Diễn đàn Tu viện Phật giáo Việt nam


Bát Chánh Đạo: 3.Chánh ngữ.

Chuyên đề tham khảo Thiền Nam Tông

Các điều hành viên: Sen Hong, Bất Nhị

Bát Chánh Đạo: 3.Chánh ngữ.

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 4 12 Tháng 2, 2014 8:21 pm

Bài 1:
Chánh ngữ, còn gọi là chánh ngôn, đế ngữ, là chi thứ ba trong Bát chánh đạo, nghĩa là xa lìa lời nói hư dối, hai lưỡi, ác khẩu, thêu dệt.
Vì những lời nói này câu hữu với vô minh sẽ đưa hành giả vào ba đường ác, ngược lại là những lời nói chân thật, lời nói hòa hợp lợi mình lợi người, lời nói nhẹ nhàng không thô ác nặng nề, lời nói không thêu dệt phù phiếm, câu hữu với phước báo an vui hạnh phúc.


Nói chung những lời nói nào mang lại lợi cho mình và có lợi cho mọi người, chúng tạo nhân hướng thiện làm phước báo sanh y cho hành giả trong tương lai thì đó gọi là chánh ngữ. Trong kinh Đại Bát Niết-bàn trước khi đức Phật nhập diệt, có đệ tử hỏi:

Bạch Thế tôn, sau khi Phật nhập Niết-bàn rồi, người đời sau gặp nhiều sách vở ngoại đạo với kinh Phật không làm sao phân biệt.Vậy biết tin theo lời nào để tu?


Phật bảo, không luận là lời nói của ai miễn là lời ấy đúng sự thật, hợp chân lý thì cứ tin theo đó mà tu. Đó là chúng ta nói đến phước báo hữu lậu của chánh ngữ, ngoài ra nếu hành giả từ bỏ bốn cách nói trên vượt qua luật nhân quả và, câu hữu với vô tâm trong lời nói, thì những lời nói này thuộc chánh ngữ vô lậu.

Hình ảnhHình ảnh

Thượng Tọa Thích Đức Thắng( Bút hiệu: Đại Lãn, Phổ Đồng)

********************************************************
Nguồn:
Links Bát Chánh Đạo: Chánh Kiến Chánh tư duy

Lưu bút: Sau khi tìm hiểu Chánh kiến này, hành giả có thể tìm thêm nội dung chính của kinh số 10. Kinh Chánh Tri kiến từ Nguồn gốc: http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung00.htm Hai là, Luận giải Kinh Chánh Tri Kiến, Tỳ Khưu Chánh Minh http://www.budsas.org/uni/u-chanhminh/ctk00.htm về: 1. Thiện và Bất thiện; 2. Bốn loại vật thực; 3. Tứ Diệu Đế; 4. Sau cùng là lý 12 nhân duyên. Nơi đây sẽ giúp cho hành giả phân biệt thêm sâu sắc thế nào là Chánh kiến và thế nào là tà kiến. Chúc các bạn thành công. QH.

Lưu bút: Chánh tư duy trong Thiền còn gọi là ''Tầm'', hiểu chánh tư duy thế nào, xin mời bạn trở lại với tiêu đề TẦM (VITAKKA)

*************************
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Bát Chánh Đạo: 3.Chánh ngữ.

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 3 20 Tháng 1, 2015 6:30 am

Bài 2:
8.VIII. Phân Tích (S.iv,8) Kinh Tương Ưng Bộ_ chương 45. Tập V: Đại Phẩm_VIII. Phân Tích (S.iv,8)

1) Nhân duyên ở Sàvatthi.

2) Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng và phân tích Thánh đạo Tám ngành này. Hãy lắng nghe và khéo tác ý. Ta sẽ giảng.

- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau :

3) Này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường Thánh đạo Tám ngành ? Tức là chánh tri kiến... chánh định.

************************************************************************
4) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh tri kiến ? Này các Tỷ-kheo, chính là trí về khổ, trí về khổ tập, trí về khổ diệt, trí về con đường đưa đến khổ diệt. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh tri kiến.


5) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh tư duy ? Này các Tỷ-kheo, chính là xuất ly tư duy, vô sân tư duy, vô hại tư duy. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh tư duy.


6) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh ngữ? Này các Tỷ-kheo, chính là từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh ngữ.


7) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh nghiệp ? Này các Tỷ-kheo, chính là từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ phi Phạm hạnh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh nghiệp.


8) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh mạng? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử đoạn trừ tà mạng, nuôi sống với chánh mạng. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh mạng.


9) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh tinh tấn ? Ở đây, này các Tỷ-kheo, với mục đích khiến cho các ác, bất thiện pháp từ trước chưa sanh không cho sanh khởi, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tấn, trì tâm; với mục đích khiến cho các ác, bất thiện pháp đã sanh được trừ diệt, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tấn, trì tâm; với mục đích khiến cho các thiện pháp từ trước chưa sanh nay được sanh khởi, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tấn, trì tâm; với mục đích khiến cho các thiện pháp đã được sanh có thể duy trì, không có lu mờ, được tăng trưởng, được quảng đại, được tu tập, được viên mãn, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tấn, trì tâm. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh tinh tấn.


10) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh niệm ? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, với mục đích điều phục tham ưu ở đời;
Tỷ-kheo sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm với mục đích điều phục tham ưu ở đời;
Tỷ-kheo sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm với mục đích điều phục tham ưu ở đời;
Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm với mục đích điều phục tham ưu ở đời. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh niệm.
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Bát Chánh Đạo: 3.Chánh ngữ.

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 3 20 Tháng 1, 2015 6:37 am

Chánh ngữ và bốn giới hạnh về ngôn ngữ

Chào các bạn,

Trong thời đại thông tin bùng nổ của chúng ta, với đủ mọi thứ báo chí, TV, radio, email, websites, blogs… chúng ta nói/viết rất nhiều và nghe/đọc cũng rất nhiều. Ngôn ngữ tràn ngập đường phố, tràn ngập không gian thật, và tràn ngập không gian ảo. Vì vậy, trong mọi loại tội lỗi gây ra ngày nay, có lẽ là tội lỗi từ lời nói và chữ viết là nhiều nhất.
Phật pháp có bốn giới hạnh về ngôn ngữ, tức là bốn điều cấm kị về lời nói: vọng ngôn, ỷ ngữ, lưỡng thiệt, và ác khẩu.
Hình ảnh
1. Vọng ngôn là nói dối. Có nói thành không, không nói thành có.

Trong luật pháp còn có khái niệm “misleading” (dẫn đi lạc), tức là nói một nửa giấu một nửa để cho người ta hiểu lầm. Ví dụ : “Anh yêu em trọn đời” (nhưng anh không nói ra là anh dự tính chẳng bao giờ cưới em làm vợ). Trên nguyên tắc thì câu nói yêu em là đúng, ngoại trừ nó thiếu phần sau nên nó được dùng để lừa con gái người ta.

2. Ỷ ngữ là thêu dệt. Có 1 thêu dệt thêm thành 10, để nói xấu người khác (kiểu các blog nhảm nhí), hoặc lường gạt người khác (kiểu người bán hàng không thành thật).

3. Lưỡng thiệt là hai lưỡi. Tức là đâm thọc đầu này đầu kia để thiên hạ đánh nhau.

4. Ác khẩu là lời hung ác.
Ngày nay trong các diễn đàn và thư rác, nhất là các diễn đàn và thư rác có mùi chính trị, bốn loại ngôn ngữ cấm kị này tràn ngập. Chúng hủy hoại văn hóa và trí tuệ của chúng ta. Những người dùng những loại ngôn ngữ này đầu độc chính họ và những người khác. Họ làm dòng thông tin của xã hội mất chính xác vì toàn dối trá, làm người ta ngu dốt vì tiêu thụ thông tin dối trá, và làm người ta hung ác vì tiêu thụ ngôn từ và ‎ý tưởng hung ác.

Một xã hội toàn thông tin rác tạo ra người dốt và ác, thì xã hội đó chỉ có thể là trộm cướp.
Ngày nay, vì các lối nói và viết như thế tràn lan, ta chỉ nói đó là “thiếu văn hóa”.
Nhưng, sự thật là trong rất nhiều trường hợp, đó là hình tội. Ví dụ: Nói dối hay thêu dệt trên blog về một người nào đó có thể là tội vu khống hay mạ lị. Nói dối để lấy tiền của người là tội lừa lọc.
Trong các truyền thống tâm linh, bốn cách nói trên (vọng ngôn, ỷ ngữ, lưỡng thiệt, ác khẩu) là tội lỗi.
Trên phương diện phát triển tâm lý con người, chúng làm cho nhiều người trong xã hội thành ngu dốt, hung ác, và thiếu phẩm cách.

Trên phương diện ngoại giao và quản lý, chúng là cơn bệnh mà bệnh nhân bị mất sự tin tưởng và kính trọng của người khác, cho nên người đó ngóc đầu lên không được trên đường sự nghiệp.
Vì vậy, hàng ngày, khi bạn đọc thì lựa bài mà đọc, nghe thì lựa bài mà nghe, nói hay viết thì lựa từ mà dùng.

***********************************************************

Đối nghịch lại với 4 loại ngôn ngữ xấu này, là “chánh ngữ”.

Chánh ngữ là một trong tám nhánh đường giác ngộ (bát chánh đạo).
Chánh ngữ là lời nói thành thật, chính xác, hòa ái.

Chánh ngữ là nói/viết với chánh niệm—tức là tập trung tư tưởng vào lời nói hay chữ viết mình đang dùng, với một trái tim thiện hảo mong mang lại yêu thương, tích cực, và phúc lợi cho những người nghe/đọc mình.

Ngôn ngữ có thể là một trong tám nhánh đường đưa đến giác ngộ–giải thoát ta khỏi biển si mê—hay là một nghiệp tội đẩy ta xuống địa ngục tối tăm của ngu dốt.
Cho nên, các bạn, hãy lựa lời mà nói/viết.
Chúc các bạn một ngày chánh ngữ.
Mến,
Trần Đình Hoành
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Bát Chánh Đạo: 3.Chánh ngữ.

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 3 20 Tháng 1, 2015 7:42 am

Bài 4:
CHÁNH NGỮ (SAMMÀ-VÀCÀ)

1. Ngôn ngữ quả thật là điều kỳ diệu biết bao, vì chỉ một lời nói có thể làm thay đổi hẳn toàn bộ quan niệm của con người về vấn đề thiện ác. Không phải là chúng ta đã thực sự may mắn có được đặc ân này một điều mà bị từ chối đối với loài vật đó sao?

Vậy mà quá ít người trong chúng ta quan tâm đến việc sử dụng nó vì lợi ích của bản thân chúng ta và của mọi người đến như thế nào! Giá như con người ta biết đắn đo hơn và tế nhị hơn trong những gì họ nói và chính xác hơn, thành thật hơn trong những gì họ viết hẳn rất nhiều điều phiền muộn và hiểu lầm đã có thể tránh khỏi.

Ngôn ngữ là một món quà vô giá vì qua nó chúng ta có thể diễn đạt những ý tưởng và quan niệm, nói chung những điều cần được chia xẻ với người khác. Nhưng nếu cái lưỡi không xương nhiều đường lắt léo này, cứ mặc cho nó phóng túng, nó có thể phá hỏng mọi sự. Rất nhiều những xung đột và rắc rối - từ những chuyện cãi nhau lặt vặt giữa các gia đình đến những cuộc chiến tranh giữa các quốc gia đâu không phải là trách nhiệm của các lưỡi đó sao?

