Bạn đang xem trang 1 / 1 trang

Trạch pháp

Gửi bàiĐã gửi: Thứ 2 03 Tháng 3, 2014 4:35 pm
gửi bởi Bất Nhị
2. Trạch pháp

Giác Chi thứ nhì là Dhammavicaya, Trạch Pháp, tức nhiệt thành khảo sát Giáo Pháp.

Trạch Pháp là kiến thức sâu sắc và có tánh cách phân tách đến chi tiết để thấu đạt trọn vẹn thực chất của tất cả những vật cấu tạo - các pháp hữu vi - vô tri vô giác hay hữu giác hữu tri.

Trạch Pháp là thấy đúng thực tướng của sự vật, thấy sự vật theo đúng chân tướng của nó.

Trạch Pháp là phân tách tất cả các pháp hữu vi một cách rốt ráo, đến những nguyên tố căn bản, phân tách chí đến cùng tột.

Do nhờ nhiệt thành khảo sát như vậy mà ta có thể nhận thức rằng tất cả các pháp hữu vi đều phải trải qua những giai đoạn sanh, trụ, và diệt (upada, thiti, và bhanga) một cách vô cùng nhanh chóng, đến độ khó có thể quan niệm được.

Ðây là những giai đoạn phát sanh, phát triển đến tột độ, rồi chấm dứt, cũng như nước trong một giòng sông, lên cao đến tột độ rồi ròng trở xuống. Toàn thể vũ trụ đều liên tục biến đổi, không thể tồn tại giống hệt trong hai khoảnh khắc kế tiếp.


Trong thực tế, mỗi sự vật đều phải có nhân, duyên và quả (hetu, paccaya và phala). Sự chăm chú chánh đáng (yoniso manasikara, hướng tâm về điều thiện) phát sanh một cách tự nhiên nếu ta giữ tâm chánh niệm, và thúc giục ta phân biện, lý luận, và khảo sát.

Sự suy nghĩ nông cạn, chăm chú không chánh đáng (ayoniso manasikara, hướng tâm về điều bất thiện) làm tâm trí dơ bẩn và do đó không thể khảo sát bản chất của sự vật.
Người như vậy không thể thấy nhân và quả, hột và trái, trạng thái phát sanh và hoại diệt của các pháp hữu vi, những vật cấu tạọ Ðức Phật dạy: "Giáo pháp nầy để cho bậc cao minh chớ không phải để cho kẻ thiển trí".


Trong Phật Giáo không có sự áp bức hay cưỡng chế. Phật Giáo không đòi hỏi tín đồ một đức tin mù quáng. Ngay từ lúc ban đầu, người có tâm hoài nghi lấy làm thỏa thích mà nghe lời kêu gọi nên khảo sát, nên suy xét tận tường trước khi chấp nhận.

Toàn thể giáo lý của Ðức Phật, từ đầu đến cuối, được phơi bày trọn vẹn cho tất cả những ai có mắt muốn thấy và có tâm để thấu hiểu.
Ðức Phật không bao giờ tìm cách bắt ép các tín đồ để áp đặt một đức tin mù quáng, một đức tin có tánh cách lệ thuộc, phục tùng, nơi chính Ngài hay nơi Giáo Pháp. Ngài dẫn dắt các môn đệ theo phương pháp phân biện và sáng suốt khảo sát. Ðối với những người Kalama muốn tìm hiểu, Ðức Phật dạy:
"Hoài nghi là hữu lý, nêu lên những câu hỏi về điều gì ta còn hoài nghi và về điều gì ta chưa hiểu rõ là hữu lý. Về một vấn đề, khi còn hoài nghi ắt có sự phân vân phát sanh".

Chúng ta còn có thể đọc lại được cuộc đối thoại giữa Ðức Phật và các đệ tử Ngài như sau:
"Bây giờ, nếu hiểu biết điều này, và nhận thức điều nầy, các thầy nói "Chúng ta tôn kính Ðức Bổn Sư, và vì tôn kính Ðức Bổn Sư chúng ta phải tôn kính những gì Ngài dạy", có nên nói vậy chăng?
-- Bạch hoá Ðức Thế Tôn, không.
-- Ðiều gì các thầy xác nhận, nầy chư Tỳ-Khưu, có phải chăng chỉ vì chính tự các thầy đã nhìn, đã nhận định và đã nắm vững như vậỷ
-- Bạch hóa Ðức Thế Tôn, đúng như vậy . (Trung A-Hàm, Majjhima Nikaya, kinh số 28)


