Diễn đàn Tu viện Phật giáo Việt nam


Bát Chánh Đạo: 8 Chánh Định

Chuyên đề tham khảo Thiền Nam Tông

Các điều hành viên: Sen Hong, Bất Nhị

Bát Chánh Đạo: 8 Chánh Định

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 3 25 Tháng 2, 2014 7:11 pm

Bài 1
1
8/ Chánh định, còn gọi là đế định, là chi thứ tám của Bát chánh đạo, mục đích của chi này là giúp hành giả xa lìa pháp dục ác bất thiện thành tựu bốn pháp thiền: sơ thiền, nhị thiền, tam thiền và, tứ thiền.

Theo Kinh Ðại Tứ Thập, Trung Bộ III, tr. 206 - 208 bản dịch của HT. Minh Châu đức Phật dạy: "Thế nào là Thánh chánh định với các cận duyên và tư trợ? Chính là chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm.

Này các Tỷ-kheo, phàm có nhứt tâm nào được tư trợ với bảy chi phần này, như vậy, gọi là Thánh chánh định cùng với các cận duyên và tư trợ".


2. Sự thành tựu của chánh định của các bậc hữu học như đức Phật đã dạy là phải câu hữu với bảy chi trên làm trợ duyên, duyên khởi trong lúc tu tập mới mong đạt đến kết quả. Trong khi đạo quả giải thóat của các vị A-la-hán của bậc vô học gồm có mười chi như kinh Trung bộ III sđd tr. 221 thì:

Do có chánh kiến, chánh tư duy khởi lên;
do có chánh tư duy, chánh ngữ khởi lên;
do có chánh ngữ, chánh nghiệp khởi lên;

do có chánh nghiệp, chánh mạng khởi lên;
do có chánh mạng, chánh tinh tấn khởi lên;
do có chánh tinh tấn, chánh niệm khởi lên;

do có chánh niệm, chánh định khởi lên;
do có chánh định, chánh trí khởi lên;
do có chánh trí, chánh giải thoát khởi lên.

Như vậy, này các Tỷ-kheo, đạo lộ của vị hữu học gồm có tám chi phần, và đạo lộ của vị A-la-hán gồm có mười chi phần".


Do đó sự hiện hữu có được của chánh định chính là sự hiện hữu của chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và, ngược lại tất cả đều có trong nhau qua duyên khởi.

3. Và ở đây đứng về mặt thời gian nhân quả phân đọan mà nói thì tám chi phần này theo thứ tự làm duyên cho nhau để đưa đến đạt bốn thiền định, nhưng đứng về mặt sát-na sinh diệt không thời gian thì chúng hiện hữu ở trong nhau.

Về mặt nhân quả thời gian thì chánh kiến thuộc chi phần quan trọng chủ yếu trong Bát chánh đạo đề đưa về chánh định.
Chánh định ở đây chúng tôi chỉ đề cập giới hạn theo chủ đề của Bát chánh đạo, nên định ở đây định nghĩa cũng theo ý nghĩa chủ đề nên định ngĩa này chưa mang tính phổ quát và rộng hơn.


Tóm lại, Bát chánh đạo là tám chi nhánh cần và đủ để hành giả từ đó có thể mượn chúng là con đường đưa đến giải thóat khổ đau, hay Bát chánh đạo là con thuyền để nhờ vào đó mà hành giải vượt qua khỏi bờ bên này tức là bờ đau khổ sang bờ bên kia tức bờ giác ngộ giải thóat.

4.Trong Bát chánh đạo chúng ta nhận thấy có sự hệ mật thiết giữa hành pháp thứ tám này cùng với bảy hành pháp trợ đạo khác như chúng tôi đã trình bày trước đây trong Nguyệt san Pháp luân này. Sự có mặt trong nhau qua sự phối hợp sau đây để hành giả có cái nhìn tổng quát và hiểu rõ một cách cơ bản về sự liên hệ này:

- Chánh niệm trong Bát chánh đạo chính là ý nghĩa nội dung của tứ Niệm xứ (trụ); cũng chính là niệm căn, niệm lực của Ngũ căn-Ngũ lực; cũng là niệm giác chi của bảy Giác chi; và là tâm thần túc của Tứ thần túc.
- Chánh tinh tấn chính là ý nghĩa nội dung của Tứ Chánh cần; cũng chính là tinh tấn thần túc của Tứ thần túc.
- Chánh tư duy là trạch pháp giác chi; cũng chính là quán thần túc của Tứ thần túc.
- Chánh kiến là tuệ căn, tuệ lực;
- Chánh định là hỷ, khinh an, định, xả giác chi.

