Diễn đàn Tu viện Phật giáo Việt nam


Bát Chánh Đạo: 1.Chánh kiến.

Chuyên đề tham khảo Thiền Nam Tông

Các điều hành viên: Sen Hong, Bất Nhị

Bát Chánh Đạo: 1.Chánh kiến.

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Chủ nhật 09 Tháng 2, 2014 8:42 am

1/ Chánh kiến,

Còn gọi là chánh đế, tức thấy khổ là khổ, tập là tập, diệt là diệt, đạo là đạo, có nghiệp thiện ác, có nghiệp báo thiện ác, có đời này đời kia, có cha mẹ, có người chơn đến nơi thiện, bỏ thiện hướng thiện, nơi đời này, đời kia, tự giác tự chứng thành tựu.

"Khi nào vị Thánh đệ tử biết già chết, tập khởi của già chết, đoạn diệt của già chết và con đường đưa đến đoạn diệt già chết, này chư Hiền, khi ấy vị Thánh đệ tử có chánh kiến...”
(Kinh Chánh tri kiến,Trung bộ I, p. 49, HT. Minh Châu dịch) hay "Khi một vị Thánh đệ tử biết được bất thiện và biết được căn bản của bất thiện, biết được thiện và căn bản của thiện, này chư Hiền, khi ấy vị Thánh đệ tử có chánh kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này".(Kinh Chánh Tri Kiến, Trung Bộ I, tr. 47).


Đó chính là sự thành tựu của nhân quả thế gian và xuất thế gian qua như thật tri kiến một cách rõ ràng về sự hiện hữu và biến dịch của chúng theo duyên khởi mà hành giả có thể tư duy và nhận chân được tánh và tướng của tất cả mọi pháp trên thế gian này, đâu là pháp hữu lậu, đâu là pháp vô lậu. Đó gọi là chánh kiến.


Chánh kiến là chi đầu trong tám chi Bát chánh đạo thuộc vào phần tuệ học của ba vô lậu học nhằm trang bị cho một sự nhận thức đúng về lối nhìn duyên khởi đối với mọi sự vật, không rơi vào cái nhìn méo mó sai lệch giữa có và không, giữa thường và đọan của lối nhìn tà kiến, mà lúc nào cũng phải giữ một cái nhìn khách quan không thiên lệch bên này hay bên kia để vượt qua khỏi mọi vướng mắc hữu lậu đạt chánh kiến vô lậu giải thóat như trong.

Kinh Đại Tứ Thập, Trung bộ III. tr. 207 “Phàm cái gì thuộc tuệ căn, tuệ lực, trạch pháp giác chi, chánh kiến, đạo chi của một vị thành thục Thánh đạo A-la-hán, có vô lậu tâm, chánh kiến như vậy là chánh kiến vô lậu, siêu thế.”


Lối nhìn này được mệnh danh là kiến giải trung đạo, vượt qua khỏi tà kiến chấp có chấp không của thế gian. Nói chung hành giả xa lìa từ bỏ năm loại kiến giải không chánh kiến này:

Một là tự chấp cho rằng thân này có ngã nó luôn tồn tại không mất, đó gọi là thân kiến hay ngã kiến.

Hai là cực đoan chấp chặt kiến giải một bên, như sau khi chúng ta mất sẽ tồn tại không mất, đó gọi là thường kiến hay hũu kiến đối lập lại với quan niệm sau khi ta mất sẽ không còn nữa, đó gọi là đọan kiến hay vô kiến. Hai quan điểm có-không này mà chúng ta chấp vào một trong hai thì gọi là biên kiến.

Ba là chấp nhận kiến giải cho rằng không có đạo lý nhân quả trên đời này, đó gọi là tà kiến.

Bốn là chấp chặt vào những kiến giải sai lầm cho là đúng đắn chân thật, đó gọi là kiến thủ kiến.

Năm là cho rằng những giới luật cấm chế sai lầm không đưa đến con đường giải thóat của ngoại đạo mà cho rằng thực hành chúng sẽ đưa đến Niết-bàn giải thóat, đó gọi là giới cấm thủ kiến.


Nếu hành giả xa lìa không sống theo năm thứ kiến giải sai lầm lệch lạ này, mà thấy biết được một cách chắc chắn rằng:“Biết được chánh kiến là chánh kiến, tà kiến là tà kiến. Biết được chánh ngữ và tà ngữ. Biết được chánh nghiệp và tà nghiệp. Biết được chánh mạng và tà mạng. Biết được chánh tinh tấn và tà tinh tấn. Biết được chánh niệm và tà niệm. Biết được chánh định và tà định.” (Kinh Ðại Tứ Thập, Trung Bộ III, tr. 206 - 208 bản dịch của HT. Minh Châu) thì đó gọi là thấy biết nhận thức một các chân chánh của hành giả về lối nhìn đưa đến con đường trung đạo giải thóat trong thực hành của hành giả.

Hình ảnhHình ảnh

Thượng Tọa Thích Đức Thắng( Bút hiệu: Đại Lãn, Phổ Đồng)

********************************************************
Nguồn:
Links Bát Chánh Đạo: Chánh Kiến

Lưu bút: Sau khi tìm hiểu Chánh kiến này, hành giả có thể tìm thêm nội dung chính của kinh số 10. Kinh Chánh Tri kiến từ Nguồn gốc: http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung00.htm Hai là, Luận giải Kinh Chánh Tri Kiến, Tỳ Khưu Chánh Minh http://www.budsas.org/uni/u-chanhminh/ctk00.htm về: 1. Thiện và Bất thiện; 2. Bốn loại vật thực; 3. Tứ Diệu Đế; 4. Sau cùng là lý 12 nhân duyên. Nơi đây sẽ giúp cho hành giả phân biệt thêm sâu sắc thế nào là Chánh kiến và thế nào là tà kiến. Chúc các bạn thành công. QH.

