xem là dễ phân biệt nhất đối với vị ấy, do đó, hành giả theo cỗ xe tịnh chỉ sẽ chọn một bậc thiền mà hành giả đã đắc và làm chủ được để làm đối tượng cho sự thẩm sát của mình.

Bậc thiền khi ấy sẽ trở thành thẩm sát thiền (sammasitajjhāna) như chúng ta đã giải thích ở trên.

Dù chọn đối tượng nào làm đề mục cho sự thẩm sát, hành giả cũng phải hiểu chính xác cách chúng thể hiện tam tướng. Trước tiên, tất cả các pháp hữu vi là vô thường theo nghĩa chúng phải chịu sự hoại diệt. Không có gì đi vào hiện hữu lại có thể trường tồn, cái gì có sanh cuối cùng phải có diệt.


Thứ hai chúng là khổ theo nghĩa đáng sợ hãi (bhayaṭṭhena). Bởi lẽ tất cả các pháp hữu vi đều vô thường nên chúng không thể tạo ra một sự vừa lòng hoặc an ổn dài lâu, nhưng khi bám vào đó với thái độ chấp thủ thì nó trở thành cội nguồn của khổ và được xem như nguy hại và đáng kinh sợ. Và thứ ba, các pháp là vô ngã theo nghĩa không có cốt lõi (asāraṭṭhena). Các pháp hữu vi, do các duyên hợp thành, không có một cốt lõi bên trong nào để có thể được diễn đạt như một tự ngã, một tác nhân hay một chủ thể, và vì vậy mà gọi là rỗng không cốt lõi. [29]

Khi hành giả thành công trong việc thẩm sát các nhóm khác nhau như vậy dưới dạng tam tướng, hành giả có được tuệ thẩm sát (tam tướng) – samma-sananñāṇa. Tuệ này đánh dấu sự khởi đầu thực sự của minh sát tuệ. Theo Vi Diệu Pháp yếu nghĩa, thẩm sát trí hay thẩm sát tuệ là tuệ đầu tiên trong mười loại minh sát tuệ mà một hành giả theo cỗ xe minh quán phải trải qua. [30]


Từ thẩm sát trí, hành giả chuyển sang trí quán sự sanh và diệt (udayabbayanupassanānñāṇa). Trí này, định nghĩa đơn giản là “tuệ quán trạng thái thay đổi của các pháp hiện tại” [31] , được đạt đến nhờ quán năm uẩn hiện hữu trong hiện tại tiêu biểu bằng sự sanh và diệt. Nếu quán tóm tắt, trí này khởi lên do thấy sự sanh của các uẩn trong đặc tính sanh, hiện hữu hay khởi lên của chúng, và sự diệt của các uẩn trong đặc tính biến dịch, hoại diệt hoặc phân tán của chúng.

Nếu quán chi tiết hơn, nó đòi hỏi phải nhận thức được sự sanh của mỗi uẩn qua các duyên đặc biệt của nó và sự diệt của mỗi uẩn qua sự diệt của các duyên này. Tập trung sâu hơn vào tiến trình hiện tại, hành giả nhận ra rằng các pháp hiện tại, đang không thành có, và có rồi liền mất. Các hành xuất hiện đối với hành giả cực kỳ nhanh chóng, chúng sanh và diệt với tốc độ không sao tưởng nổi và đổi mới không ngừng.


Khi có được sanh diệt tuệ giai đoạn đầu này, hành giả đã đạt đến minh sát trí còn yếu (taruna-vipassanā). Ở giai đoạn này, mười kinh nghiệm chưa từng xảy ra trước đây rất có thể sẽ phát sanh nơi hành giả do kết quả của việc thực hành thành công. Bởi vì những kinh nghiệm này có thể làm chướng ngại cho tiến bộ của hành giả nên chúng được gọi là mười tùy phiền não của minh sát (vipassanūpakkilesa).


Mười tùy phiền não đó là hào quang, trí, hỷ, an tịnh, lạc, quyết tâm, tinh tấn, niệm, xả và dục cầu. [32] Nếu không thận trọng, hành giả có thể hiểu lầm những hiện tượng này và nghĩ rằng mình đã đạt đến một trong những giai đoạn giác ngộ.

Do đó các hành giả sơ cơ được khuyên là không nên tự để cho mình bị những hiện tượng này làm trở ngại mà phải nhận thức rõ vì lý do gì chúng có mặt. Thực ra những sản phẩm phụ của minh sát này chỉ có thể trở thành chướng ngại nếu dính mắc vào nó một cách sai lầm mà thôi. Người hành thiền có kinh nghiệm sẽ quán chúng như các pháp hữu vi khác, phải chịu vô thường, khổ và vô ngã.


Hành giả phân biệt chánh đạo với phi đạo, nhận ra rằng mười trạng thái này đều không phải là đạo; chỉ khi minh sát trí thoát khỏi những cấu uế này mới là đạo. Trí được an lập nơi hành giả nhờ biết phân biệt như vậy là Đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh.

Nguồn:
Con đường Thiền chỉ và Thiền Quán. Tỳ khưu PHÁP THÔNG dịch
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland


Quay về Thiền Nguyên Thủy

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến1 khách

cron