Chỉ cần người ta điều phục được cái lưỡi của mình, không phải là thế giới này sẽ trở thành một nơi tốt đẹp hơn để sống hay sao?


Ngôn ngữ không nên để bị chi phối bởi những tư duy bất thiện bởi tham, sân, ganh tỵ, ngã mạn, ích kỷ, v.v... Nói nhiều chắc chắn sẽ cản trở sự điềm tĩnh và tư duy chơn chánh, cũng như một cái lưỡi lúc nào cũng liến thoáng sẽ dẫn đến bốn loại tà ngữ.

Ðức Phật nói: 'Này các Tỳ khưu, có năm bất lợi và nguy hại cho lời nói ba hoa này. Thế nào là năm? Người nói nhiều sẽ thốt ra những lời giả dối, nói lưỡi hai chiều, nói lời độc ác và những lời phù phiếm và sau khi chết sẽ tái sanh vào một trong bốn đường ác'
.


2. Không nói dối: Trong nội dung của chánh ngữ giới đầu tiên là không nói dối đồng thời phải nói lời chân thật. Người như vậy theo Metta sutta (Từ Bi kinh) nói, là người ngay thẳng và chánh trực (Uju, Sùju). Người ấy sống chân thật, liêm khiết và đáng tin cậy. Người ấy không vì danh, vì lợi hoặc vì muốn làm vui lòng người khác mà chối bỏ sự thật.

Có thể người ấy bị xem là nghiêm khắc, nhưng 'sự thật chỉ có một, không có sự thật thứ hai[30]'. Ðức Phật không bao giờ tuyên bố một điều gì ngày hôm nay rồi ngày mai lại nói ngược lại[31]. Bởi vì Ngài nói như thế nào thì Ngài làm như thế ấy và Ngài làm như thế nào thì Ngài nói như thế ấy, nên Ngài được gọi là Tathàgata (Như Lai), bậc Ðạo Sư cũng được gọi là Saccanàma, 'người mệnh danh là chân lý'.

Liên quan đến tội nói dối này, Ðức Phật đã nhấn mạnh trong bài học đầu tiên cho Sa di Ràhula (La Hầu La), Sa di bảy tuổi, dường như có tật xấu thích nói dối (chúng ta biết rằng trẻ con ở lứa tuổi này, vô tình hay cố ý thường hay nói dối).

Một hôm Ðức Phật đến thăm Sa di Ràhula. Ràhula chuẩn bị sẵn sàng tọa và đem nước cho Ngài rửa chân. Bậc Ðạo Sư rửa chân xong rồi ngồi xuống. Sa di Ràhula cúi đầu đảnh lễ Ðức Thế Tôn rồi ngồi sang một bên.

Khi ấy bậc Ðạo Sư đổ một ít nước vào chậu và nói:

- Này Ràhula, con có thấy ít nước còn lại trong chậu không?
- Bạch Ðức Thế Tôn con có thấy.
- Cũng vô nghĩa như vậy, này Ràhula, là Sa-Môn hạnh của những ai nói láo không biết hổ thẹn.

Rồi bậc Ðạo Sư đổ nước trong chậu đi và nói với Sa di:

- Này Ràhula, con có thấy chút nước còn lại đã bị hất đi không?
- Thưa có, bạch Ðức Thế Tôn.
- Cũng vậy, này Ràhula! Sa-Môn hạnh thực sự đã bị vứt bỏ đối với người nào nói dối không biết hổ thẹn.

Rồi bậc Ðạo Sư lật úp chậu nước lại và nói:

- Này Ràhula, con có thấy rằng cái chậu đã bị lật úp xuống không?
- Bạch Ðức Thế Tôn, con có thấy.
- Cũng vậy nầy Ràhula, Sa-Môn hạnh thực đã bị lật úp đối với người nào nói dối không biết hổ thẹn.

Rồi bậc Ðạo Sư lật ngửa chậu nước lên và bảo:

- Này Ràhula, con có thấy chậu nước này đã rỗng không chăng?
- Bạch Ðức Thế Tôn con có thấy.
- Cũng vậy này Ràhula, Sa-Môn hạnh của người nói láo cũng rỗng tuếch, trống không như vậy.
...

3. Nói ly gián hay nói hai lưỡi (Pisunàvàcà: ly gián ngữ) là điều ác kế tiếp mà cái lưỡi có thể phạm, từ Pàli Pisunàvàcà nghĩa đen là "Phá vỡ tình bạn". Vu khống người khác là một điều độc ác nhất vì nó đòi hỏi phải đưa ra một lời tuyên bố dối trá với ý định làm hại thanh danh của người khác.

Người nói lời ly gián thường phạm vào hai tội ác một lúc, vì lời vu cáo của họ không đúng sự thật nên họ đã phạm tội nói láo và sau đó họ còn phạm tội đâm thọc sau lưng người khác (ly gián).

Trong thi ca văn kệ Sanskrit người đâm thọc sau lưng người khác được so sánh với con muỗi tuy nhỏ nhưng rất độc. Nó bay đến với tiếng hát vo ve, đậu lên người bạn, hút máu và có thể, nếu là muỗi cái, truyền bệnh sốt rét vào bạn. Lại nữa những lời lẽ của người đâm bị thóc, thọc bị gạo này có thể ngọt ngào như mật ong, nhưng tâm địa của họ đầy nọc độc.

Như vậy chúng ta hãy tránh lời nói đâm thọc hay lời nói ly gián phá hủy tình thân hữu. Thay vì gây chia rẽ, chúng ta hãy nói những lời đem lại sự an vui và hoà giải.
Thay vì gieo hạt giống phân ly, chúng ta hãy mang an lạc và tình bạn đến những ai đang sống trong bất hoà và thù nghịch.


4. không nói những lời độc ác đồng thời phải nói những lời hòa nhã, lễ độ. Những gì chúng ta nói có thể đem đến được - mất, khen - chê, danh thơm -tiếng xấu, khổ đau - hạnh phúc. Một lời nói êm ái, hoà nhã có thể làm động lòng trái tim chai đá nhất, trong khi một lời độc ác có thể gây ra sự đau đớn khó lường.

Chúng ta phải nghĩ hai lần trước khi nói không tốt về một người nào, vì đó là một cố gắng để làm tổn hại danh dự và nhân cách của người đó.
Tuy nhiên, nếu khen một người nào thì không có vấn đề gì cả, vì lời khen này không đưa đến khó chịu và thù oán, ví như chúng ta tô điểm phớt qua bức tranh một tí, vậy thôi.

Ðức Phật dạy:

'Phàm con người đã sanh
Sanh với búa trong miệng
Kẻ ngu si nói bậy,
Tự chặt đứt lấy thân'
[33].

5. Ngôn ngữ của một người thường biểu thị cá tính của họ; một lời độc ác, một điệu bộ khó ưa, một nụ cười bất chánh, có thể biến một người bản chất hiền lương thành kẻ tội phạm, biến một người bạn thành kẻ thù.
"Chớ nói lời độc ác
Nói ác, bị nói lại
Khổ thay lời phẫn nộ
Ðao trượng phản chạm mình
[35]".

Một trong những câu chuyện tiền thân của đức Bồ tát kể lại trường hợp Ngài đã làm thế nào để cho mẹ của mình dứt bỏ lời nói độc ác. Theo lời đồn bà là người đa ngôn và độc miệng, nhưng người con (Ðức Bồ tát) biết những khuyết điểm của mẹ, không muốn nói thẳng sợ làm cho bà Phật lòng.

Một hôm, Bồ tát (lúc đó là Vua xứ Benares 'Ba la nại') ngự chơi vườn thượng uyển với mẫu hậu và quần thần.
Trên đường đi, một con chim giẻ cùi xanh (một loại chim có màu lông sặc sỡ hay kêu ầm ĩ) cất tiếng kêu the thé chói tai đến nỗi mọi người phải bịt tai lại và la lên: "Thật là một tiếng kêu ác độc, một tiếng rít mới ghê rợn làm sao, đừng có kêu nữa, đừng có bắt người ta phải nghe nữa".

Rồi sau đó, vô tình Bồ tát và mẫu hậu cùng đoàn tuỳ tùng tản bộ đến một nơi êm ái dễ chịu kia, một con chim sáo cất tiếng hót ngọt ngào đến nỗi mọi người đều hân hoan và mong rằng nó sẽ hót lại nữa.

Ðây chính là lúc mà đức Bồ tát hằng chờ đợi,

Ngài liền nói: "Thưa mẫu hậu, tiếng kêu của loài chim giẻ cùi thật là khó chịu và mọi người thà bịt tai lại còn hơn phải nghe tiếng kêu của nó. Không ai thích lời nói thô lỗ cả. Con chim sáo dù đen đủi và không đẹp nhưng đã chiếm được cảm tình và sự chú ý của mọi người nhờ tiếng hót ngọt ngào của nó. Do vậy lời nói của người ta cần phải thân ái và tiết chế, điềm đạm và mang đầy ý nghĩa...". Ðược Bồ tát khuyên giải như vậy, từ đó về sau người mẹ trở nên tế nhị hơn trong lời nói và tao nhã hơn trong tính cách
[36].

Lời nói nhã nhặn và lịch thiệp có sức hấp dẫn và là một vốn quý đối với xã hội, vậy mà cái đẹp này thường bị phá hỏng bởi lời nói thô lỗ cọc cằn "ngôn ngữ của trái tim, ngôn ngữ xuất phát từ trái tim, luôn luôn mộc mạc, thanh nhã và đầy năng lực"[37].

***
**
*
6. Giới thứ tư và cũng là giới cuối cùng liên quan đến Chánh Ngữ là không nói lời phù phiếm hay nói lời vô ích, tức là những lời không đem lại lợi ích cho ai cả. Người ta thường thích nói chuyện phù phiếm cho qua ngày, nhất là những chuyện gièm pha chê bai người khác với ác ý. Các cột lượm lặt trên báo chí cũng được xem là không tốt. Các ông, các bà khi rảnh rỗi thường mãi miết trong các câu chuyện gẫu bất tận, họ giải trí bằng cái giá phải trả của người khác.

Lời khuyên vàng ngọc của Ðức Phật là: "Này các Tỳ khưu, khi các con tu tập cùng nhau thời có hai việc cần làm, hoặc là nói về pháp (dhamma) hoặc là giữ sự yên lặng như bậc Thánh"
[38].

Trong ngôn ngữ Pàli từ Muni (Mâu Ni) có nghĩa là người luôn giữ sự yên lặng (Bậc tịch tịnh), thường được dùng để gọi một vị Thánh. Vâng "Yên lặng là vàng" chính vì vậy đừng nên nói, trừ khi bạn chắc chắn rằng bạn không thể tốt hơn trong sự yên lặng.

Nói nhiều là mối hiểm nguy,
Người thường yên lặng tránh điều tai ương,
Két kia liến thoắng bị giam
Hoá chim không nói vẫy vùng tự do
[40].

"Người ta không thể trở thành bậc trí chỉ vì nói nhiều"[41]. Cũng không phải vì nói nhiều mà người ta được gọi là bậc lão thông Pháp (Dhammadhara)[42].

Và sợ rằng người ta có thể hiểu lầm sự yên lặng của bậc Thanh Tịnh (Muni), Ðức Phật nói: "Giữ yên lặng không biến kẻ ngu dốt, si mê thành bậc Thánh (muni)"[43].
Im lặng nhưng ngu si
Ðâu phải bậc hiền trí.