Ðúng theo thái độ hoàn toàn chơn chánh như vậy của người đi tìm chơn lý, các triết gia về sau ghi nhận:

"Cũng như người trí tuệ thử vàng, xem có y hay không, bằng cách đốt lên, cắt ra và chà trên một loại đá để thử vàng, cùng thế ấy các người chỉ nên chấp nhận lời nói của ta sau khi xem xét tận tường chớ không vì kính nể và sùng bái ta". (Jnasara-Samuccaya tr. 31)


Như vậy giáo lý có tánh cách phân tích (vibhajjavada) của Ðức Phật không chấp nhận đức tin mù quáng. Chơn lý của Giáo Pháp (Dhamma) chỉ có thể thấu đạt do tâm định yên lặng và do trí tuệ trực giác (samatha), thiền "định", và tuệ minh sát (Vipassana).

Ðức tin mù quáng không bao giờ rọi sáng chơn lý cho bất luận ai. người tìm chơn lý không thỏa mãn được với một sự hiểu biết phớt qua trên bề mặt mà muốn lặn sâu vào bên trong và thấy tận mắt những gì ở lớp dưới.

Ðó là phương cách tìm hiểu mà Phật Giáo khuyến khích. Tìm hiểu như vậy mới dẫn đến chánh kiến.
Kinh điển Phật Giáo có một đoạn như sau:
"Có lần nọ Upali, một tín đồ nhiệt thành của Nigantha Nathaputta, môn phái Jain, đến viếng Ðức Phật, chăm chú lắng nghe Ngài giảng Giáo Pháp (Dhamma), phát sanh đức tin, (sadha, niềm tin căn cứ trên sự hiểu biết) và ngỏ ý sẵn sàng trở nên một tín đồ của Ðức Bổn Sư. Tuy nhiên Ðức Phật nói: "Ðể đi đến chơn lý, nầy Upali, hãy khảo sát tận tường..".


Như vậy, chẳng những Ngài không hối thúc hay khuyến dụ Upali theo Ngài mà còn khuyên chẳng nên vội theo.
Ðiều nầy chỉ rõ rằng Ðức Phật không tìm cách làm cho người khác suy tưởng như mình, hay như người của mình.

Ngài không tìm cách bước xen vào tự do tư tưởng của người khác, bởi vì tự do tư tưởng là quyền căn bản của mọi người, từ lúc mới sanh ra. Áp đặt cho người khác một lối sống không thích hợp với tâm tánh và quan điểm của họ không hợp với nguyện vọng và khuynh hướng tinh thần của họ là một điều sai lầm.

Sự cưỡng chế, bất luận dưới hình thức nào, cũng không tốt. Bắt người khác phải trợn trạo nuốt vào những niềm tin không có chút mùi vị nào thì quả thật là loại áp bức tối đen nhứt. Nuôi dưỡng bằng cách cưỡng bách như thế không thể đem lợi ích lại cho bất luận ai, bất luận ở đâu.


Người có trau dồi Trạch Pháp (Dhammaviccaya) hướng tâm niệm vào năm nhóm của sự bám bíu (Pancapadanakkhandha, năm thủ uẩn), gia công chuyên cần để nhận thức trạng thái phát sanh và hoại diệt, (sanh diệt, udaya-vaya) của sự cấu hợp năng lực nầy (suddha sankhara punja), sự trôi chảy của "danh sắc" nầy (Nama-rupa santati). Chỉ đến khi nhận thức đầy đủ bản chất vô thường của chính danh và sắc của mình, người ấy mới chứng nghiệm được hạnh phúc, phỉ lạc. Do đó có câu:
"Yato yato sammasati - khandhanam udaya-bbayam
"Labhati piti pamojam - amatam tam vijanatam".

"Mỗi khi suy niệm về pháp sanh diệt của các uẩn người ấy đạt phỉ lạc.
Ðối với những ai thấu hiểu (suy niệm ấy) là Bất Tử". (Pháp Cú Kinh, câu 374)



Những gì vô thường, không bền vững, người ấy thấy là khổ. Những gì vô thường và khổ, người ấy nhận thức là vô ngã, không có một linh hồn trường tồn bất biến, không có một tự ngã, một thực thể vĩnh cửu gọi là "ta". Chính sự nắm vững, sự thấu đạt, sự chứng ngộ ba đặc tướng vô thường, khổ, vô ngã (anicca, dukkha và anatta) ấy được gọi là tuệ minh sát (vipassana nana) hay sự thấu triệt sâu sắc.