Chính vì sự quan hệ này nên được đức Đạo sư gọi là pháp trợ đạo cho Đạo đế, con đường trung đạo đưa hành giải thóat ra khỏi khổ để chứng đắc Niết-bàn an lạc giải thóat, phần này chúng tôi đã đề cập đầy đủ trong phần Đạo đế trong Tứ Đế xin xem lại qua những bài viết trước cũng trong Tập san Pháp Luân này.■
Hình ảnhHình ảnh

Thượng Tọa Thích Đức Thắng( Bút hiệu: Đại Lãn, Phổ Đồng)

********************************************************
Nguồn:
Links Bát Chánh Đạo: Chánh Kiến Chánh tư duy Chánh ngữ

Lưu bút: Sau khi tìm hiểu Chánh kiến này, hành giả có thể tìm thêm nội dung chính của kinh số 10. Kinh Chánh Tri kiến từ Nguồn gốc: http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung00.htm Hai là, Luận giải Kinh Chánh Tri Kiến, Tỳ Khưu Chánh Minh http://www.budsas.org/uni/u-chanhminh/ctk00.htm về: 1. Thiện và Bất thiện; 2. Bốn loại vật thực; 3. Tứ Diệu Đế; 4. Sau cùng là lý 12 nhân duyên. Nơi đây sẽ giúp cho hành giả phân biệt thêm sâu sắc thế nào là Chánh kiến và thế nào là tà kiến. Chúc các bạn thành công. QH.

Lưu bút: Chánh tư duy trong Thiền còn gọi là ''Tầm'', hiểu chánh tư duy thế nào, xin mời bạn trở lại với tiêu đề TẦM (VITAKKA)

*************************
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Bát Chánh Đạo: 8 Chánh Định

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 2 17 Tháng 3, 2014 6:40 pm

6. Ðịnh (Thất giác chi)

Yếu tố thứ sáu của sự giác ngộ là Ðịnh (Samadhi). Chỉ có tâm an tĩnh mới dễ dàng trụ vào đề mục tham thiền. Tâm an và trụ mới thấy sự vật đúng theo chơn tướng của sự vật (samahito vatha bhutam pajanati). Tâm trụ vào một điểm có khả năng chế ngự năm chướng ngại tinh thần (panca nivarana, năm pháp triền cái).


Ðịnh là trạng thái ổn định vững chắc của tâm, có thể ví như cây đèn đứng ngọn, vững vàng, không chao động, ở một nơi không có gió. Chính "định" làm cho tâm vững, yên một chỗ, không bị chao động. Khi được thực hành đúng "định", samadhi, giữ tâm và các tâm sở trong trạng thái quân bình cũng như cán cân được giữ vững giữa hai bàn cân.

Chánh Ðịnh tiêu trừ những khát vọng làm chao động tâm, cùng lúc thanh lọc ô nhiễm và làm cho tâm trở nên tinh khiết. Một cái tâm định không bị nhục dục ngũ trần làm chao động. Khi tâm định được phát triển đến cao độ thì dầu ở trong hoàn cảnh trái nghịch nào cũng không chao động.


Người muốn trau dồi tâm định phải quyết tâm nghiêm trì giới luật (sila) bởi vì chính giới luật nuôi dưỡng đời sống tâm linh và làm cho tâm kết hợp lại và trở nên an tĩnh, quân bình, và dồi dào phong phú. Tâm buông lung tự làm cho mình rời rạc bằng những hoạt động vô ích.