Ðể kết luận cho phần Chánh Ngữ này chúng ta hãy nghe bài kinh Subhàta (Khéo Thuyết) trong Kinh Tập (Suttanipàta) 78.

Bậc thiện nhân nói lên,
Lời khéo nói tối thượng,
Thứ hai nói đúng pháp,
Không nói lời phi pháp

Thứ ba nói khả ái,
Thứ tư nói chân thật,
Không nói lời dối trá.

Hãy nói lên những lời

Không thiêu đốt Tự Ngã
Không làm hại người khác
Lời nói ấy khéo nói.
Hãy nói lời khả ái,

Nói lời khiến hoan hỉ
Không mang theo ác hại,
Khiến người khác ưa thích
Chân thật lời bất tử,

Ðây thường pháp là vậy,
Họ nói, bậc thiện nhân,
An trú trên chân thật
Trên mục đích trên pháp.

[i]Lời gì Ðức Phật nói
An ổn đạt Niết bàn
Ðoạn tận các khổ đau,
Ðây lời nói tối thượng.
http://www.budsas.org/uni/u-cdcoxua/cdcoxua08.htm
[/i]
Con Ðường Cổ Xưa
(The Buddha's Ancient Path)
Piyadassi Thera
Dịch giả: Tỳ Khưu Pháp Thông
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Bát Chánh Đạo: 3.Chánh ngữ.

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 3 20 Tháng 1, 2015 7:54 am

Bài 5 (VIII) (198) LỜI NÓI
Kinh Tăng Chi Bộ về Lời nói: Chương 5_XX(VIII-198) viết:

1. - Thành tựu năm chi phần, này các Tỷ-kheo, các lời là thiện thuyết, không phải ác thuyết, không có phạm tội và không bị những người có trí chỉ trích. Thế nào là năm?

2. Nói đúng thời, nói đúng sự thật, nói lời nhu hòa, nói lời liên hệ đến lợi ích, nói với lời từ tâm.

Thành tựu năm chi phần, này các Tỷ-kheo, các lời là thiện thuyết, không phải ác thuyết, không có phạm tội và không bị những người có trí chỉ trích.
****************************

Lời nói ác được Đức Phật giải thích như là những

“điều gì đã được thấy, được nghe, được biết, mà khi nói ra bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp suy giảm, thì không nên nói”, ngược lại những lời thiện là “điều gì đã được thấy, được nghe, được biết, mà khi nói ra thiện pháp tăng trưởng, bất thiện pháp tổn giảm, thì nên nói ra điều ấy”.


Vì vậy trước khi nói chúng ta nên suy tư cẩn thận:

Điều mình sắp nói có đúng không?
Điều mình sắp nói ra có cần thiết không?
Điều mình sắp nói có ích gì cho người nghe không?
Điều mình sắp nói có hòa nhã không, có xuất phát từ từ tâm không?

Trong kinh Trung Bộ có ghi lại câu chuyện:

Vương tử Vô Úy hỏi Đức Phật rằng có thể nào lời nói của Ngài làm phật ý người khác hay không. Ngài trả lời:

“Lời nói nào Như Lai biết là như thật, như chân, tương ứng với mục đích, và lời nói ấy khiến những người khác không ưa, không thích, ở đây, Như Lai biết đúng thời mà giải thích lời nói ấy.”


Như thế, ngay cả khi những lời nói ra khiến những người khác không ưa không thích, nhưng nếu quán “căn cơ” thấy có ích lợi cho những người đó, Đức Phật vẫn biết đúng thời, lựa thời điểm phù hợp, để nói những lời gieo mầm chánh pháp.

Phật pháp là dành cho tất cả mọi người, công khai và không ép buộc, tuy không phụ thuộc vào ngôn từ nhưng không vì sự không ưa thích mà Đức Phật không đem lại cho chúng sanh cơ hội để hiểu pháp, để biết con đường tự giải thoát.


Cũng như vậy, trong đời sống của chúng ta, khi cần phê phán một điều gì đó, chúng ta cần xem xét lại kĩ tâm mình để chắc chắn những lời nói ra hoàn toàn khách quan và nói với từ tâm, với mục đích có ích, chứ không phải với tâm sân hận. Điều này rất gần với một tư tưởng của Thiên chúa giáo “Ghét tội nhưng không ghét người có tội”.


Khi chúng ta còn chưa kiểm soát được nỗi giận trong lòng mình, thì điều tốt nhất là hãy giữ im lặng để tránh nói ra những lời gây hối tiếc sau này.

Bởi vì, những lời nói có khả năng mang những sức mạnh vô cùng, dù đó có thể là sức mạnh xây dựng hay sức mạnh phá hủy.

Sự phát triển về trí tuệ và sự thông minh của chúng ta có hệ quả là tâm hồn con người trở nên rất nhạy cảm và dễ bị tổn thương, đặc biệt là với những lời nói về “tôi”. Những bậc Giác ngộ thì đã sống với sự thực tuyệt đối, cho nên không còn bị ảnh hưởng bởi sự tương đối của ngôn từ nữa.


Chúng ta nên nỗ lực thực tập để đạt được giới hạnh như vậy. (Phạm thu Huong)
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Bát Chánh Đạo: 3.Chánh ngữ.

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 3 20 Tháng 1, 2015 7:58 am

Bài 6:

Đức Phật còn khuyến khích ái ngữ trong Kinh Tăng Chi Bộ_Chương 9 (V.5_Những sức mạnh):

‘Này các Tỷ-kheo, có bốn Nhiếp pháp này:
bố thí,
ái ngữ,
lợi hành,
đồng sự.

Tối thượng trong các loại bố thí, này các Tỷ-kheo, là pháp thí(*). Tối thượng trong các loại ái ngữ, này các Tỷ-kheo là tiếp tục thuyết pháp cho những ai hỷ cầu và lắng tai nghe.’


Ái ở đây không phải là luyến ái hay ham thích mà là nói lời nhân ái, yêu thương, chân thật và dễ chịu, có khả năng đưa người nói và người nghe đến sự thanh cao trong giao tiếp (mặc dù những bậc chân tu gặp nhau thường không nói gì cả ).

Dù vậy, khi chúng ta thực tập ái ngữ trong đời sống hàng ngày, nói với nhau những lời dịu dàng âu yếm, tươi vui sống động như vẽ lên một bức tranh tươi đẹp, khiến cho cuộc sống đáng sống hơn rất nhiều.

Tuy nhiên, để tăng tiến trên con đường thanh tịnh thân khẩu ý, chúng ta nên tự rèn luyện mình suy nghĩ kĩ càng về những điều nên nói và những điều không nên và cẩn trọng với từng lời mình nói ra, hơn là soi xét phê bình những lời nói của người khác.

Ngược lại, khi nghe người khác nói, chúng ta nên biết rõ sự hạn chế và tương đối của ngôn từ để lắng nghe chăm chú hơn, để có thể hiểu đúng nhất có thể, và cảm nhận được sự kì diệu trong ngôn ngữ con người chúng ta đã tạo ra để giao tiếp với nhau hàng nghìn năm qua.

Chúc các bạn thực tập nhuần nhuyễn chánh ngữ mỗi ngày.
Hẹn gặp lại các bạn.
Phạm Thu Hường
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Bát Chánh Đạo: 3.Chánh ngữ.

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 3 20 Tháng 1, 2015 10:43 am

Bài 7:

Chánh ngữ là lời nói chân chánh
, không tạo nghiệp bất thiện bằng lời nói, mà trái lại, dùng lời nói để tạo các nghiệp thiện lành.
Trong Bát Chánh Đạo, Chánh Ngữ là chi thứ ba, và được định nghĩa như sau, như đã ghi trong Tương Ưng Bộ: "Thế nào là chánh ngữ? Đó là từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm". Đó là về mặt tiêu cực.

Về mặt tích cực, Đức Phật cũng dạy rằng chúng ta phải cố gắng tu tập để có những lời nói chân thật, hòa hợp, dịu dàng, và có ý nghĩa. Khi ta thực tập được những lời nói nầy, ta được nhiều người quý mến. Để đáp lại, họ sẽ lắng nghe những gì ta nói ra, và sẽ đáp ứng thân thiện và xây dựng.

Trong Tăng Chi Bộ 10.176, Đức Phật dạy:

-- "Có bốn pháp tịnh hạnh về lời nói:

1) Ở đây, có người đoạn tận nói láo, từ bỏ nói láo. Nếu không biết, người ấy nói: "Tôi không biết"; nếu biết, người ấy nói: "Tôi biết"; nếu không thấy, người ấy nói: "Tôi không thấy"; nếu thấy, người ấy nói: "Tôi thấy". Như vậy lời nói của người ấy không trở thành cố ý vọng ngữ, hoặc nguyên nhân vì mình, hoặc nguyên nhân vì người, hoặc nguyên nhân vì một vài quyền lợi gì.

2) Người ấy đoạn tận nói hai lưỡi, từ bỏ nói hai lưỡi. Nghe điều gì ở chỗ này, người ấy không đi đến chỗ kia nói, để gây chia rẽ ở những người này; nghe điều gì ở chỗ kia, người ấy không đi nói với những người này, để gây chia rẽ ở những người kia. Như vậy người ấy sống hòa hợp những kẻ ly gián, tăng trưởng những kẻ hòa hợp, thích thú hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp.

3) Người ấy đoạn tận lời nói độc ác, từ bỏ lời nói độc ác. Người ấy chỉ dùng những lời nói nhu hòa, êm tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người, vui ý nhiều người.

4) Người ấy đoạn tận lời nói phù phiếm. Người ấy nói đúng thời, nói chân thật, nói có ý nghĩa, nói Pháp, nói Luật, nói những lời đáng được gìn giữ. Vì nói hợp thời, nên lời nói thuận lý, có mạch lạc, hệ thống, lợi ích".

Đó cũng là 4 thiện nghiệp về Khẩu trong 10 thiện nghiệp (thập thiện nghiệp) mà Đức Phật thường giảng dạy cho các vị đệ tử cư sĩ. Còn các thiện nghiệp khác là về Thân có 3: các hành động không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm; và về Ý có 3: các ý tưởng không tham, không sân, không si.

Cũng có trường hợp, khi ta nói chân thật và lễ độ mà vẫn chạm đến tự ái của kẻ khác, khiến họ phật lòng. Tuy thế, đôi khi cần phải nói sự thật dù có mất lòng nhưng hữu ích, có khả năng đem đến lợi lạc trên đường tu tập. Trong kinh số 58, Trung Bộ, Vương tử Vô Úy hỏi Đức Phật rằng có thể nào lời nói của Ngài làm phật ý người khác hay không. Ngài trả lời:

-- "Này Vương tử Vô Úy, lời nói nào Như Lai biết không như thật, không như chân, không tương ứng với mục đích, và lời nói ấy khiến những người khác không ưa, không thích, Như Lai không nói lời nói ấy.

Lời nói nào Như Lai biết là như thật, như chân, không tương ứng với mục đích, và lời nói ấy khiến những người khác không ưa, không thích, Như Lai không nói lời nói ấy.

Lời nói nào Như Lai biết là như thật, như chân, tương ứng với mục đích, và lời nói ấy khiến những người khác không ưa, không thích, ở đây, Như Lai biết đúng thời mà giải thích lời nói ấy.