Và sự chứng đạt nầy cũng dường như lưỡi dao cạo, cạo sạch tất cả những khuynh hướng tiềm tàng ngủ ngầm (anussaya) và cùng lúc, cạo sạch tất cả những mầm móng tạo khổ. Người ấy đã lên đến tuyệt đỉnh cao của sự chứng ngộ, người ấy là một vị A-La-Hán, bậc Toàn Hảo, người đã có cái nhìn rõ ràng, có trí tuệ sâu sắc, có sự hiểu biết ăn sâu vào các thâm cung bí hiểm của đời sống, và nhận thức trọn vẹn bản chất thật sự vùi lấp dưới lớp mặt bên ngoài.


Người ấy đã đứng vững trên hai chơn và không còn bị những lạc thú phù du làm mê hoặc. Người ấy không còn bị những cái kinh hoàng bề ngoài làm bận lòng. Người ấy không thể còn ôm ấp một quan điểm mù mờ về các hiện tượng của thế gian vì đã vượt lên khỏi mọi lầm lạc, nhờ tuệ minh sát sâu sắc và chỉ có tuệ minh sát sâu sắc mới có thể đem lại quan kiến toàn hảo, không thể lầm lạc.

Nguồn:
Thất giác chi
(Satta Bojjhanga)
Hòa thượng Piyadassi

Phạm Kim Khánh dịch Việt, 1974

Re: Trạch pháp

Gửi bàiĐã gửi: Thứ 2 03 Tháng 3, 2014 5:19 pm
gửi bởi Bất Nhị
2. Trạch pháp Giác Chi thứ nhì là Dhammavicaya, Trạch Pháp, tức nhiệt thành khảo sát Giáo Pháp.
Trạch Pháp là kiến thức sâu sắc và có tánh cách phân tách đến chi tiết để thấu đạt trọn vẹn thực chất của tất cả những vật cấu tạo - các pháp hữu vi - vô tri vô giác hay hữu giác hữu tri.

Trạch Pháp là thấy đúng thực tướng của sự vật, thấy sự vật theo đúng chân tướng của nó.

Trạch Pháp là phân tách tất cả các pháp hữu vi một cách rốt ráo, đến những nguyên tố căn bản, phân tách chí đến cùng tột.

Do nhờ nhiệt thành khảo sát như vậy mà ta có thể nhận thức rằng tất cả các pháp hữu vi đều phải trải qua những giai đoạn sanh, trụ, và diệt (upada, thiti, và bhanga) một cách vô cùng nhanh chóng, đến độ khó có thể quan niệm được.


Trạch pháp khác với tâm nghi thế nào ?
Hòa thượng Piyadassi giảng: trạch pháp là để khảo sát, tìm hiểu, phân tách pháp môn đó để đem đến lợi lạc cho việc tu hành, chớ không phải là để so sánh đố kỵ...
Còn người có tâm nghi pháp thì cũng tương tự như vậy, nhưng mà so sánh pháp mình tu với pháp người khác, hay tôn gphái này với tông phái khác có đúng là Phật dạy, tổ dạy rồi...so sánh, chê bai, bát bỏ là pháp giả, pháp không hay. Đó là tâm nghi kỵ ''Lấy bụng dạ mình so bụng dạ người khác... Gọi là tâm nghi''

Ðây là những giai đoạn phát sanh, phát triển đến tột độ, rồi chấm dứt, cũng như nước trong một giòng sông, lên cao đến tột độ rồi ròng trở xuống.
Toàn thể vũ trụ đều liên tục biến đổi, không thể tồn tại giống hệt trong hai khoảnh khắc kế tiếp.


Trong thực tế, mỗi sự vật đều phải có nhân, duyên và quả (hetu, paccaya và phala). Sự chăm chú chánh đáng (yoniso manasikara, hướng tâm về điều thiện) phát sanh một cách tự nhiên nếu ta giữ tâm chánh niệm, và thúc giục ta phân biện, lý luận, và khảo sát.
Nếu...
Sự suy nghĩ nông cạn, chăm chú không chánh đáng (ayoniso manasikara, hướng tâm về điều bất thiện) làm tâm trí dơ bẩn và do đó không thể khảo sát bản chất của sự vật. Người như vậy không thể thấy nhân và quả, hột và trái, trạng thái phát sanh và hoại diệt của các pháp hữu vi, những vật cấu tạọ Ðức Phật dạy: "Giáo pháp nầy để cho bậc cao minh chớ không phải để cho kẻ thiển trí".