******************************************************
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Bát Chánh Đạo: 1.Chánh kiến.

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 6 30 Tháng 1, 2015 3:32 pm

Bài 2.

I. Ba Loại Tà Kiến

“Này các Tỳ khưu, có ba loại tà kiến, do đắm mê chúng, luận bàn chúng, và lấy chúng làm mục tiêu, một số sa môn và Bàlamôn đã rơi vào các cực đoan và trở thành những kẻ chủ trương vô hành kiến (akiriya diṭṭhi - người chủ trương quan điểm cho rằng không có quả báo của hành động hay nghiệp). Ba tà kiến này là gì? Đó là:
- Tiền định kiến (pubbekata-hetu-diṭṭhi)
- Tạo hóa kiến (issaranimmāna hetu-diṭṭhi)
- Vô nhân kiến (ahetu-apaccaya-diṭṭhi)


1. Tiền định kiến - Pubbekata-hetu-diṭṭhi. Quan điểm cho rằng mọi cảm thọ mà các chúng sinh thọ hưởng trong kiếp hiện tại chỉ do nhân, do duyên các hành nghiệp mà họ đã làm trong những kiếp quá khứ mà thôi.

“Này các Tỳ khưu, có một số sa môn và Bàlamôn công bố và chấp giữ quan điểm sau: ‘Mọi cảm thọ lạc thuộc thân và tâm, mọi cảm thọ khổ thuộc thân và tâm, mọi cảm thọ bất lạc bất khổ mà các chúng sinh thọ lãnh trong kiếp hiện tại chỉ do nhân các hành nghiệp mà họ đã làm trong những kiếp quá khứ mà thôi.' Quan điểm này được gọi là Tiền định kiến - Pubbekata-hetu-ditṭṭhi.”

2. Tạo hóa kiến - Issaranimmāna-hetu-diṭṭhi. Quan điểm cho rằng mọi cảm thọ trong kiếp hiện tại là do một đấng tối cao hay Thượng Đế tạo ra.


“Này các Tỳ khưu, có một số sa môn và Bàlamôn công bố và chấp giữ quan điểm sau: ‘Mọi cảm thọ lạc thuộc thân và tâm, mọi cảm thọ khổ thuộc thân và tâm, và mọi cảm thọ bất lạc bất khổ mà các chúng sinh thọ hưởng trong kiếp hiện tại là do một đấng Phạm Thiên (Brahmā) hay Thượng Đế tạo ra.’ Quan điểm này được gọi là Tạo Hóa kiến - Issaranimmāna-hetu-diṭṭhi.


3. Vô nhân kiến - Ahetu-apaccaya-diṭṭhi. Quan điểm cho rằng “không có nhân, không có duyên” của mọi hiện hữu.


“Này các Tỳ khưu, có một số samôn và Bàlamôn công bố và chấp giữ quan điểm sau: ‘Mọi cảm thọ lạc thuộc thân và tâm, mọi cảm thọ khổ thuộc thân và tâm, và mọi cảm thọ bất lạc bất khổ mà các chúng sinh thọ hưởng trong kiếp hiện tại tự chúng có mặt chứ không do nhân sanh nghiệp (jana-kamma) và trì nghiệp (upatthambhaka-kamma)’. Quan điểm này được gọi là Vô nhân kiến [i]- Ahetu-apaccaya diṭṭhi.”
[/i](Còn tiếp...)
Chánh Kiến Và Nghiệp
Tác giả: Ledi Sayadaw và nhiều Tác giả khác Dịch giả: Pháp Thông

Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Bát Chánh Đạo: 1.Chánh kiến.

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 4 04 Tháng 2, 2015 9:55 am

I. Ba Loại Tà Kiến
“Này các Tỳ khưu, có ba loại tà kiến, do đắm mê chúng, luận bàn chúng, và lấy chúng làm mục tiêu, một số sa môn và Bàlamôn đã rơi vào các cực đoan và trở thành những kẻ chủ trương vô hành kiến (akiriya diṭṭhi - người chủ trương quan điểm cho rằng không có quả báo của hành động hay nghiệp). Ba tà kiến này là gì? Đó là:
- Tiền định kiến (pubbekata-hetu-diṭṭhi)
- Tạo hóa kiến (issaranimmāna hetu-diṭṭhi)
- Vô nhân kiến (ahetu-apaccaya-diṭṭhi)
*********************************

II. Phản Bác Tiền Định Kiến

Trong Tăng Chi Kinh, chương Ba pháp, chúng ta có những lời dạy của Đức Chánh Biến Tri:
“Này các Tỳ khưu, trong ba tà kiến này, một số sa môn và Bà la môn chấp giữ và công bố quan điểm sau:
‘Mọi cảm thọ lạc thuộc thân và tâm, mọi cảm thọ khổ thuộc thân và tâm, và mọi cảm thọ bất lạc bất khổ mà các chúng sinh thọ hưởng trong kiếp hiện tại chỉ do nhân những hành nghiệp họ đã làm trong những kiếp quá khứ mà thôi.
***
**
*
...Rồi ta nói với họ: Này các hiền giả, nếu sự tình là vậy, thời sẽ có những người, do nhân các hành nghiệp họ đã tạo trong những đời quá khứ mà sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, nói lời chia rẽ, dùng ngôn ngữ thô lỗ, nói chuyện phù phiếm, tham lam, sân hận và chấp giữ tà kiến.’