Lời nói nào Như Lai biết là không như thật, không như chân, không tương ứng với mục đích, và lời nói ấy khiến những người khác ưa thích, Như Lại không nói lời nói ấy.

Lời nói nào Như Lai biết là như thật, như chân, không tương ứng với mục đích, và lời nói ấy khiến những người khác ưa và thích, Như Lai không nói lời nói ấy.

Và lời nói nào Như Lai biết là như thật, như chân, tương ứng với mục đích, và lời nói ấy khiến những người khác ưa và thích, ở đây, Như Lai biết đúng thời mà giải thích lời nói ấy".

Như thế, chúng ta thấy rằng Đức Phật chọn đúng thời để giảng dạy người khác, với những lời lẽ như thật, như chân, đưa đến mục đích giải thoát giác ngộ, cho dù lời ấy được người nghe ưa thích hoặc không ưa thích.


Trong kinh Lời Nói (Tăng Chi 5.198), Đức Phật giảng 5 yếu tố của một lời nói thiện lành như sau:

--"Thành tựu năm chi phần, này các Tỳ khưu, các lời là thiện thuyết, không phải ác thuyết, không có phạm tội và không bị những bậc Hiền trí chỉ trích. Thế nào là năm? Nói đúng thời, nói đúng sự thật, nói lời nhu hòa, nói lời đem đến lợi ích, nói với lời từ tâm".

1) Nói đúng thời: có khi một lời chân thật nhưng không được phát biểu đúng lúc thì thành ra vô ích hoặc làm cho người khác bực mình. Người thiện trí phải tế nhị để áp dụng lời nói của mình đúng chỗ, đúng lúc.

2) Nói đúng sự thật: bậc thi?n tri thức nói một lời phải dựa trên sự thật, không ngụy biện, không lừa dối.

3) Nói lời nhu hoà: lời nói cần phải dịu dàng, lễ phép, tạo không khí hòa hợp.

4) Nói lời đem đến lợi ích: lời nói phải có mục đích và ý nghĩa của nó, dù là lời chân thật nhưng không có mục đích đem lại lợi ích cho ai, thì đó cũng chỉ là lời nói nhảm, vô dụng.

5) Nói lời với từ tâm: lời nói phải phát xuất từ tấm lòng thương yêu, cẩn trọng.


Ngoài ra, trong bài kinh Khéo Thuyết,Kinh Tập 78, Đức Phật giảng thêm:

-- "Thành tựu bốn chi phần, này các Tỳ-khưu, lời nói được khéo nói, không phải vụng nói, không có lỗi lầm, không bị người trí quở trách. Thế nào là bốn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chỉ nói lời khéo nói, không nói lời vụng nói; chỉ nói lời đúng pháp, không nói lời phi pháp; chỉ nói lời khả ái, không nói lời phi khả ái; chỉ nói lời đúng sự thật, không nói lời không đúng sự thật. Thành tựu với bốn chi phần này, này các Tỳ khưu, lời nói là được khéo nói, không phải vụng nói, không có lỗi lầm, không bị người trí quở trách."

Trong Tăng Chi Bộ 10.69, Đức Phật khuyên chúng ta chỉ nên bàn luận về những đề tài thiết thực, có ích lợi trong sự tu tập:

-- "Có mười đề tài đáng để đàm luận. Thế nào là mười? Đó là các câu chuyện về ít dục, câu chuyện về biết đủ, câu chuyện về viễn ly, câu chuyện về không tụ hội, câu chuyện về tinh tấn, câu chuyện về giới, câu chuyện về định, câu chuyện về tuệ, câu chuyện về giải thoát, câu chuyện về giải thoát tri kiến".


Ngài thiền sư Buddhadassa (Phật Lệ), Thái Lan, giải thích thêm:

1) Giảm dục (Appiccha-gatha): đàm luận để giảm lòng tham, dùng những từ ngữ khuyến khích ta tiết giảm lòng ham muốn.

2) Biết đủ hay Tri túc (Santutthi-gatha): đàm luận để đưa đến sự biết đủ, dùng những từ ngữ khuyến khích ta thỏa mãn với những gì mình đang có, mà không còn chú ý đến các tiện nghi xa hoa.

3) Viễn ly hay Ðộc cư (Paviveka-gatha): đàm luận để đưa đến sự sống một mình, dùng những từ ngữ khuyến khích việc sống và tư duy đơn độc, xa lánh các náo động.

4) Không tụ hội hay Giảm Tiếp (Asamsagga-gatha): đàm luận để tránh các tiếp xúc vô ích, dùng những từ ngữ khuyến khích ta tránh phí phạm năng lực và thì giờ.

5) Tinh tấn (Viriyarambha-gatha): đàm luận để bảo tồn và gia tăng tinh tấn, dùng những từ ngữ khuyến khích nỗ lực trong tu tập.

6) Giới đức (Sila-gatha): đàm luận để giữ giới hạnh tốt, dùng những từ ngữ để khuyến khích gìn giữ đức hạnh.

7) Thiền định (Samadhi-gatha): đàm luận để tạo lập tâm an định, thăng bằng, chuyên chú, tổng hợp, dùng những từ ngữ để khuyến khích tâm thêm trong sáng và ổn cố.

8) Trí tuệ (Panna-gatha): đàm luận để tạo thông minh và trí tuệ, dùng những từ ngữ để khuyến khích sự phát triển tuệ minh triết.

9) Giải thoát (Vimutti-gatha): đàm luận để giải thoát, dùng những từ ngữ để khuyến khích sự giải thoát tâm trí khỏi mọi phiền não, mọi mầm mống bất thiện.

10) Tri kiến Giải thoát (Vimutti-nanadassana-gatha): đàm luận để tạo lập tri kiến giải thoát, dùng những từ ngữ để khuyến khích sự chú tâm và hiểu biết về tri kiến giải thoát, xả ly khỏi mọi tham thủ và phiền não.


Ðức Phật rất chê trách những cuộc nói chuyện huyên thuyên, phí thời gian vô ích. Những lời gièm pha và đồn đãi không đem đến lợi lạc gì, vì chúng làm quấy động sự yên tĩnh và định tâm. Ngài cũng giảng thêm rằng người ta không thể trở thành bậc trí chỉ vì nói nhiều, cũng không phải vì nói nhiều mà người ta được gọi là bậc lão thông Pháp (Dhammadhara), như trong các câu Pháp Cú sau đây:


"Dầu nói ngàn ngàn lời,
Nhưng không gì lợi ích,
Tốt hơn một câu nghĩa,
Nghe xong, được tịnh lạc." (PC 100)

"Không phải vì nói nhiều,
Mới xứng danh bậc trí.
An ổn, không oán sợ.
Thật đáng gọi bậc trí." (PC 258)

"Không phải vì nói nhiều,
Là thọ trì chánh pháp.
Người nghe ít diệu pháp,
Nhưng trực nhận viên dung,
Chánh pháp không buông lung,
Là thọ trì chánh pháp." (PC 259)


Trong ngôn ngữ Pàli, danh từ "Mâu-ni" (Muni) trong tên "Thích-ca Mâu-ni" (Sakya Muni) có nghĩa là người luôn giữ sự yên lặng (bậc Tịch tịnh), thường được dùng để gọi một vị Thánh. Đức Phật thường khuyên các vị tu sĩ đệ tử rằng: "Này các Tỳ-khưu, khi quí vị hội họp với nhau, có hai việc cần phải làm: một là đàm luận về Chánh pháp, hai là giữ sự im lặng của bậc Thánh" (Phật tự thuyết, Ud 10).


Tóm lại, lời nói có một ảnh hưởng vô cùng quan trọng, không những tác động đến đời sống hạnh phúc của mỗi cá nhân mà còn có thể tác động đến sinh hoạt của xã hội. Nếu có tỉnh giác và định hướng tốt, lời nói qua các cuộc đàm luận, giao tiếp hằng ngày, sẽ mang đến nhiều lợi ích cho sự tu tập của những người con Phật chúng ta. Chính vì thế mà Đức Phật đã đưa Chánh Ngữ vào Bát Chánh Đạo, con đường Tám Chánh dẫn đến giải thoát giác ngộ.

Bình Anson
Perth, Tây Úc, tháng 9-2004
(http://www.budsas.org)
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Bát Chánh Đạo: 3.Chánh ngữ.

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 3 20 Tháng 1, 2015 12:18 pm

THỰC TẬP CHÁNH NGỮ

Hoang Phong

Định nghĩa về chánh ngữ

Chánh ngữ là cách tu tập được xếp vào hàng thứ ba của bát chánh đạo. Nói một cách tổng quát thì có ba phép tu tập : tu giới (shila), tu định (samatha) và tu tuệ (prajna), chánh ngữ thuộc vào lãnh vực tu giới.
Tương Ưng Bộ Kinh định nghĩa chánh ngữ như sau : « Chánh ngữ là từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm». Nếu như không nói láo, không nói hai lưỡi, không nói lời độc ác, không nói lời phù phiếm thì tất nhiên là phải nói ngay thật, trung thực, ôn hòa và lợi ích.


Định nghĩa có vẻ đơn giản nhưng áp dụng thì khó.

Lên chùa thì Thầy giảng ta nghe, mấy khi Thầy nghe ta giảng.
Ra phố mua sắm, thì người bán nói ta nghe, họ có nói chánh ngữ hay không thì cũng khó biết được. Gặp bạn bè thì lựa lời mà nói cho đẹp lòng nhau, nói chánh ngữ lôi thôi đôi khi có thể mất cả bạn bè.

Nơi làm việc thì xếp nói ta nghe, mấy khi ta có dịp để nói chánh ngữ cho xếp nghe. Về nhà thì vợ con nói ta nghe, mấy khi vợ con nghe ta nói. Vì thế có muốn áp dụng chánh ngữ để «được một chút phước đức» dành cho kiếp sau cũng không mấy khi tìm được dịp.


Vì vậy đối với một cá thể con người, ngôn từ giữ một vị trí và chức năng như thế nào ? Sau đây là phần trình bày sơ lược về khái niệm ba cửa ngõ của một cá thể và từ đó sẽ xác định vị trí và vai trò của chánh ngữ hay ngôn từ nói chung.


- Ngôn từ : ngôn từ không nhất thiết chỉ dùng để chỉ định sự phát biểu ý nghĩ bằng tiếng nói mà còn chỉ định khả năng hiểu biết ý nghĩa của các cấu trúc âm thanh.

Ngôn từ là một thành phần trung gian giữa tâm thức (tác ý) và thân xác (môi, lưỡi, dây thanh trong cuống họng, hơi trong phổi...). Đó là một cửa ngõ rất quan trọng mở ra cả hai chiều : vào và ra.

Điều này rất quan trọng tuy nhiên ít người chú ý đến vì cái cửa ngõ ngôn từ đôi khi dùng để nhận vào nhiều hơn là để phát ra. Trong thế giới ngày nay chúng ta bị tràn ngập bởi các phương tiện truyền thông, nào là phim ảnh, ca nhạc, báo chí, tuyên ngôn, biểu ngữ, quảng cáo... Cái cửa ngõ ngôn từ vì thế đã trở thành gần như một chiều vì khối lượng nhận vào quá lớn làm cho nó thường xuyên bị tắc nghẽn, không còn kẻ hở để thoát ra.


Ngày nay không mấy khi ta có dịp sử dụng cửa ngõ ngôn từ trong việc tu tập.
Cách đây hơn hai ngàn năm khi xã hội còn đơn sơ và tinh khiết hơn ngày nay, thì con người không bị những phương tiện truyền thông bủa vây và tấn công dồn dập.