Người thực hành pháp tham thiền - tức người có nguyện vọng thành đạt giác ngộ - phải đương đầu với rất nhiều chướng ngại. Nhưng đặc biệt có năm pháp ngăn trở mạnh mẽ tâm định (samadhi) và chặn ngang con đường giải thoát. Theo đúng lời của Ðức Thế Tôn, đó là panca nivarana, năm pháp triền cái. Danh từ nivarana trong Phạn ngữ có nghĩa là cái gì gây trở ngại, hay chặn ngang sự phát triển tinh thần (bhavana). Ðược gọi là nivarana, triền cái, bởi vì nó khóa chặt lại, cắt dứt lìa, và chặn ngang. Nó đóng chặt cánh cửa giải thoát. Năm pháp triền cái là:
1. Kamacchanda: Tham dục
2. Vyapada: Oán ghét
3. Thina-middha: Dã dượi - hôn trầm
4. Uddhacca-kukkucca: Phóng dật - lo âu
5. Vicikiccha: Hoài nghi

Kamacchanda là ham muốn mạnh mẽ các sở hữu, hay thỏa mãn những dục vọng thấp hèn, là sợi dây đầu tiên trói buộc chúng sanh vào cuộc đi bất định của vòng luân hồi và đóng chặt cánh của giải thoát. Dục vọng là gì? Ái dục (tanha) ấy xuất xứ và phát sanh từ đâủ Theo kinh Niệm Xứ (Satipatthana Sutta) "Nơi nào có hoan hỉ và thỏa thích thì ái dục bắt nguồn và phát sanh". Sắc, thính, hương, vị, xúc, pháp là những nơi có tánh cách hoan hỉ và thỏa thích, nơi ấy ái dục phát sanh và bắt nguồn. Khi ái dục bị trở ngại thì trở thành bất mãn và phẫn nộ. Kinh Pháp Cú có câu:
"Tanhaya jayati soko - tanhaya jayati bhayam
Tanhaya vippamuttassa - nathi soko kuto bhayam"

"Ái dục sanh sầu muộn, ái dục sanh lo sợ
Người đã trọn vẹn dập tắt ái dục không còn sầu muộn, càng ít lo sợ"
(Pháp cú , câu 216


Pháp triền cái kế đó là Vyapada, oán ghét, ác ý, sân hận, hay bất toại nguyện. Con người nổi dậy và chống đối một cách tự nhiên những gì không vừa lòng thích thú, những gì không làm cho mình thoả mãn cũng chán nản vì những điều nầy.

Xa cách người thân kẻ yêu là đau khổ. Kết hợp với người không ưa thích cũng đau khổ dường ấỵ Chí đến một món ăn không vừa miệng, một thức uống không hợp ý thích, một tư cách khó thương, và trăm ngàn nghịch cảnh khác mà ta có thể gặp trong đời sống làm cho ta bất toại nguyện.

Suy tư sai lầm, chăm chú không chơn chánh (ayonisa manasikara) làm cho ta tức giận. Ðàng khác, sân hận dưỡng nuôi sân hận và làm mờ trí óc, bóp méo tâm và tâm sở, làm cho ta thấy sai sự thật, do đó trở ngại sự thức tỉnh, ngăn chặn ánh sáng chơn lý và khóa chặt con đường đưa đến tự do. Tham và sân đặt nền tảng trên si, tuyệt đỉnh của mọi điên rồ của chúng ta (avijja paramam malam). Tham, sân, si quả thật là căn nguyên của tất cả mọi xung đột, mọi tranh chấp và mọi chia rẽ giữa người và người, quốc gia và quốc gia.


Chướng ngại tinh thần thứ ba gồm một cặp hai tệ hại: thina và middha. Thina là sự mệt mỏi hay trạng thái dã dượi của tâm và Middha, hôn trầm, là trạng thái dã dượi của tâm sở. Thina và Middha, chắc chắn không phải là sự biếng nhác thuộc về thể xác bởi vì chí đến chư vị A-La-Hán, bậc Toàn Hảo, đã tận diệt cặp triền cái thina-middha, vẫn còn thọ cảm sự mệt mỏi về thể xác. Dã dượi và hôn trầm làm chậm trễ sự phát triển tâm linh. Do ảnh hưởng của thina-middha, dã dượi hôn trầm, tâm không thể hoạt động, ví như bơ đặt quá cứng không thể trét lên bánh, hay như mạch nha dính trên muỗng.