“Này các Tỳ Khưu, thực sự trong tâm của những người tin tưởng một cách quả quyết vào những hành nghiệp mà các chúng sinh đã làm trong đời quá khứ và chấp chặt quan điểm này, không thể nào khởi lên những tâm sở như ước muốn làm (chanda - dục) và tinh tấn (vāyama) để phân biệt những hành động nào cần phải làm và những hành động nào cần phải tránh.
***
**
*
“Này các Tỳ Khưu, thực sự trong tâm của những người không thể phân biệt một cách chính xác và chắc chắn giữa những hành động nào cần phải làm và những hành động nào cần phải tránh, và sống không có sự áp dụng chánh niệm và tự chế, không thể khởi lên đức tin chân chánh dẫn đến sự diệt trừ của các phiền não.

“Này các Tỳ khưu, đây là lời tuyên bố có căn cứ xác đáng thứ nhất phản bác lại những tín điều và kiến chấp theo tà đạo được đưa ra bởi các sa môn và Bà la môn chủ trương mọi cảm thọ mà các chúng sinh thọ hưởng trong kiếp hiện tại chỉ do nhân những hành nghiệp quá khứ của họ.”


III. Phản Bác Tạo Hóa Kiến
Đức Phật tuyên bố: “Này chư Tỳ Khưu, trong ba kiến chấp này, có những samôn và Bà la môn chấp giữ và công bố quan điểm sau: ‘Mọi cảm thọ lạc thuộc thân và tâm, mọi cảm thọ khổ thuộc thân và tâm, và mọi cảm thọ bất lạc bất khổ mà các chúng sinh thọ hưởng trong kiếp hiện tại là do một đấng Phạm Thiên tối cao hay Thượng Đế tạo ra.’

Ta đi đến họ và hỏi: “Này các hiền giả, có thực là các vị chấp giữ và công bố quan điểm này: ‘Phàm mọi cảm thọ lạc thuộc thân và tâm, mọi cảm thọ khổ thuộc thân và tâm, và mọi cảm thọ bất lạc bất khổ mà các chúng sinh thọ hưởng trong kiếp hiện tại là do một vị Phạm Thiên tối cao hay Thượng Đế tạo ra không?'

Được hỏi như vậy các sa môn và Bàlamôn ấy trả lời: ‘Vâng, đúng thế thưa tôn giả.’

Rồi ta nói với họ: “Này các hiền giả, nếu sự tình là vậy, thời sẽ có những người, do sự sáng tạo của một vị Phạm Thiên tối cao hay Thượng Đế (mà) sát sanh, trộm cắp, nói dối, tà hạnh trong các dục, nói lời chia rẽ, dùng lời thô lỗ, nói chuyện phù phiếm, tham lam, ác ý với người khác và chấp giữ các tà kiến.
***
**
*
“Này các Tỳ Khưu, thực sự, trong tâm của những người tin tưởng một cách quả quyết và độc nhất vào sự sáng tạo của một vị Phạm Thiên tối cao hay Thượng Đế như vậy, không thể khởi lên các tâm sở như ước muốn làm và tinh tấn để phân biệt những hành động nào cần phải làm và hành động nào cần phải tránh.
***
**
*
“Này các Tỳ Khưu, thực sự, trong tâm của những người không thể phân biệt một cách chính xác và chắc chắn giữa những điều nên làm và những điều nên tránh, và sống không có sự áp dụng (chánh) niệm và tự chế sẽ không thể khởi lên đức tin chân chánh dẫn đến sự diệt trừ của các phiền não.
***
**
*
“Này các Tỳ Khưu, đây là lời tuyên bố có căn cứ xác đáng thứ hai phản bác lại những tín điều và kiến chấp theo ngoại đạo được đưa ra bởi những sa môn và Bàlamôn chủ trương rằng mọi cảm thọ mà các chúng sinh thọ hưởng trong kiếp hiện tại là do một vị Phạm Thiên tối cao hay Thượng Đế tạo ra.”


IV. Phản Bác Vô Nhân Kiến

Đức Phật tuyên bố: “Này các Tỳ Khưu, trong ba tà kiến này, có một số sa môn và Bàlamôn chấp giữ và công bố quan điểm sau: ‘Mọi cảm thọ lạc thuộc thân và tâm, mọi cảm thọ khổ thuộc thân và tâm, và mọi cảm thọ bất lạc bất khổ mà các chúng sinh thọ hưởng trong kiếp hiện tại tự chúng có mặt chứ không có sự can thiệp của sanh nghiệp hoặc trì nghiệp.’

Ta đi đến họ và hỏi: “Này các hiền giả, có thực là các vị chấp giữ và công bố quan điểm này: Phàm mọi cảm thọ lạc thuộc thân và tâm, mọi cảm thọ khổ thuộc thân và tâm và mọi cảm thọ bất lạc bất khổ mà các chúng sinh thọ hưởng trong kiếp hiện tại tự chúng có mặt chứ không do sanh nghiệp và trì nghiệp, đúng không?

Được hỏi như vậy, các sa môn và Bàlamôn ấy trả lời: ‘Vâng, đúng thế thưa tôn giả.’

Rồi ta nói với họ: “Này các hiền giả, nếu sự tình là vậy, thời sẽ có những người, không do bất kỳ nhân nào, duyên nào mà sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, nói lời chia rẽ, dùng lời thô lỗ, nói chuyện phù phiếm, tham lam, ác ý với người khác, và chấp giữ các tà kiến.
***
**
*
Này các Tỳ Khưu, thực sự trong tâm của những người tin tưởng một cách quả quyết và độc nhất vào quan điểm "vô nhân, vô duyên" của mọi hiện hữu như vậy, không thể khởi lên những tâm sở như ước muốn làm (chanda) và tinh tấn (vāyama) để phân biệt giữa những gì cần phải làm và những gì cần phải tránh.