Dầu cho vua A-Dục có cho khắc các chỉ dụ lên các trụ đá thì cũng chẳng có mấy người biết đọc. Vào các thời kỳ khi Đức Phật còn tại thế và sau đó khi Ngài đã tịch diệt, thì hầu hết con người chỉ có dịp nói với nhau trong gia đình, trên ruộng đồng, nơi quán chợ.
Họ học thuộc những lời Phật dạy và kể lại cho nhau nghe với tất cả sự thành kính. Nhờ đó mà ngày nay chúng ta mới được thừa hưởng những gì tinh anh trong những lời giáo huấn của Phật và những gì ấm áp trong lòng người thời bấy giờ. Vì thế chánh ngữ không hẳn chỉ là một thứ luân lý đại chúng mà còn tượng trưng cho một sức mạnh trong việc tu tập nữa.

********************************
Vào thời bấy giờ, kỹ thuật còn thô sơ, ngoài cái cày, cái cuốc, cái xe bò..., người dân chưa có phương tiện gì để ghi lại hình ảnh và lời nói. Trong thời đại tân tiến và chỉ trong vài chục năm về sau này, đủ mọi phương tiện thu âm và thu hình được phát minh, nào là băng đĩa, máy thu âm nhỏ xíu, máy thu hình vidéo, máy điện thoại di động...

Một số người hướng dẫn dư luận đã lợi dụng các tiến bộ kỹ thuật đó để quảng bá những lời không được chánh ngữ lắm trong mục đích lường gạt, che đậy, hoặc tệ hại hơn như khích động con người để phục vụ cho ý đồ của cá nhân hay của một tập thể nào đó.

Bất cứ trong một quốc gia nào cũng thế, phương tiện truyền thông đã trở thành một công cụ thật tinh vi để quản lý và áp đặt con người.


Trong trường hợp đó chánh ngữ đã vượt ra khỏi lãnh vực cá nhân để mang tánh cách tập thể và xã hội. Những người hướng dẫn dư luận có thể quên một điều là những gì vua A-Dục khắc trên trụ đá đã vượt hơn hai ngàn năm lịch sử và còn lưu lại đến ngày nay. Những gì thu âm, thu hình hôm nay rồi sẽ dành cho những thế hệ mai sau thẩm định.


Dầu sao đi nữa thì chúng ta cũng phải công bằng mà phán xét, không nên chỉ biết kết án những gì tệ hại trong thế giới ngày nay. Vào thế kỷ thứ VI trước Tây lịch, trong thung lũng sông Hằng cũng đã xảy ra những sự tranh cãi siêu hình, những tranh luận biện chứng giữa các vị thầy Bà-la-môn và kể cả các vị thủ lãnh chủ trương các hệ thống tư tưởng và tín ngưỡng khác nhau.

Họ « gây ra cho nhau thương tích bằng cách đem đầu lưỡi làm khí giới ». Đức Phật gián tiếp ám chỉ đến các cuộc khẩu chiến ấy bằng cách cấm các đệ tử của Ngài không được tham gia vào đó. Nhiều kinh sách kể chuyện Ngài lưu ý các đệ tử phải thận trọng trong từng lời nói, không được biểu lộ tham vọng hay hận thù và Ngài đã nêu lên một cách minh bạch bốn thái độ phải tuân thủ như sau :

1- nói lên sự thật
2- nói những lời hòa giải, không nói hai lưỡi
3- nói những lời mang ngụ ý tốt, khả ái, không gây ra lời đồn đại, không chỉ trích lời người khác và việc làm của người khác
4- nói những lời có ý nghĩa, không nói những lời phù phiếm và vô bổ


Tóm lại chánh ngữ là để hướng vào người khác, phục vụ người khác, đồng thời là một cách loại bỏ mọi bám víu, kiêu căng và tự hào, có nghĩa là loại bỏ sự thống trị của cái tôi. Sau đây là những lời dặn dò của Đức Phật cho các các đệ tử của Ngài :

«Người tu hành chỉ nói những lời hoà giải để giảng hòa những người hiềm khích lẫn nhau và kết chặt thêm sự hòa đồng.
Người tu hành yêu chuộng sự hài hòa, tìm thấy vui thích trong sự hài hòa, niềm hân hoan trong sự hài hòa. Từ bỏ những lời thô bạo,
người tu hành không nói lên những lời thô bạo. Người tu hành chỉ thốt ra những lời nói không sao chê trách được, êm ái, trìu mến, đi thẳng vào trái tim, nhã nhặn và tử tế đối với thật nhiều người, làm cho thật nhiều người ưa thích.

Từ bỏ những lời nói phù phiếm, người tu hành không nói những lời phù phiếm, chỉ thốt lên những lời nói đúng lúc, trung thực, có ý nghĩa, phù hợp với Đạo pháp và giới luật, xứng đáng để lưu lại, hợp lẽ, thích nghi với mục đích tối hậu và bổ ích ».


Lời kết :

Một vị thầy đứng ra giảng chánh ngữ cho các Phật tử đến chùa, và sau khi giảng xong thì cảm thấy mình đã làm được một việc pháp thí, mang lại một chút nghiệp tốt nào đó cho mình.

Người Phật tử nghe xong cũng cảm thấy mãn nguyện vì đã bỏ thì giờ đến chùa để nghe giảng và nghĩ rằng đã làm được một chút công đức gì đó để cải thiện cái nghiệp của chính mình.

Tuy nhiên nếu khi người Phật tử rời khỏi cổng chùa mà đâu lại vào đấy, người ấy lại tiếp tục đem những ngôn từ công thức và quy ước ra để dùng. Hoặc khi bá tánh ra về, chú tiểu khép lại cổng chùa và vị Thầy lại quay về với những bận tâm khác, thì mỗi người lại vẫn sẽ tiếp tục nuôi dưỡng lấy nghiệp của mình.

Chánh ngữ không phải chỉ là một chủ đề để đem ra giảng cho nhau nghe rồi sau đó thì việc ai nấy lo, chánh ngữ cũng không phải đơn giản là những quy tắc đạo đức, giữ được thì càng tốt mà không giữ được cũng không sao.


Người tu tập phải ý thức được chánh ngữ là một trong những phương pháp tu tập chính yếu và kiên trì để mang lại cho mình một sức mạnh nội tâm hướng về Giác ngộ.


Không nên hiểu chánh ngữ một cách đơn giản là : tôi không được nói dối, tôi không được nói hai lưỡi, tôi không được nói lời độc ác, tôi không được nói những lời phù phiếm. Hiểu từ chương như thế thì cái tôi vẫn còn sờ sờ trước mắt, biết đến khi nào mới giác ngộ.


Sau hết xin kể một câu chuyện rất phổ biến trong kinh sách như sau. Một hôm Đức Phật đi đến một nơi có tiếng là nguy hiểm vì nơi này có một tên sát nhân là Angulimala vô cùng hung dữ và lại đang tìm giết người thứ một ngàn. Chủ nhân một quán trọ thiết tha xin Đức Phật hãy dừng chân lại và đừng đi đâu cả.

Đức Phật không nghe và vẫn lẳng lặng lên đường. Thị trấn vắng tanh, nhà nhà đóng cửa.
Angulimala thấy một nhà sư đang đi một mình trong một con phố vắng, hắn rút thanh kiếm và đi theo. Đức Phật thấy có kẻ lạ đến gần và biết ngay đấy là tên sát nhân mà mọi ngươi sợ hãi, tuy nhiên Ngài vẫn thản nhiên bước một cách thanh thản.

Angulimala rất ngạc nhiên trước thái độ bình thản đó, hắn đưa cao thanh kiếm đứng chắn trước mặt Đức Phật và hét lên ra lịnh cho Đức Phật phải dừng lại. Đấng Như Lai không tỏ vẻ sợ hãi một chút nào và cất lời nói với Angulimala một cách thật dịu dàng :

« Này Angulimala, con có biết không, ta đã dừng lại từ lâu lắm rồi. Chính con vẫn còn đang múa may trong lửa đỏ của hận thù, của giận dữ và dục vọng điên cuồng ».

Angulimala hết sức bất ngờ trước câu nói đó liền ngước nhìn để dò xét gương mặt của Phật. Trước vẻ mặt tràn đầy lòng từ bi và nhân ái của Đức Phật, Angulamala bỗng cảm thấy trơ trụi và cô đơn, và bất thần hắn nhận thấy mình đang bước trên con đường của khổ đau và bất hạnh.

Hắn bèn ném bỏ thanh kiếm và quỳ xuống dưới chân của Đấng Giác Ngộ và xin nguyện sẽ từ bỏ cuộc sống hung ác. (theo kinh Angulimala-sutta, thuộc Trung Bộ Kinh).
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Bát Chánh Đạo: 3.Chánh ngữ.

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 3 20 Tháng 1, 2015 1:05 pm

Thực tập Chánh Ngữ

Chúng ta đã học về phương pháp nghe, và đã biết rằng nghe là một phương tiện có thể tạo hạnh phúc cho mình và cho người. Nghe có thể đem lại sự chuyển hóa, thiết lập lại được sự truyền thông, và chế tác lại được sự thương yêu.


Chúng ta cũng đã bắt đầu nói về phép thực tập gọi là nói. Tại vì chúng ta biết rằng nói năng có thể đem lại hạnh phúc cho chính bản thân chúng ta và cho những người chung quanh.

Chúng ta phải học hỏi và thực tập như thế nào để có thể sử dụng được công cụ đó để làm hạnh phúc. Vì mục đích của người tu là tạo hạnh phúc, và trung tâm tu học là viện bào chế hạnh phúc. Nếu chúng ta quả tình muốn học phương pháp làm hạnh phúc, thì chúng ta phải nắm cho vững pháp môn nói.

***
**
*
Chúng ta đã biết rằng dù có thuyết pháp, có giảng về kinh Kim Cương hay kinh Pháp Hoa, thì những lời ta nói có thể không phải là chánh ngữ, mà có thể là tà ngữ. Nếu chúng ta nói không đúng lúc, không đúng chỗ, thì có thể gây nên hiểu lầm.

Ví dụ khi đọc Tâm kinh Bát Nhã, chúng ta nghe Bồ tát Quán Thế Âm nói rằng Không có mũi, không có mắt, và không có lưỡi; không có Tứ đế, và không có Bát chánh đạo.
Đó là
những câu nói vô cùng nguy hiểm, và đức Bồ tát chỉ nói cho những người có khả năng tiếp nhận.
Vì vậy nếu chúng ta đem Bát Nhã Tâm Kinh đọc lên và nói cho những người không có khả năng nghe và hiểu, là chúng ta đang không thực tập chánh ngữ. Trái lại chúng ta đang thực tập tà ngữ. Không phải khi nói pháp là luôn luôn mình đang thực tập chánh ngữ.

***
**

Đức Thế Tôn đã thường thực tập chánh ngữ, và có lúc ngài đã im lặng khi có người hỏi những câu có vẻ lý thuyết, vì ngài biết trong trường hợp đó, nếu trả lời thì người hỏi cũng không thâu lượm được gì.
Ví như một hôm có một nhà triết học đến hỏi đức Thế Tôn về hữu và về vô, đức Thế Tôn chỉ ngồi yên lặng, không trả lời.
Một lần khác, một nhà triết học khác hỏi ngài rằng có ngã hay không, đức Thế Tôn cũng chỉ im lặng. Một lát sau ông ta lại hỏi: Vậy có nghĩa là không có ngã phải không bạch đức Thế Tôn? Ngài cũng im tiếng.
Tại vì đức Thế Tôn biết rằng ngôn ngữ trong trường hợp này sẽ không giúp được gì cho nhà triết học kia, cho nên ngài im lặng, và cái im lặng của ngài là im lặng sấm sét.