Đây là lời cảnh cáo của những người còn tâm nghi hoặc hay đố kỵ cho rằng pháp đó không đúng, pháp này đúng. Thôi tôi chi bằng tin trước và thử huân tập một thời gian đi, rồi hãy nói cũng không muộn. Chớ đừng nhì người khác tu đúng, tu sai... rốt cuộc thì chính mình củng chẳng biết có tu đúng tu sai hay không Hình ảnh

Trong Phật Giáo không có sự áp bức hay cưỡng chế. Phật Giáo không đòi hỏi tín đồ một đức tin mù quáng.
Ngay từ lúc ban đầu, người có tâm hoài nghi lấy làm thỏa thích mà nghe lời kêu gọi nên khảo sát, nên suy xét tận tường trước khi chấp nhận. Toàn thể giáo lý của Ðức Phật, từ đầu đến cuối, được phơi bày trọn vẹn cho tất cả những ai có mắt muốn thấy và có tâm để thấu hiểu. Ðức Phật không bao giờ tìm cách bắt ép các tín đồ để áp đặt một đức tin mù quáng, một đức tin có tánh cách lệ thuộc, phục tùng, nơi chính Ngài hay nơi Giáo Pháp. Ngài dẫn dắt các môn đệ theo phương pháp phân biện và sáng suốt khảo sát.

Trong Phật giáo không có sự áp bức hay cưỡng chế... Nhưng đối với người nghi kỵ thì đứng núi này, chông núi nọ. Hoặc bị thân kiến, biên kiến và kiến thủ kèm chế. Cho rằng Pháp của mình, thầy của mình, tông phái của mình đúng, có chân truyền Phật giáo Nguyên Thủy.v.v. Như vậy không phải là người biết lựa chọn pháp môn. Đó là cái tâm so sánh, chớ không phải là trạch pháp của HT dạy.

Xin xem nguyên bản văn trích dẫn dưới đây:

Ðối với những người Kalama muốn tìm hiểu, Ðức Phật dạy:

"Hoài nghi là hữu lý, nêu lên những câu hỏi về điều gì ta còn hoài nghi và về điều gì ta chưa hiểu rõ là hữu lý. Về một vấn đề, khi còn hoài nghi ắt có sự phân vân phát sanh".

Chúng ta còn có thể đọc lại được cuộc đối thoại giữa Ðức Phật và các đệ tử Ngài như sau:
"Bây giờ, nếu hiểu biết điều này, và nhận thức điều nầy, các thầy nói "Chúng ta tôn kính Ðức Bổn Sư, và vì tôn kính Ðức Bổn Sư chúng ta phải tôn kính những gì Ngài dạy", có nên nói vậy chăng?
-- Bạch hoá Ðức Thế Tôn, không.
-- Ðiều gì các thầy xác nhận, nầy chư Tỳ-Khưu, có phải chăng chỉ vì chính tự các thầy đã nhìn, đã nhận định và đã nắm vững như vậỷ
-- Bạch hóa Ðức Thế Tôn, đúng như vậy . (Trung A-Hàm, Majjhima Nikaya, kinh số 28)


Ðúng theo thái độ hoàn toàn chơn chánh như vậy của người đi tìm chơn lý, các triết gia về sau ghi nhận:

"Cũng như người trí tuệ thử vàng, xem có y hay không, bằng cách đốt lên, cắt ra và chà trên một loại đá để thử vàng, cùng thế ấy các người chỉ nên chấp nhận lời nói của ta sau khi xem xét tận tường chớ không vì kính nể và sùng bái ta". (Jnasara-Samuccaya tr. 31)


Như vậy giáo lý có tánh cách phân tích (vibhajjavada) của Ðức Phật không chấp nhận đức tin mù quáng. Chơn lý của Giáo Pháp (Dhamma) chỉ có thể thấu đạt do tâm định yên lặng và do trí tuệ trực giác (samatha), thiền "định", và tuệ minh sát (Vipassana).

Ðức tin mù quáng không bao giờ rọi sáng chơn lý cho bất luận ai. người tìm chơn lý không thỏa mãn được với một sự hiểu biết phớt qua trên bề mặt mà muốn lặn sâu vào bên trong và thấy tận mắt những gì ở lớp dưới.