Này các Tỳ Khưu, thực sự trong tâm của những người không thể phân biệt một cách chính xác và chắc chắn giữa những gì cần phải làm và những gì cần phải tránh, và sống không có sự áp dụng chánh niệm và tự chế, không thể khởi lên đức tin chân chánh dẫn đến sự diệt trừ của các phiền não.
***
**
*
“Này các Tỳ Khưu, đây là lời tuyên bố có căn cứ xác đáng thứ ba phản bác lại những tín điều và kiến chấp theo ngoại đạo được đưa ra bởi các sa môn và Bàlamôn chủ trương mọi cảm thọ mà các chúng sinh thọ lãnh trong kiếp hiện tại tự chúng có mặt chứ không phải do sanh nghiệp và trì nghiệp. (Còn tiếp...)
Chánh Kiến Và Nghiệp
Tác giả: Ledi Sayadaw và nhiều Tác giả khác Dịch giả: Pháp Thông

Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Bát Chánh Đạo: 1.Chánh kiến.

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 3 10 Tháng 2, 2015 4:18 pm

I. Ba Loại Tà Kiến

VI. Giải Thích Về Phản Bác Tiền Định Kiến


1. Quan Kiến Cho Rằng Nghiệp Quá Khứ Là Nhân Độc Nhất.
Chúng sinh thọ hưởng các thọ lạc thuộc thân và tâm, thọ khổ thuộc thân và tâm, và các thọ bất khổ bất lạc.
Họ thọ hưởng những cảm thọ này liên quan đến sự hạ liệt, sự cao thượng, sự ngu dốt, và đến những ảnh hưởng được xem là lớn lao hay không đáng kể của họ.
Những người chấp tiền định kiến chủ trương như sau: Độc nhất do các nghiệp mà những chúng sinh này đã làm trong các kiếp quá khứ làm nhân khiến họ thọ hưởng những điều như là vừa ý, không vừa ý, thỏa mãn hay không thỏa mãn của cuộc đời này.

Tất cả những chuyện ấy chẳng phải do ai tạo, cũng chẳng phải do những hành động mà họ làm một cách siêng năng trong kiếp hiện tại này gây ra? Do kiến chấp này chối bỏ mọi kết quả của hành động mà con người làm trong kiếp hiện tại, nên nó đã lầm lẫn một cách phi lý và quá đáng. Vì vậy nó được gọi là một tà kiến.


Giả sử thuyết tiền định này là đúng thời những người sát sanh trong đời này chẳng qua cũng chỉ vì nghiệp quá khứ của họ thúc đẩy mà thôi.
Hoặc giả, có những người, do thiện nghiệp đã làm trong đời quá khứ làm duyên mà trở thành các sa môn và Bàlamôn có giới hạnh. Thỉnh thoảng những vị samôn, Bàlamôn này phạm các điều ác cũng là do nghiệp quá khứ của họ.

Và cũng có thể nói, những hành động sát sanh, lấy của không cho, tà dâm, nói láo, nói lời thô lỗ, nói chuyện phù phiếm, tham lam, nuôi dưỡng ác ý chống người khác, và tà kiến cũng là do những ác nghiệp quá khứ của họ thúc đẩy nốt.


Trong đời này, những việc như “nghe bậc hiền trí thuyết pháp” và “như lý tác ý” được xem là những điều kiện để trở thành người có trí và giới đức. Giả sử mọi thiện nghiệp và bất thiện nghiệp mà người ta làm trong kiếp hiện tại này chỉ do nghiệp quá khứ của họ làm nhân, thì những việc "nghe pháp" và "như lý tác ý" sẽ trở thành vô ích, không có kết quả gì hết, vì những người chấp theo tà kiến này tin rằng “để trở thành một người trí" hay “để trở thành một người ngu chỉ độc do nhân nghiệp quá khứ của họ chứ không do các nhân nào khác cả" (đây là chủ thuyết về người được Chúa chọn để cứu vớt, Doctrine of the Elect, do một số giáo phái chủ trương, ngày nay vẫn còn).

Thực sự, con người có thể trở thành sa môn hay Bàlamôn đức hạnh chỉ khi nào họ thực hiện những thiện nghiệp như ‘thân cận bậc trí’ và ‘nghe pháp’, chứ không có cách nào khác. Có lẽ chúng ta đã thấy những trường hợp như vậy trong cuộc sống hàng ngày rồi. Do Tiền Định Kiến chối bỏ giá trị của sanh nghiệp và trì nghiệp, nên nó cần phải được tuyên bố là một tà kiến.


2. Sự Vắng Mặt của 'Ước Muốn Làm' và 'Tinh Tấn'
Trong tâm của những samôn và Bàlamôn nhất quyết tin tưởng vào nghiệp quá khứ và chấp chặt quan điểm này, tức cho rằng chỉ có Tiền định kiến là quan kiến đúng đắn, còn người theo các quan kiến khác là sai lạc và vô ích, sẽ không thể khởi lên 'ước muốn làm' và 'tinh tấn' nhờ đó họ có thể phân biệt được đâu là việc cần phải làm và đâu là việc cần phải tránh, vì họ tin rằng mọi hành động hiện tại là do nhân nghiệp quá khứ chứ không phải do 'ước muốn làm' hay 'tinh tấn' mà con người ta vận dụng trong kiếp sống này.


Thực ra, chỉ khi người ta có thiện ý và tinh tấn đúng đắn họ mới có thể làm những điều nên làm và tránh những điều nên tránh, chứ không có cách nào khác hơn.

Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta đã thấy rõ những trường hợp như vậy. Quan kiến do những người chủ trương bác bỏ mọi nhân hiện tại như là 'ước muốn làm' và 'tinh tấn', và chỉ tin vào nghiệp quá khứ, cần phải xem như một tà kiến.