Nhưng học trò của đức Thế Tôn có thể không làm được như ngài. Học trò của đức Thế Tôn thì nghĩ rằng, Thế Tôn đã nói rõ ràng rằng không có ngã, thì tại sao mình lại im lặng? Mình phải trả lời là không có ngã! Cũng vì chưa hiểu, cho nên khi nhà triết học ra về, thầy A Nan mới thưa:

Bạch đức Thế Tôn, tại sao Thế Tôn không trả lời ông đó? Đức Thế Tôn thường dạy chúng con là không có ngã, tại sao hôm nay đức Thế Tôn không nói điều đó?


Chúng ta thấy lúc còn trẻ, thầy A Nan có lúc cũng chưa nắm vững được giáo pháp. Chúng ta cũng vậy. Chúng ta cũng còn trẻ như thầy A Nan. Nhưng thầy A Nan đã lớn lên, đã già dặn, thì chúng ta cũng sẽ lớn lên, sẽ già dặn, và chúng ta cũng phải biết thực tập im lặng để cho chánh pháp được biểu lộ.
Nói năng đúng với chánh pháp và im lặng đúng với chánh pháp, đó là nguyên tắc của chúng ta. Khi nói thì chúng ta nói đúng với chánh pháp, nhưng khi im lặng, chúng ta cũng phải im lặng đúng với chánh pháp. Nghĩa là cái im lặng của chúng ta có thể là một bài thuyết pháp. Học im lặng là học chánh ngữ.

***
**
*


CHẾ TÁC HẠNH PHÚC BẰNG CÁCH VIẾT THƯ

Viết thư cũng thuộc về chánh ngữ. Chúng ta có thể làm hạnh phúc bằng cách viết thư. Chúng ta không cần phải viết những bức thư tràng giang đại hải. Đôi khi bức thư chỉ hai ba câu thôi cũng đủ làm hạnh phúc cho người đọc. Nhiều khi hoàn cảnh không thuận lợi, ta nói với người đó chưa được, ta có cảm tưởng là viết một lá thư thì người đó sẽ có không gian, có thời gian để đọc kỹ hơn. Vì vậy, thay vì nói trực tiếp với người đó, ta có thể viết xuống trên lá thư những câu nói đó.

Viết thư cũng là một pháp thực tập và trong khi viết thư, ta có thể cân nhắc được từng chữ. Nhiều khi tôi dạy học trò của tôi không bằng những câu nói trực tiếp, mà bằng một lá thư. Lá thư ba câu, hai câu hay bốn câu. Tại vì trong trường hợp đó tôi nghĩ rằng học trò của tôi sẽ tiếp nhận và quán chiếu một cách sâu sắc hơn. Khi đọc qua điều đó một lần rồi, thì người học trò có thể đem ra để đọc thêm một lần thứ hai nữa.

Viết thư cũng là công phu. Chúng ta có cây bút, chúng ta có tờ giấy, chúng ta biết chữ, tại sao chúng ta không sử dụng phương pháp đó để tạo hạnh phúc. Tại sao ta không nói rằng mỗi ngày ta có thể viết được một lá thư. Thư đó có thể không cần tem, vì người kia sống rất gần ta. Thư đó không cần dài, chỉ cần vài ba câu, tại vì chánh ngữ được làm bằng chánh kiến, và chánh tư duy. Trong khi chúng ta viết hai câu trong lá thư đó, thì chánh kiến và chánh tư duy đang hoạt động. Chúng ta phải đem hết 100% thân tâm của chúng ta để ngồi đó, lấy hết vốn liếng chánh kiến và chánh tư duy gom lại để viết vài câu. Chúng ta biết rằng khi đọc hai hay ba câu này thì người kia sẽ chuyển hóa, người kia sẽ có hạnh phúc.
***
**
*
[color=#000000]CÁC YẾU TỐ CỦA LỜI NÓI
[/color]
Một lời nói có ba yếu tố. Đầu tiên là thể.

Thể của lời nói là nội dung, là bản chất của ngôn ngữ đó. Bản chất đó làm bằng sự ganh ghét, hay bằng tình thương vướng mắc là còn tùy.

Ví dụ về tướng nói: ta nói rằng I love you. Thì đây là cái tướng của ngôn ngữ mà thôi. Chúng ta không thể căn cứ trên cái tướng của ngôn ngữ để đoán định được cái bản chất của ngôn ngữ. Tại vì chữ "Tôi yêu anh" có thể làm bằng chất liệu của bạo động.
Ví dụ một tên hải tặc tóm được một cô gái, nó muốn ngủ với cô gái đó, và nó dùng ba chữ này. Nhưng chúng ta biết bản chất của ba chữ đó từ tên hải tặc là bạo động, là thèm khát. Khi người thiếu nữ kia nghe ba chữ đó thì run rẩy, hãi hùng!


Ba chữ đó đáng lý phải làm cho trái tim mình êm dịu, rung động, có hạnh phúc. Nhưng có khi nghe ba tiếng đó, chúng ta có thể run sợ. Vậy thì khi mình nói "Tôi thương anh", hay "tôi thương chị", hay "tôi thương em", thì ba tiếng đó chỉ là cái tướng mà thôi.


Phải nhìn sâu để thấy bản chất của nó. Đó có phải là sự thèm khát không, đó có phải là sự vướng mắc hay không. Hay đó là tâm từ bi, là thương xót phát hiện thành lời nói.

Nếu có chánh niệm, chúng ta có thể thấy được cái tánh của một lời nói. Nhờ có chánh kiến (True insight), và chánh tư duy (True thinking, Right thinking) mà mình có thể tìm ra được, khám phá ra được bản chất của lời nói đó, nó phát xuất từ thương yêu hay từ sự giận hờn.


Khi thầy nói một câu, dạy một câu, mình có thể tưởng câu đó là câu thầy la rầy, trách móc mình.

Nhưng cũng có thể lời đó phát xuất từ trí tuệ, và tình thương của thầy. Không hẳn phải dịu dàng thì nó mới là thương yêu. Nhiều khi rất mạnh, rất cứng, làm cho mình khóc, nhưng đó vẫn là lời nói của thương yêu, của từ bi. Cho nên là học trò, mình phải cẩn thận. Lời của thầy nói, mình có thể hiểu đó là một sự giận dữ, một sự trách móc, hay một sự coi thường mình.

Nhưng với chánh kiến và chánh tư duy, mình có thể khám phá ra rằng nếu không thương thì thầy đã không nói câu đó.
**********

Yếu tố thứ hai của lời nói là tướng. Tướng là hình thức của ngôn ngữ. Nhiều khi chúng ta có tình thương, có từ bi, nhưng ta vụng về khi nói. Ta không có nghệ thuật diễn tả, vì vậy tình thương đó không được tiếp nhận một cách dễ dàng. Biết bao nhiêu người cha, người mẹ thương con, nhưng không diễn tả được tình thương đó, và người con cứ nghĩ rằng cha mình ghét mình, mẹ mình bỏ mình. Rất tội nghiệp cho họ.

Vì vậy tu tập chánh ngữ, ta phải học nghệ thuật diễn tả, ta phải biết nói, ta phải biết viết. Cho nên trong làng có người nào viết văn hay, hoặc nói hay thì cũng nên mở những lớp để các em mình học mà có thể diễn tả bằng ngòi bút, bằng lời nói. Đó cũng là công phu tu tập. Mình có chất liệu của từ bi, của sự xót thương, nhưng mình phải có hình thức của ngôn ngữ, để nó có khả năng chuyên chở được các chất liệu thương yêu đó.

**************************

Yếu tố thứ ba của lời nói là dụng. Sau khi biết rằng ngôn ngữ của mình có bản chất tốt, tích cực, thành thật rồi, sau khi nghĩ rằng hình thái của câu nói, hay là câu văn của mình tạm khéo léo rồi, thì cũng chưa đủ. Mình phải coi hiệu năng của nó. Tại vì trong quá khứ mình đã có kinh nghiệm. Nhiều khi câu nói đó, đối với người đó thì có hiệu quả rất tốt.

Nhưng đem áp dụng cho người kia thì thất bại! Vì vậy cho nên không phải hễ ta có tâm đó, và nói câu đó là thành công đâu. Có người nghe nói rằng "không có lỗ mũi" thì hiểu được và rất sung sướng! Còn có người khi nghe câu "Anh không có lỗ mũi" thì người đó có thể nổi tam bành lên, rồi nghỉ chơi với mình luôn! Mình không thể trao truyền giáo pháp cho người đó bằng cách này.


***
**
*

CÁCH HỌC KINH ĐIỂN
Đức Thế Tôn, và các vị Bồ tát lớn, có rất nhiều kinh nghiệm về điều này. Một điều ít người nói tới, mà tôi xin quý vị đặc biệt để ý, là khi học kinh, thì phải biết nghe lời đức Thế Tôn với sự thông minh của mình.

Phải biết rằng đức Thế Tôn đang nói cho ai nghe, và cách đức Thế Tôn nói. Người nghe và cách nói là hai điều rất quan trọng. Tại vì khi người nghe là A thì mình phải nói theo cách A, thì người nghe mới tiếp nhận được.

Ví dụ khi mình viết truyện Quan Âm Thị Kính. Nếu viết truyện đó cho thiếu nhi, mình phải viết một cách khác. Nếu viết cho người lớn thì mình phải viết một cách khác. Chứ không thể nào đem chuyện của người lớn mà cho các em bé đọc được.

Khi quý vị giảng giải về Tứ Diệu Đế cho các em bé, thì quý vị phải dùng thứ ngôn ngữ, dùng phương pháp nói, thế nào cho các bé có thể hiểu được, chứ không thể dùng phương pháp mà quý vị đã sử dụng cho người lớn. Cũng như thuốc Aspérine.

Đối với con nít mà quý vị cho Aspérine của người lớn thì không được, cho nên mình phải có Aspérine bọc đường cho con nít.


Vì vậy khi đọc một kinh, chúng ta phải biết rằng Bụt đang nói cho ai nghe, thì chúng ta mới hy vọng hiểu được lời Bụt nói. K

inh đó Bụt đã không nói cho tất cả mọi người, trong tất cả mọi hoàn cảnh. Vì vậy bắt đầu mỗi kinh ta thường thấy câu giới thiệu: Hồi đó Bụt ở đâu, có mặt trong buổi pháp thoại là những ai, và ai đã hỏi câu gì v.v... Rất là khoa học.

Tất cả những chi tiết đó ở trong kinh chứng tỏ rằng người truyền tụng lại kinh là những người có óc khoa học. Chúng ta may mắn học được điều đó, cho nên trong các buổi pháp thoại, tôi luôn luôn nói về ngày tháng, nơi chốn nói pháp thoại, và trong khóa tu nào. Đáng lý ra, tôi phải kể tên các vị có mặt trong hội chúng, nhưng như vậy thì nhiều giờ quá, cho nên tôi chỉ nói về tên khóa tu mà thôi.