Trạng thái hôn trầm là kẻ thù nguy hại của sự phát triển tâm linh. Một trạng thái hôn trầm dẫn đến trạng thái hôn trầm hơn, hơn nữa, và cuối cùng đến trạng thái dửng dưng chai lì. Bẩm tánh như nhược như vậy là một trở ngại trên đường chơn chánh và tự do. Nhờ tinh tấn, Viriya, hay sự cố gắng tinh thần, có thể khắc phục cặp tệ hại trên.


Pháp triền cái thứ tư bao gồm cặp Uddhacca-Kukkucca, phóng dật lo âu. Thông thường tâm của người có lỗi không yên, hay bồn chồn. Kẻ có tội và người thiếu kiên nhẫn thường bị chướng ngại nầỵ Tâm phóng dật và không ổn định giống như bầy ong vỡ ổ. Sự chao động tinh thần cản trở công trình hành thiền và khóa kín con đường đi lên. Tâm lo âu cũng tai hại như vậỵ Người ta thường ăn năn những tội đã làm. Ðức Phật không tán dương thái độ hối tiếc ấy bởi vì khi sữa đã đổ rơi xuống đất thì than khóc mấy cũng không lợi ích gì. Thay vì khóc than rên rĩ những thiếu sót như vậy ta nên lập tâm cố gắng không còn lập lại hành động bất thiện tương tự trong tương lai. Có người băn khoăn vì đã chểnh mảng bỏ lỡ một cơ hội tạo thiện nghiệp hay đã lãng quên một phận sự. Ðiều nầy cũng vậy, vô ích. Làm như thế không khác nào đứng trên một bờ sông rồi bảo cái bờ bên kia xích qua để cho mình bước lên. Thay vì luống công vô ích như lo âu về các hành động thiện mà ta bỏ lỡ không làm, hãy cố gắng tạo thiện nghiệp, một cách tích cực. Trạng thái bất ổn tinh thần (kukkucca, lo âu) cũng là một chướng ngại cho tiến bộ.


Pháp triền cái thứ năm và cuối cùng là Vicikiccha, Hoài Nghi. Danh từ Pàli vi + cikiccha, đúng theo nghĩa từng chữ, là không thuốc chữa. Người mang bịnh hoài nghi, quả thật đã lầm một chứng bịnh nan y. Cho đến chừng nào, và ngoại trừ khi nào xa lìa hoài nghi, ta vẫn còn phải chịu khổ đau vì chứng bịnh nầy. Ngày nào mà con người còn hoài nghi thì con người còn tiếp tục có một quan kiến bất định về sự vật và đó là một sự thiệt hại vô cùng to lớn cho sự phát triển tâm linh. Các nhà chú giải giải thích rằng hoài nghi là không thể quyết định điều gì một cách chắc chắn. Hoài nghi ở đây cũng là không tin rằng người ta có thể đắc Thiền (Jhana). Về điểm nầy ta có thể thêm rằng dầu là người không phải Phật tử hay không biết gì đến Tam bảo (Phật, Pháp, Tăng) cũng có thể khắc phục triền cái hoài nghi (Vicikiccha) và đắc Thiền (Jhana).


Một hành giả đã đắc Thiền tạm thời chế ngự tất cả năm chướng ngại, bằng năm chi Thiền:
- Kamacchanda (tham dục) do chi Thiền Ekaggata (nhứt điểm tâm, hay trụ) chế ngự,
- Vyapada (oán ghét) do chi Thiền Piti (Phỉ),
- Thina-middha (dã dượi - hôn trầm) do chi Thiền Vitakka (Tầm),
- Uddhacca-kukkucca (phóng dật - lo âu) do chi Thiền Sukha (Lạc) và
- Vicikicca (Hoài Nghi) do chi Thiền Vicara (Sát) chế ngự.

Tuy nhiên, đắc Thiền không phải là mục tiêu cuối cùng. Ðắc Thiền (Jhana) phải dẫn đến minh sát (vipassana). Nhờ minh sát hành giả mới tận diệt những ô nhiễm tiềm tàng ngủ ngầm (anusaya kilesa) và đạt đến trạng thái hoàn toàn trong sạch.