3. Phạm Hạnh Có Thể Bị Hư Hoại Như Thế Nào?
Nếu ước muốn làm và tinh tấn để thực hiện những gì cần phải làm và tránh những gì cần phải tránh không khởi lên trong tâm của những người chấp theo tiền định kiến, thời do không thể nhận thức được đâu là thiện và đâu là ác, họ sẽ vẫn không thực hiện những thiện nghiệp cần phải thực hiện, ngược lại còn làm những bất thiện nghiệp lẽ ra phải tránh.

Do không có chánh niệm và sự phòng hộ các căn, kiến chấp của họ không thể xem là samôn kiến chơn chánh được. Trong đời này, người ta thường dùng những từ có tính qui ước như 'samôn' để chỉ người đang cố gắng dập tắt mọi dục vọng, 'bàlamôn' để chỉ người đang sống một cuộc đời thanh tịnh, vô nhiễm và khổ hạnh, 'người giới đức' và 'người phàm', vì đây là những người đang thực hiện điều cần phải thực hiện và tránh điều cần phải tránh vậy.


Những từ qui ước như 'người chánh trực', 'người đang sống sống một cuộc đời thanh tịnh, vô nhiễm' hoặc 'bậc chân nhân - sappūrisa' không thể đem áp dụng cho những người chấp theo tiền định kiến này được, vì đối với họ chẳng có gì khác giữa hành động nào cần phải làm và hành đông nào cần phải tránh, vốn là những thiện nghiệp đạo thường được các gia chủ, samôn và người có trí thực hành.


Thực sự, có những hành động cần phải tránh. Một số người không phải lúc nào cũng làm thiện nghiệp cần làm, và tránh những ác nghiệp phải tránh. Người như vậy được gọi là Pakatimanussa (phàm phu tục tử).

Một số người, nhờ có chánh niệm và phòng hộ các căn, biết thực hiện những thiện nghiệp và tránh những ác nghiệp. Họ được gọi là 'samôn', 'bàlamôn', hoặc 'bậc chân nhân' (sappūrisa). Nếu một người phân biệt được giữa hai loại người này - người ác và người trí - họ được nói là có 'samôn kiến chơn chánh' hay 'bàlamôn kiến chơn chánh'. Vì Tiền định kiến chối bỏ mọi nhân hiện tại như chánh niệm, phòng hộ… và tin chắc vào nghiệp quá khứ của một người, nên chỉ có tri kiến của họ mới cần được xem là tà kiến. Đây là cách phản bác thứ hai.


4. Từ Tiền Định Kiến Có Khả Năng Trở Thành Kẻ Chấp Giữ Tri Kiến Cho Rằng Các Pháp Đều Không Có Nhân Hay Không Có Duyên.
Nếu thuyết Tiền Định (Pubbekata-hetu diṭṭhi-vāda) này được phân tích một cách kỹ lưỡng hay phân tích một cách cẩn thận với sự hiểu biết của bậc trí, người ta sẽ thấy rằng, theo tà kiến này, thì trong mọi lãnh vực của nghiệp chẳng có gì đáng để người ta làm ngoại trừ theo cách dễ nhất. Như thế nào?

Chính là theo cách sau: Những người chủ trương tà kiến này bác hết mọi hành động lẽ ra cần phải làm trong đời hiện tại và cũng không tận dụng hết nghị lực mà những bậc giới đức phải vận dụng. Họ cũng bác luôn chức năng của tinh tấn và trí tuệ.
Họ chủ trương rằng những lợi ích liên quan đến đời hiện tại và những lợi ích liên quan đến đời tương lai do bậc trí tuyên thuyết chỉ là giả dối. Trong tâm của những người chấp theo tà kiến này tất nhiên không thể khởi lên ước-muốn-làm và tinh tấn để thực hiện những thiện nghiệp cần phải được người giới đức thực hiện. Như vậy, tà kiến này trở thành vô hành kiến (akiriya-diṭṭhi ­­– tà kiến cho rằng không có nhân của sự hiện hữu).

Do đó, những người chấp Tiền định kiến này sống ở đời thật là vô tích sự, họ chẳng khác gì một đống đồ phế thải, hay một mảnh gỗ vụn vô ích. Vì những lý do đã nêu, đức Phật Tối Thượng đã phản bác tà kiến này.
Chánh Kiến Và Nghiệp
Tác giả: Ledi Sayadaw và nhiều Tác giả khác Dịch giả: Pháp Thông

[/quote]
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Bát Chánh Đạo: 1.Chánh kiến.

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 5 12 Tháng 3, 2015 1:24 pm

Những hiểu lầm về Đạo Phật 12/03/2015 14:22:00 Minh Đức Triều Tâm Ảnh

Đạo Phật ngày càng suy đồi, tha hoá, “mạt pháp”, nguyên nhân thì nhiều, nhưng đôi khi vì trong giới tu sĩ và cư sĩ không trang bị đủ kiến thức của giáo pháp như thực - tức là giáo pháp cội rễ - mà chỉ chạy theo cành, nhánh, ngọn lắm hoa và nhiều trái.


Từ đấy, khó phân biệt đâu là đạo Phật chơn chánh, đâu là đạo Phật đã bị biến chất, chạy theo thị hiếu dung thường của thế gian. Đôi nơi đạo Phật còn bị trộn lẫn với tín ngưỡng duy linh và cả tín ngưỡng nhân gian nữa... Nhiều lắm, không kể xiết đâu.