[color=#0000ff]Về cách nói, nhiều khi nội dung của lời nói không quan trọng bằng cách nói. Chúng ta phải học cách nói của Bụt. Đối với người đó thì Bụt nói cách đó, nhưng đối với người kia thì Bụt nói cách khác. Đối với người này thì Bụt dùng ngôn ngữ, đối với người kia thì Bụt im lặng.

[/color]
Chúng ta thấy rất rõ là có nhiều học giả họ rất thông hiểu kinh Vệ Đà, họ có đầy chữ nghĩa, đầy giáo điển Vệ Đà. Nhưng khi họ đến với Bụt, thì Bụt lại nói kinh Vệ Đà với họ. Khi Bụt gặp mấy anh em của thầy Ca Diếp, tức là những người thờ Thần Lửa, thì Bụt nói về lửa, và về nước. Lửa đi lên, nước đi xuống.


Sau khi Bụt thu nhận gần một ngàn vị đệ tử xuất gia ở vùng miền Nam sông Hằng, gần Bồ Đề đạo tràng, thì Bụt đã nói một bài pháp rất nổi tiếng tại Núi Tượng Đầu. Họ là học trò của ba anh em Ca Diếp. Bụt độ được ba anh em ông Ca Diếp cho nên tất cả đệ tử của họ đều theo Bụt để làm khất sĩ. Tự nhiên sinh ra một ngàn người con, bằng 10 lần bà Âu Cơ! Quý vị biết đó, một trăm đệ tử mà mình đã mệt ứ hơi, còn đức Thế Tôn đột nhiên có một ngàn đệ tử! Mà lúc đó chưa có thầy Xá Lợi Phất, cũng chưa có thầy Mục Kiền Liên.

Bụt không có ai phụ tá để chăm sóc một ngàn đứa con mới, cho nên tôi thấy rất tội cho đức Thế Tôn.



Hôm đó ngài dẫn hết cả tăng đoàn một ngàn người lên ngọn núi gần đó, gọi là núi Tượng Đầu, rồi ngài nói một bài pháp thoạiù rất nổi tiếng, đó là Kinh Lửa. Bụt nói tất cả đang bốc cháy! Mắt đang bốc cháy, tai đang bốc cháy. Tại sao Bụt nói về Kinh Lửa? Tại vì tất cả đệ tử mới của ngài, trước đó đã theo đạo thờ Thần Lửa.


Nhưng nếu Bụt tới Paris năm 1996, thì Bụt đâu có nói về kinh Lửa! Có lẽ ngài sẽ nói về kinh Đình Công, kinh Xe Điện Hầm, hay là kinh Bom Nổ mà thôi. Tại sao vậy? Tại vì nói tức là nói cho ai nghe. Tùy theo căn cơ của những người đó mà Bụt chọn đề tài, và chọn phương pháp nói.


Khi đặt được lời của Bụt vào trong hoàn cảnh lúc Bụt nói, thì mình mới bắt đầu hiểu được Bụt. Hiểu được rằng câu tuyên bố đó của Bụt là không phải cho mọi người! Chỉ cho người đó thôi. Vì vậy nếu mình không hiểu được tâm của người đó thì mình không hiểu được lời nói của Bụt.


Ví dụ Bụt dạy La Hầu La thì mình phải biết rằng Bụt đang dạy La Hầu La. Chúng ta thấy có nhiều khi Bụt rầy La Hầu La khá mạnh, nhưng nếu là một người khác, chắc Bụt không rầy mạnh như vậy. Sở dĩ Bụt rầy mạnh như vậy là vì La Hầu La có một liên hệ huyết thống với ngài. Và mình bắt đầu hiểu! Cho nên lời kinh mình chỉ có thể hiểu được khi mình biết Bụt đang nói với ai, tâm tư của họ như thế nào, hoàn cảnh khổ đau của họ như thế nào, và Bụt đã dùng phương tiện khéo léo nào để khai thị cho họ, thì lúc đó mình mới bắt đầu tiếp nhận được lời của Bụt nói vào trong tâm của chính mình.


Cũng như thiền sư Triều Châu nói với vị đệ tử: "Hãy nhìn cây tùng trước sân, đừng hỏi lôi thôi", thì câu nói đó thiền sư chỉ nói với vị đệ tử kia thôi. Vậy mà tại sao có người ở cách đó cả mấy ngàn cây số, cũng cho câu đó là của mình! Vì vậy khi ông tới chùa, thì vị cao đệ của thiền sư Triều Châu mới từ bi nói cho ông biết rằng cây tùng đó không phải để cho ông, không có cây tùng!

Đó là một ví dụ về việc "không biết hoàn cảnh trong đó người nói và người nghe như thế nào, thì mình không thể hiểu được câu nói đó". Đây là một phương pháp học kinh rất hay, rất thông minh và rất khoa học.

Nếu đọc kinh mà quý vị theo phương pháp này thì quý vị sẽ có những khám phá rất mới lạ. Đừng bao giờ tiếp nhận một câu kinh, xem như là Bụt nói với tất cả mọi người. Một câu kinh, thường thì Bụt chỉ nói với một người nào đó, hoặc với một nhóm người nào đó thôi. Chỉ khi nào mình biết được hoàn cảnh và phương pháp của Bụt rồi, lúc đó mình mới hiểu được câu nói đó. (Làng Mai. Thiền sư Thich Nhất Hạnh)
(p.s. bài này chỉ là trích dẫn phần nội dung về cách tu tập Chánh ngữ. Quí vị có thể tìm đọc hết nội dung, click và trang web. Làng Mai)

Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Bát Chánh Đạo: 3.Chánh ngữ.

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 3 20 Tháng 1, 2015 1:44 pm

15. Chánh Ngữ Và Tà Ngữ, Ái Ngữ Và Ác Ngữ - Thơm Tho Từng Lời Nói


Chánh ngữ là lời nói chân chánh, không tạo nghiệp bất thiện trong lời nói.

Bài kệ Súc Miệng có đoạn, Súc miệng tâm sáng bừng – Thơm tho từng lời nói – Gói ghém từng câu chữ – Chánh ngữ hiện trên môi.

Suy nghĩ đúng đắn và suy nghĩ đích thực giúp lời nói đẹp và nói đẹp cũng là hạnh. Súc miệng hay đánh răng là một bài thực tập chánh niệm, theo đó súc miệng chỉ để súc miệng hay đánh răng chỉ để đánh răng.
Miệng và hàm răng là nơi biểu lộ những lời nói và nói như thế nào mà bản thân có thể có hạnh phúc, có an lạc, không bị mệt mỏi và hối tiếc.

Chánh ngữ là nói lời sự thật, sự thật không đơn thuần là có sao nói vậy mà sự thật còn bao hàm chánh pháp trong đó như căn cứ vào nhân quả, không sinh không diệt hay tính không của sự vật để nói.

Dù đối tượng lắng nghe là ai, lời nói trên chánh pháp không làm người chạy theo đối tượng. Chẳng hạn, để lấy lòng người, mình có thể rơi vào tính ba phải, nói hai lưỡi hay a dua theo hoàn cảnh.


Sử dụng chánh pháp làm kim chỉ nam soi đường, như là vị minh sư của mình để không nhất thiết phải thuận theo hoàn cảnh vì tâm làm chủ hoàn cảnh, không để hoàn cảnh làm chủ tâm. Một số đứa bé sinh ra thiếu may mắn nên không nói được hay không nghe được. Hạnh phúc lớn nhất của chúng là nói những lời yêu thương và nghe những lời yêu thương.
***
**
*
Chánh ngữ đề cập đến lời nói đẹp, không kỳ thị, không gây đau khổ, không tạo sự hiểu lầm hay không tạo chiến tranh. Điều này dễ hiểu, bất cứ ai cũng muốn lắng nghe lời nói tươi mát, tạo nên sự bình đẳng, phát khởi hạnh phúc, thấu hiểu lẫn nhau và xây dựng hòa bình.

Người có từ tâm luôn nói lời chánh ngữ, lời nói của trang nghiêm và thánh thiện, khi cất lên ai cũng muốn nghe và chờ đón sự tươi mát phát ra thành âm thanh.

Lợi ích lớn nhất của chúng sinh là được thọ hưởng những lời nói đẹp, những âm thanh vi diệu của chánh pháp nên quyết tâm không đánh mất thì giờ vào việc ăn nói phù phiếm, vô ích hay lời nói chia rẽ gây nên tình trạng lụi tàn trong sinh tử.


Miệng không chỉ để ăn mà còn chế tác món ăn và chánh ngữ là một tên gọi của thức ăn do miệng làm ra.
Ở nhà hàng Việt Chay có một món ăn tên là Chánh Ngữ và khi ăn mình nguyện thực tập hạnh nói đẹp như tên món ăn để chánh ngữ mãi hiện trên môi.
Có những thói quen trong lời nói cần được thực tập để chuyển hóa nhằm đem con người lại với nhau.

Bấy lâu mình quen lên tiếng chỉ trích, phản bác, buộc tội nên người nghe khổ rất nhiều và mình cũng đâu có vui gì.


Tại sao mình không thay đổi cách nói chuyện để biết hiểu, biết nghe và biết thương hơn. Bài kệ Nghe Điện Thoại có đoạn, Âm thanh xa ngàn dặm – Xây dựng niềm tin yêu – Mỗi lời là châu ngọc – Mỗi lời là gấm thêu. Châu ngọc phải dùi mài mới sáng trong, lời nói cũng cần phải dùi mài như vậy. Gấm phải cần người công phu dệt nên tà áo, lời nói cũng cần phải công phu như vậy. Nghe người ca sĩ hát một bài ca, ắt hẳn người phải trao dồi âm thanh và gọt dũa ca từ rất lâu mới cất lên âm thanh du dương như thế. Nói về sự dịu êm thì không có gì êm dịu bằng lời của mẹ. Khi lời mẹ cất lên, con chỉ muốn lắng nghe và buông xuôi mọi thứ chỉ để tập trung vào nghe thôi.

***
**
*
Tà ngữ là không sử dụng sự thật để thuyết lên điều thiện. Khi nói điều thiện, mình đang diễn thuyết tình thương và khi nói sự thật, mình đang đích thực nói pháp. Đức Phật nói pháp, vị tu sĩ nói pháp, mình cũng có thể nói pháp được nếu biết nói lời sự thật.

Chiếc lá là bài pháp thoại về đất, nước, lửa và gió. Bông hoa là bài pháp thoại về không sinh không diệt. Vạn vật đang thuyết pháp, nếu biết lắng nghe, mình sẽ nghe được lời chánh ngữ. Nếu lời nói rõ ràng như sự thật của chiếc lá và đẹp đẽ như bông hoa, người đang thuyết pháp.

Tà ngữ là một thất bại và chánh ngữ là một thành công. Mình nói lời hay, mang lại sự tin yêu cho người nghe, chứng tỏ mình đã có sự tu tập. Khi nói được lời đẹp, hãy đi vào vùng khó nói nhất để kiểm chứng lời nói của mình.

Nhìn lại em bé khuyết tật không nói được ở trên, cái em thèm nhất là nói lời yêu thương; hoặc nghe một cụ già bệnh tật trên giường muốn trò chuyện với con cháu nhưng khó khăn lắm mới bật lên thành tiếng.

Mình còn trẻ và khỏe, mình không bị khuyết tật, tại sao nói một lời sự thật lại khó khăn như vậy?

Ai nói lên lời gì mà không làm khổ mình, không làm hại người là đang thuyết pháp. Ai nói lên lời gì mà làm khổ mình, làm hại đến người là đang hủy hoại giáo pháp.