Ðó là phương cách tìm hiểu mà Phật Giáo khuyến khích. Tìm hiểu như vậy mới dẫn đến chánh kiến.
Kinh điển Phật Giáo có một đoạn như sau:
"Có lần nọ Upali, một tín đồ nhiệt thành của Nigantha Nathaputta, môn phái Jain, đến viếng Ðức Phật, chăm chú lắng nghe Ngài giảng Giáo Pháp (Dhamma), phát sanh đức tin, (sadha, niềm tin căn cứ trên sự hiểu biết) và ngỏ ý sẵn sàng trở nên một tín đồ của Ðức Bổn Sư. Tuy nhiên Ðức Phật nói: "Ðể đi đến chơn lý, nầy Upali, hãy khảo sát tận tường..".


Như vậy, chẳng những Ngài không hối thúc hay khuyến dụ Upali theo Ngài mà còn khuyên chẳng nên vội theo.
Ðiều nầy chỉ rõ rằng Ðức Phật không tìm cách làm cho người khác suy tưởng như mình, hay như người của mình.

Ngài không tìm cách bước xen vào tự do tư tưởng của người khác, bởi vì tự do tư tưởng là quyền căn bản của mọi người, từ lúc mới sanh ra. Áp đặt cho người khác một lối sống không thích hợp với tâm tánh và quan điểm của họ không hợp với nguyện vọng và khuynh hướng tinh thần của họ là một điều sai lầm.

Sự cưỡng chế, bất luận dưới hình thức nào, cũng không tốt. Bắt người khác phải trợn trạo nuốt vào những niềm tin không có chút mùi vị nào thì quả thật là loại áp bức tối đen nhứt. Nuôi dưỡng bằng cách cưỡng bách như thế không thể đem lợi ích lại cho bất luận ai, bất luận ở đâu.


Người có trau dồi Trạch Pháp (Dhammaviccaya) hướng tâm niệm vào năm nhóm của sự bám bíu (Pancapadanakkhandha, năm thủ uẩn), gia công chuyên cần để nhận thức trạng thái phát sanh và hoại diệt, (sanh diệt, udaya-vaya) của sự cấu hợp năng lực nầy (suddha sankhara punja), sự trôi chảy của "danh sắc" nầy (Nama-rupa santati). Chỉ đến khi nhận thức đầy đủ bản chất vô thường của chính danh và sắc của mình, người ấy mới chứng nghiệm được hạnh phúc, phỉ lạc. Do đó có câu:
"Yato yato sammasati - khandhanam udaya-bbayam
"Labhati piti pamojam - amatam tam vijanatam".

"Mỗi khi suy niệm về pháp sanh diệt của các uẩn người ấy đạt phỉ lạc.
Ðối với những ai thấu hiểu (suy niệm ấy) là Bất Tử". (Pháp Cú Kinh, câu 374)



Những gì vô thường, không bền vững, người ấy thấy là khổ. Những gì vô thường và khổ, người ấy nhận thức là vô ngã, không có một linh hồn trường tồn bất biến, không có một tự ngã, một thực thể vĩnh cửu gọi là "ta". Chính sự nắm vững, sự thấu đạt, sự chứng ngộ ba đặc tướng vô thường, khổ, vô ngã (anicca, dukkha và anatta) ấy được gọi là tuệ minh sát (vipassana nana) hay sự thấu triệt sâu sắc.

Và sự chứng đạt nầy cũng dường như lưỡi dao cạo, cạo sạch tất cả những khuynh hướng tiềm tàng ngủ ngầm (anussaya) và cùng lúc, cạo sạch tất cả những mầm móng tạo khổ. Người ấy đã lên đến tuyệt đỉnh cao của sự chứng ngộ, người ấy là một vị A-La-Hán, bậc Toàn Hảo, người đã có cái nhìn rõ ràng, có trí tuệ sâu sắc, có sự hiểu biết ăn sâu vào các thâm cung bí hiểm của đời sống, và nhận thức trọn vẹn bản chất thật sự vùi lấp dưới lớp mặt bên ngoài.


Người ấy đã đứng vững trên hai chơn và không còn bị những lạc thú phù du làm mê hoặc. Người ấy không còn bị những cái kinh hoàng bề ngoài làm bận lòng. Người ấy không thể còn ôm ấp một quan điểm mù mờ về các hiện tượng của thế gian vì đã vượt lên khỏi mọi lầm lạc, nhờ tuệ minh sát sâu sắc và chỉ có tuệ minh sát sâu sắc mới có thể đem lại quan kiến toàn hảo, không thể lầm lạc.

Nguồn:
Thất giác chi
(Satta Bojjhanga)
Hòa thượng Piyadassi

Phạm Kim Khánh dịch Việt, 1974