Với cái nhìn “chủ quan” của một tu sĩ Theravāda, tôi xin mạo muội liệt kê ra đây những hiểu lầm tai hại và rất phổ biến của Phật giáo trong và ngoài nước để chư vị thức giả cùng thấy rõ như thực:

1- Tôn giáo
: Đạo Phật có những sinh hoạt về tôn giáo nhưng đạo Phật không phải là tôn giáo, vì đạo Phật không có một vị thượng đế tối cao hoá sinh muôn loài và có quyền ban thưởng, phạt ác.

2- Tín ngưỡng
: Đạo Phật có những sinh hoạt tín ngưỡng nhưng đạo Phật không phải là tín ngưỡng để mọi người đến van vái, cầu xin những ước mơ dung tục của đời thường.

3- Triết học
: Đạo Phật có một hệ thống tư tưởng được rút ra từ Kinh, Luật và Abhidhamma, được gọi là “như thực, như thị thuyết” chứ không phải là một bộ môn triết học “chia” rồi “chẻ”, “phán” rồi “đoán” như của Tây phương.


4- Triết luận
: Đạo Phật có tuệ giác để thấy rõ Cái Thực chứ không sử dụng lý trí phân tích, lý luận. Còn triết, còn luận là vì chưa thấy rõ Cái Thực. Đạo Phật là đạo như chơn, như thực. Kinh giáo của đức Phật luôn đi từ cái thực cụ thể để hướng dẫn mọi người tu tập, nó không có triết, có luận đâu. Ngay “thiền” mà còn “luận” (thiền luận) là đã đánh mất thiền rồi.

5- Từ thiện xã hội
: Đạo Phật có những sinh hoạt từ thiện xã hội nhưng không coi từ thiện xã hội là tất cả, để hy sinh cuộc đời đầu tròn, áo vuông một cách uổng phí. Đạo Phật còn có những sinh hoạt cao cả hơn: Đó là giáo dục, văn hoá, nghệ thuật, tu tập thiền định và thiền tuệ nữa. Từ thiện xã hội thì ai cũng làm được, thậm chí người ta còn làm tốt hơn cả Phật giáo, ví dụ như Bill Gates. Còn giáo dục, văn hoá, nghệ thuật của đạo Phật là nền tảng Mỹ Học viết hoa (nội hàm các giá trị nhân văn, nhân bản) mà không một tôn giáo, môt chủ nghĩa, một học thuyết nào trên thế gian có thể so sánh được. Và đây mới là sự phụng hiến cao đẹp của đạo Phật cho thế gian. Còn nữa, nếu không có tu tập thiền định và thiền tuệ thì mọi hình thái sinh hoạt của đạo Phật, xem ra không phải là của đạo Phật đâu!

6- Cực lạc, cực hạnh phúc: Đạo Phật có nói đến hỷ, lạc trong các tầng thiền; có nói đến hạnh phúc siêu thế khi ly thoát tham sân, khổ lạc (dukkha), phiền não của thế gian - chứ không có một nơi chốn cực lạc, cực hạnh phúc được phóng đại như thế.


7- 8 vạn 4 ngàn pháp môn:
Đạo Phật có nói đến 8 vạn 4 ngàn pháp uẩn (dhammakhandha) chứ không nói đến 8 van 4 ngàn pháp môn (dhammadvāra). Uẩn (khandha) ngoài nghĩa che lấp, che mờ và nghĩa chồng lên, chồng chất, còn có nghĩa là nhóm, liên kết, tập hợp ví như Giới uẩn (nhóm giới), Định uẩn (nhóm định), Tuệ uẩn (nhóm tuệ). Do từ uẩn (khandha) lại dịch lệch ra môn - cửa (dvāra), pháp môn nên ai cũng tưởng là có 8 vạn 4 ngàn pháp môn, tu theo pháp môn nào cũng được! Ai là người có thể đếm đủ 8 vạn, 4 ngàn cửa pháp này? Còn nữa, xin lưu ý, 8 vạn 4 ngàn chỉ là con số tượng trưng, có nghĩa là nhiều lắm, đếm không kể xiết theo truyền thống tôn giáo và tín ngưỡng Ấn Độ cổ thời. Ví dụ 84 ngàn lỗ chân lông, 84 ngàn vi trùng trong một bát nước, 84 ngàn phiền não, 84 ngàn cách tu...

8- Xin xăm, bói quẻ, cầu sao, giải hạn, xem ngày giờ tốt xấu: Những hình thức này không phải của đạo Phật. Trong kinh tụng Pāli có đoạn: “Sunakkhataṃ sumaṅgalaṃ supabhātaṃ suhuṭṭhitaṃ, sukhno ca suyiṭṭaṃ brahmacārisu. Padakkhinaṃ kāyakammaṃ vācākammaṃ padakkhinaṃ padakkhinaṃ manokammaṃ paṇidhī te padakkhinā...”
Có nghĩa là: Giờ nào (chúng ta) thực hành thân, khẩu, ý trong sạch; giờ đó được gọi là vận mệnh tốt, là giờ tốt, là khắc tốt, là canh tốt... Ngày đó gọi là có nghiệp thân phát đạt, nghiệp khẩu phát đạt, nghiệp ý phát đạt. Và nguyện vọng theo đó được gọi là nguyện vọng phát đạt. Người tạo nghiệp thân, nghiệp khẩu, nghiệp ý phát đạt như thế rồi sẽ được những lợi ích phát đạt (chữ phát đạt có thể có thêm nghĩa nhiêu ích).

9- Định mệnh: Đạo Phật có nói đến nghiệp, đến nhân quả nghiệp báo chứ không hề nói đến định mệnh. Theo đó, gây nhân xấu ác thì gặt quả đau khổ, gây nhân lành tốt thì gặt quả an vui - chứ không phải “cái tơ cái tóc cũng do trời định” như định mệnh thuyết của Khổng Nho hoặc định mệnh 4 giai cấp của Bà-la-môn giáo.