Hoàn cảnh có thể đưa đẩy người đi vào vùng tà ngữ, đánh mất sự kiềm chế như cơn giận lên cao, tâm tham đang ngự trị hay cái si đang lấp đầy, mình nên đi ra khỏi vùng tà ngữ đó bằng cách thực tập im lặng, quán chiếu hậu quả nếu tà ngữ văng ra.
***
**
*
Nói cách khác, tà ngữ là kết quả của người bị cái tôi, bản ngã, các tâm bất thiện chinh phục.

Thực tập thiền im lặng hay thiền lạy để buông bỏ những cái tôi hay buông bỏ những ô nhiễm còn ngủ ngầm trong tâm.

Khi lạy, không phải tính từ bi hay hạnh tĩnh lặng của đức Phật chinh phục mình mà là tính tham, tính si, tính ngã mạn đã bị tính khiêm cung của mình chinh phục.


Im lặng để cho tôi thấy khổ đau hay hạnh phúc là một. Khổ đau phát khởi thì nhìn lại mình đã nói gì, làm gì, nghĩ gì để khổ đau xuất hiện.
Hạnh phúc phát khởi thì nhìn lại mình đã nói gì, làm gì, nghĩ gì để hạnh phúc xuất hiện. Có bao giờ tà ngữ đem lại hạnh phúc không hay chỉ toàn khổ đau.
Có bao giờ chánh ngữ đem lại khổ đau hay chỉ toàn hạnh phúc. Thực tập chánh ngữ thì khổ đau sẽ run rẩy, quỳ mọp dưới bức tường thành vững chắc của hạnh phúc.

Do lụy vào hoàn cảnh, mình sẽ dính vào cái được cho là cảnh hạnh phúc hay cảnh khổ đau, đây gọi là sự nghiệt ngã hay bất hạnh của tâm. Tâm đang bị đói lả bởi những thèm khát hạnh phúc hay xa lánh khổ đau. Mong mỏi xa lánh khổ đau cũng là một thứ thèm khát.


Im lặng là chánh ngữ. Im lặng không chỉ có nghĩa không nói lời nào mà là im lặng trong tâm. Tâm im lặng thì mọi nhu cầu không còn nữa. Bất cứ tiêu chuẩn nào đặt ra đều không đả động gì được đến sự im lặng.

Tâm im lặng là tâm dừng lại, không đòi hỏi sự thọ hưởng nào nữa. Thông thường mình tập nói lời chánh ngữ, tức là phải nói ra, phải có âm thanh, nhưng cháng ngữ trong tâm là sự im lặng, lời nói không âm thanh. Tâm thường thích thọ hưởng nên luôn muốn duy trì vì duy trì là để thọ hưởng. Tâm buông bỏ những mong muốn thọ hưởng để không còn duy trì gì nữa. Mình thực sự đang im lặng trong trường hợp này.

Im lặng trong chánh ngữ còn nói đến việc không kẹt vào những quy ước hay ý niệm. Người đời quy ước có nhiều tiền là hạnh phúc, không được thương là khổ đau, cái này là cái bàn, ông kia là giám đốc hay khối cầu lửa nhô lên ở phía đông mỗi buổi sáng là mặt trời. Đây chỉ là tên gọi của những hợp chất được đặt ra để dễ phân biệt nên không kẹt vào ý niệm hay tên gọi thì mình im lặng.

***
**
*

Ái ngữ là một bài tập của chánh ngữ. Ái không phải là luyến ái hay ham thích mà là tươi đẹp và dễ chịu. Nói lời tươi đẹp như một bức tranh, từng lời nói là từng đường nét và tổng hợp bài nói chuyện, mình vẽ lên một bức tranh sống động.

Tiếng Anh gọi là lovable speech, ái ngữ, đem sự dễ thương, nhân ái, chân thật để biểu hiện thành âm thanh. Mình là hiện thân của sự dễ thương không thể chối cãi được và biết cách tỏ bày sự dễ thương đó.
Con người đến với nhau do có nhiều sợi dây ràng buộc từ kiếp xa xưa hay kiếp này. Sự ràng buộc sẽ dễ thương khi mình biết giao tiếp bằng lòng nhân ái, bao dung, chấp nhận. Sự giao tiếp có mặt thông qua nhiều hình thức và ái ngữ là hình thức chiếm nhiều thì giờ, nhiều phương tiện, nhanh nhất và hữu hiệu nhất.

Có câu, Lời nói gió bay. Thật ra không có bay đâu mà vẫn còn đọng lại, đầu tiên là đọng lại từ người nói, trong tâm người nói, sau đó mới đến người nghe và người nghe có đủ lắng nghe thì mới hiểu được những gì người nói.
Lời nói có thể tạo công đức là lời ái ngữ. Dùng từ ngữ đơn giản, dễ hiểu, không nhất thiết phải hoa mỹ hay quá cầu kỳ.

Ái ngữ là hương thơm của bông hoa chánh ngữ và là cách ứng xử đúng đắn để điều phục trước hết cho bản thân. Ái ngữ là lời nói của sự hiểu biết, hoa trái của công phu tu tập và hòa hợp trong sự thân thiện.


Lời nói của mẹ ngọt ngào và con chỉ muốn lắng nghe. Đứa cháu của tôi chỉ mới ba tuổi và tôi thấy bé cảm nhận tình thương trong lời nói của mẹ. Chị tôi đi chợ về, cất tiếng nói từ dưới nhà, bé ngồi trên lầu bỗng nhiên ngưng lại mọi hành động, tỏ vẻ nghe ngóng.

Bé không muốn chơi những trò chơi nữa mà chỉ muốn tận hưởng lời mẹ nói từ xa. Bé biết mẹ đã về.


Mấy tuần trước tôi không được khỏe, mẹ nhắn nhủ, Đến giờ uống thuốc rồi đó con. Lời nói gì mà nhẹ nhàng chứa biết bao yêu thương, chăm sóc. Tôi chưa kịp uống thuốc đã thấy khỏe rồi và cảm thấy bản thân có tội không biết gìn giữ sức khoẻ để mẹ phải lo lắng như thế.


Khi lời nói ái ngữ sung mãn, mình không bao giờ muốn làm ai buồn, buộc tội ai hay lên án ai. Thực tập nói lời ngọt ngào như mẹ thì đi đâu cũng thấy yêu thương.


Đôi khi phải nói lời ngọt ngào với chính mình vì bản thân bấy lâu đã phải hứng chịu biết bao tà ngữ. Khi suy nghĩ, mình đang nói chuyện với chính mình nên hãy dùng lời đẹp mà tâm sự với mình.


Muốn ban tặng sự thanh cao, bản thân hãy làm sự thanh cao đó. Chưa nói được ái ngữ với bản thân, làm sao mình nói với người khác.


Cho nên, khi suy nghĩ hãy suy nghĩ bằng lời ái ngữ, đừng để suy nghĩ bị lôi kéo vào tà dục, nếu không mình đang cố tình hưởng thụ trong suy nghĩ rồi thỏa thích trong đó.

Mình đang bị lôi kéo bởi những tâm bất thiện. Vừa rồi tôi có đọc bài báo về việc các ông chồng thích nói lớn tiếng với vợ nhưng nói câu xin lỗi sau thấy khó quá.

Nói lời không thiện rất dễ, thậm chí chửi thề mà thấy sướng cái miệng. Câu chửi thề là câu tục tủi, hôi thúi như đống phân. Tại sao lại đem đống phân đặt trên miệng của mình mà không chịu trồng những bông hoa tươi mát trên đó.

Một người bạn đang có hẹn với mình chờ hoài không thấy tới thì hãy suy nghĩ ái ngữ, cầu mong bạn được an toàn, có thể bạn đang bận việc nên chưa thể đến kịp hay bạn không khỏe mà lỡ hẹn với mình, cầu mong bạn có nhiều sức khỏe. Suy nghĩ về cuộc lỡ hẹn của bạn là ban tặng lời ái ngữ trong suy nghĩ, mình đã gần gũi bạn trong tâm tư rồi.


Ác ngữ là lời nói không đẹp, là biểu hiện của tâm tham, muốn giàng thắng lợi về phía mình. Lời nói gây chia rẽ, kích động hận thù, tạo chiến tranh là ác ngữ. Người biết thực tập không bị kẹt vào những lời ác ngữ vì biết rằng đó là nghiệp của mình.

Lời nói văng ra sẽ quay về phía người nên nói lời dễ thương, người sẽ nhận lời dễ thương, còn nói lời không dễ thương chắc chắn sẽ phải đón nhận những lời không dễ thương. Ăn nói như nước sôi tạc vào mặt người khác, ai ngờ lật ngược lại phía mình, người không phỏng mà mình bị phỏng, hết sức nguy hiểm.

Ác ngữ vừa văn ra thì chính người nói vừa nhận một viên đá ứ ở trong họng. Ăn nói đẹp là phải ăn nói có ý tứ, không chỉ ý tứ ở đi đứng ăn mặc. Ngày xưa ba mẹ dặn con gái lớn đi đứng, ăn nói phải có ý tứ, tôi nghĩ con trai cũng nên như thế, cũng phải tập đi đứng, ăn nói có ý tứ.


Ý tứ là lời nói phát ra từ suy nghĩ đẹp và những cái mình nói tùy thuộc vào cái mình suy nghĩ, bằng không mình bị chết đuối trong biển cả lời ác ngữ và nghĩ ác ngữ.

Ăn nói thế nào là quyền tự do của mình nhưng làm khổ hay làm hại người khác bằng lời nói không phải là quyền tự do.

Mình được giáo dục qua các thời đại để trao dồi nhân phẩm và đức hạnh, nên từ suy nghĩ thiện hãy phát ra lời nói thiện.

Hãy xem lại tâm tham và tâm sân, chúng dẫn tới lời ác ngữ rất mau. Chúng la hét để mình sợ hãi và lời nói bị ô nhiễm, trở thành tàn hại, hết sức nguy hiểm.


Ái ngữ là một hạnh bố thí, theo đó mình bố thí sự nhẹ nhàng, gần gũi, trìu mến, tha thứ và bao dung. Không cần tốn tiền gì, mình vẫn hành hạnh bố thí.

Đức Phật có khoảng 45 năm bố thí chánh ngữ, nói giảng pháp liên tục không mệt mỏi, đến khi cuối đời, Người vẫn hành bố thí. Nụ cười làm mình đẹp và chánh ngữ làm mình rạng rỡ. Chấm dứt những tối tăm của lời nói để mang lại ánh sáng cho gương mặt, đôi môi và tâm tư, mình nhé.
http://damlinhthat.net/nhung-trai-tim-dong-dang/15-chanh-ngu-va-ta-ngu-ai-ngu-va-ac-ngu-thom-tho-tung-loi-noi

Vẫy tay vẫy tay chào nhau
Lời nói yêu thương nhiệm mầu
Xây dựng tin yêu khắp chốn
Từ giã khốn khó ra đi.

Diệu kỳ thay vầng trăng mát
Gió thổi bát ngát vào tim
Làm tan biến những đắm chìm
Khổ đau triền miên chuyển hóa.

Trong bùn hoa sen một đóa
Hào quang chói lóa đêm đen
Từ bi ngọn đèn soi sáng
Trên cao giọt nắng vừa lên.
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Trang kế tiếp

Quay về Thiền Nguyên Thủy

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến1 khách

cron