Ngày nào các ô nhiễm (kilesa) còn tiềm tàng tồn tại trong tâm con người ngày ấy ác pháp (papa) còn có thể tiếp tục phát sanh. Người đã đắc Thiền (Jhana) vẫn còn phải nhắm đến mục tiêu cao hơn là minh sát. Người đã đắc Thiền không còn tạo nghiệp bất thiện vì đã chế ngự được năm pháp triền cái, tuy nhiên, ô nhiễm vẫn còn tiềm tàng sâu kín bên trong và như vậy, chưa đạt đến trạng thái tuyệt đối châu toàn. Nhưng vị A-La-Hán, bậc Toàn Hảo, đã gội rửa tất cả mọi ô nhiễm đến tận cùng gốc rễ và đã chấm dứt mọi cuộc đi thênh thang bất định trong vòng luân hồi. Ngài là bậc đã chắc chắn chấm dứt mọi cuộc sống bởi vì đã làm cho kiếp sống cao quí của Ngài trở nên hoàn hảo, hoàn toàn trong sạch và đã hoàn tất mỹ mãn những gì phải làm. Ðối với Ngài không còn kiếp sống nào khác. (Trung A-Hàm, Majjhima Nikaya, số 27).


Một sinh viên chuyên cần, chăm chú sâu xa vào bài học, cắt đứt liên lạc với mọi yếu tố chao động bên ngoài, tự rút vào một nơi yên tĩnh và tự bao trùm bằng một bầu không khí thuận lợi cho việc học, và chỉ lo học. Sinh viên này sẽ thành công, đến kỳ thi sẽ đậu. Cùng thế ấy, hành giả rút vào tịnh thất hay một nơi yên tĩnh khác "xa những cuộc tranh chấp đê hèn của đám đông điên rồ", chú tâm vào đề mục tham thiền (kammatthana) và chiến đấu, và không ngừng tinh tấn chế ngự năm pháp triền cái, thanh lọc mọi ô nhiễm trong luồng tâm, và dần dần đạt đến sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, rồi từ đó, do nhờ năng lực của tâm định (samadhi) hướng tâm quán xét để thấu đạt thực tại trong ý nghĩa cao siêu nhứt.


Ðến giai đoạn nầy hành giả trau dồi thiền minh sát, vipassana. Nhờ minh sát ta mới thấu đạt được bản chất thật sự của các pháp hữu vi, các nguyên tố cấu tạo, và các vật cấu tạọ Thiền Minh Sát giúp ta thấy sự vật đúng thực chất của sự vật, thấy như thật sự, sự vật là như vậy, thấy chơn lý diện đối diện và nhận thức rằng mọi giọng điệu đều chỉ là những âm thanh khác nhau phát xuất từ một dây đờn và ngân nga từ kiếp nầy sang kiếp khác, sợi dây đờn được làm ra bằng chất liệu vô thường, khổ, vô ngã.
Hành giả hướng tuệ minh sát (vipassana-nana) vào thực chất của thế gian mà đã từ lâu, mình vẫn bám bíụ Bây giờ hành giả khảy mỏ, phá vỡ cái vỏ trứng của vô minh để tưng bừng mỡ tung ra cảnh siêu thế. Với sự thanh lọc trọn vẹn cuối cùng nầy hành giả đã thành đạt mức tiếp nhận Ánh Sáng của Niết - Bàn, sự vắng lặng mà không ngôn ngữ tại thế nào diễn đạt được, sự giải thoát tâm không thể thối chuyển (akuppa ceto vimutti), và thế gian nầy không còn ra gì nữa đối với Ngài.
Thất giác chi
(Satta Bojjhanga)
Hòa thượng Piyadassi

Phạm Kim Khánh dịch Việt, 1974
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Bát Chánh Đạo: 8 Chánh Định

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 4 08 Tháng 4, 2015 7:44 am

Thảnh thơi bước giữa Ta-bà
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland


Quay về Thiền Nguyên Thủy

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến1 khách

cron