10- Siêu độ, siêu thoát: Không có bài kinh nào, không có uy lực của bất kỳ ông sư, ông thầy nào có thể tụng kinh siêu độ, siêu thoát cho hương linh, vong linh, chân linh cả. Thời Phật tại thế, nếu có đến nơi người mất, chư tăng chỉ đọc những bài kệ vô thường, khổ và vô ngã để thức tỉnh người sống; và hiện nay các nước Phật giáo Theravāda còn duy trì. Có thể có hai trường hợp:
- Nếu vừa chết lâm sàng thì thần thức người chết vẫn còn. Vậy có thể đọc kinh, mở băng kinh, chuông mõ, hương trầm... để “thần thức người chết” hướng về điều lành... để thần thức tự tạo “cận tử nghiệp” tốt cho mình.

- Nếu thần thức đã lìa khỏi thân rồi – thì họ đã tái sanh vào cõi khác rồi, ngay tức khắc. Khi ấy thì gia đình làm phước để chư tăng tụng kinh hồi hướng phước ấy cho người đã mất.
Cả hai trường hợp trên đều không hề mang ý nghĩa siêu độ, siêu thoát mà chỉ có ý nghĩa gia hộ, gia niệm, gia lực mà thôi. Tu dựa vào tha lực cũng tương tự như vậy, nhưng cuối cùng cũng phải tự lực: “Tự mình thắp đuốc mà đi, tự mình là hòn đảo của chính mình”.Chư thiên chỉ có khả năng hoan hỷ phước và báo truyền thông tin ấy cho người quá vãng mà thôi. Họ không có uy lực ban phước lành cho ai cả.

11- Huyền bí, bí mật: Giáo pháp của đức Phật không có cái gì được gọi là huyền bí, bí mật cả. Đức Phật luôn tuyên bố là “Như Lai thuyết pháp với bàn tay mở ra”; có nghĩa là ngài không có pháp nào bí mật để giấu kín cả!

12- Tâm linh: Ngày nay, người ta tràn lan lễ hội, tràn lan mọi loại điện thờ với những hình thức mê tín, dị đoan, sa đoạ văn hoá... mà ở đâu cũng rêu rao các giá trị tâm linh. Đạo Phật không hề có các kiểu tâm linh như vậy. Thuật ngữ tâm linh này được du nhập từ Trung Quốc. Và rất tiếc, tôi không hề tìm ra nguồn Phật học Pāli hay Sanskrit có từ nào tương thích với chữ “linh” này cả!


13- Niết-bàn: Nhiều người tưởng lầm Niết-bàn là ở một cõi nào đó, một nơi chốn nào đó; thậm chí là ở một thế giới ở ngoài thế gian này. Người nào tìm kiếm Niết-bàn kiểu ấy, thuật ngữ thiền tông có cụm từ “lông rùa, sừng thỏ” như ngài Huệ Năng đã nói rõ: “Phật pháp tại thế gian. Bất lý thế gian giác. Ly thế mịch bồ-đề. Cáp như tầm thố giác”. Thố giác là sừng thỏ. Và giác ngộ cũng vậy, chính ở trong khổ đau, phiền não mới giác ngộ bài học được.

14- Bỏ khổ, tìm lạc: Tu Phật không phải là bỏ khổ, tìm lạc. Xin lưu ý cho: Khổ và Lạc chính là căn bản của phiền não!

15- Tu để được cái gì! Có nhiều người nghĩ rằng, tu là để được cái gì đó. Xin thưa, được cái gì là sở đắc. Ai sở đắc? Chính là bản ngã sở đắc. Đạo Phật là vô ngã. Hãy xin đọc lại Bát-nhã tâm kinh.


16- Tu là sửa:
Nếu tu là sửa thì mình đã từ “cái ta này” biến thành “cái ta khác”. Nếu tu là không sửa thì cứ để nguyên trạng tham sân si như vậy hay sao? Xin thưa, sửa hay không sửa đều trật. Đạo Phật quan trọng ở Cái Thấy! Có Cái Thấy mới nói đến giác ngộ và giải thoát. Không có Cái Thấy này thì tu kiểu gì cũng trệch hướng hoặc rơi vào phước báu nhân thiên.

17- Vía:
Đạo Phật không có vía nào cả. Vía, hồn, phách là quan niệm của nhân gian. Ví dụ, ba hồn bảy vía. Ví dụ, nam thất, nữ cửu – nam bảy vía, nữ chín vía. Nếu là nam thất, nữ cửu thì nó trùng với nam 7 khiếu, nữ 9 khiếu. Vía là phần hồn. Không có cái hồn, cái linh hồn tự tồn tại nếu không có chỗ nương gá. Vía không độc lập được. Như danh - phần tâm, sắc - phần thân – luôn nương tựa vào nhau. Chỉ có năng lực thiền định mới tạm thời tách lìa danh ra khỏi sắc, như Cõi trời Vô tưởng của tứ thiền. Tuy nhiên, cõi trời Vô tưởng hữu tình này không phải là không có danh tâm mà chúng ở dạng tiềm miên. Còn các Cõi trời Vô sắc thì sắc không phải là không có, chúng cũng ở dạng tiềm miên. Thật đáng phàn nàn, Phật và Bồ-tát đều có “vía” cả! Và cũng thật là “đau khổ” khi trong lễ an vị Phật, người ta còn hô“Thần nhập tượng” nữa chứ!

18- Bồ-tát: Bồ-tát là âm của chữ Bodhisatta: Chúng sanh có trí tuệ. Vậy, chúng ta tạm thời bỏ quên “khái niệm Bồ-tát” quen thuộc trong kinh điển mà trở về với nghĩa gốc là “chúng sanh có trí tuệ”. Và như vậy, sẽ có hạng chúng sanh có trí tuệ với nguyện lực Thanh Văn; chúng sanh có trí tuệ với nguyện lực Độc Giác; chúng sanh có trí tuệ với nguyện lực Chánh Đẳng Giác. Ngoài 3 loại chúng sanh có trí tuệ trên – không có loại chúng sanh có trí tuệ nào khác.

19- Phật: Phật là âm của chữ Buddha, nghĩa là người Giác ngộ. Vậy chúng ta nên tạm thời bỏ quên “khái niệm Phật” từ lâu đã mọc rễ trong tâm thức mà trở về nghĩa gốc là bậc Giác ngộ. Vậy, có người Giác ngộ do nghe pháp từ bậc Chánh Đẳng Giác, được gọi là Thanh Văn Giác. Có người Giác ngộ do tự mình tu tập vào thời không có đức Chánh Đẳng Giác, được gọi là Độc Giác. Có vị Giác ngộ do trọn vẹn 30 ba-la-mật, trọn vẹn minh và hạnh nên gọi là Chánh Đẳng Giác.Không có vị Giác ngộ (Phật) nào ngoài 3 loại Giác ngộ trên.

20- Thể nhập: Tu là không thể nhập vào cái gì cả. Thể nhập là bỏ cái ngã này để nhập vào cái ngã khác. Cãi ngã khác ấy có thể là dòng sông, có thể là ngọn núi, có thể là một cội cây, có thể là một thần linh, thượng đế. Cái cụm từ “thể nhập pháp giới” rất dễ bị hiểu lầm. Khi đi, chánh niệm, tỉnh giác trọn vẹn với cái đi; khi nói, chánh niệm, tỉnh giác trọn vẹn với cái nói; khi ăn, chánh niệm, tỉnh giác trọn vẹn với cái ăn – thì đấy mới đúng nghĩa “thể nhập pháp giới”, ngay giây khắc ấy, mọi tham sân, phiền não không có chỗ để phan duyên, sanh khởi.

Ngoạ Tùng Am, Sơ Xuân 2015
Minh Đức Triều Tâm Ảnh
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Bát Chánh Đạo: 1.Chánh kiến.

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 5 26 Tháng 3, 2015 3:40 pm

Bài 6:

Quan điểm của Phật giáo về giáo dục

1. NSGN - Hơn 2.500 năm trước cho đến ngày nay, lịch sử hoằng truyền của Phật giáo thực sự chính là một bộ giáo dục sử quảng bác uyên thâm. Hết thảy thế gian này không chỗ nào không gói gọn trong phạm trù giáo dục của Đức Phật.

Thích Ca Mâu Ni sinh ra trong dòng tộc cao quý, những thứ Ngài nhận được gần như đều thuộc giáo dục quý tộc; tuy nhiên, lúc Ngài tiến hành triển khai giáo dục, thì hoàn toàn lại đứng trên lập trường tất cả chúng sinh bình đẳng để thí giáo. Vì vậy, cách làm và tư tưởng giáo dục của Ngài là thuộc đại chúng hóa, dân chủ hóa. Mục đích giáo dục của Đức Phật không chỉ là mở mang, phát hiện tiềm năng hoặc là truyền đạt kinh nghiệm cho chúng sinh, mà điều quan trọng nhất là cung cấp phương pháp giải thoát tự ngã cho hết thảy chúng sinh.

Hình ảnh
Đức Phật giáo dục (dạy dỗ) đệ tử, không dùng đến biện pháp
la mắng đánh đập, cũng chả cần dùng đến cách cự tuyệt, quở trách - Ảnh minh họa


Đức Phật thuyết Pháp, trải qua 49 năm ròng rã, giảng kinh hơn 300 hội(1), đã từng giảng dạy, hành hóa khắp các thành thị Ấn Độ. Những chân lý vũ trụ nhân sinh mà Ngài miệt mài trao truyền, được dẫn giải qua truyện bổn sinh(2), thí dụ(3), nhân duyên (4), trường hàng(5), trùng tụng(6) v.v…, tất cả là những lời khuyên bảo với nội dung sâu sắc, lời lẽ dễ hiểu.
Mười hai phần giáo(7), Tam chuyển pháp luân(8), Tứ tất đàn(9) của Đức Phật đều là cách nói pháp theo lối đại chúng hóa. Giáo dục của Đức Phật rộng lớn, sâu sắc, đa dạng. Có khi lấy sự tự tại biến hóa của thần thông(10) để nói Pháp; có khi lấy lục căn(11) hỗ dụng, dương mày nhíu mắt, nhấc tay giơ chân để truyền tâm. Với Đức Phật, muôn vật trong thế gian này không thứ nào không phải pháp môn ngộ đạo, không một thứ gì không phải đề tài giáo dục.


2. Đức Phật giáo dục (dạy dỗ) đệ tử, không dùng đến biện pháp la mắng đánh đập, cũng chả cần dùng đến cách cự tuyệt, quở trách, phần lớn Ngài đều dùng phương thức cử thí (nêu ra ví dụ) hoặc khích lệ, để đệ tử biết được đời người tốt lành, từ đó mà không làm tổn thương đến danh dự của họ. Khả năng đặc biệt nhất của Đức Phật là biết quan sát căn cơ của từng đối tượng mà dụ dẫn dạy bảo.

Với người già cả thì nói Pháp người già, với trẻ em thì nói Pháp trẻ em, với thương nhân thì nói Pháp thương nhân, với quân nhân thì nói Pháp quân nhân. Đức Phật “ứng cơ thí giáo, đối chứng hạ dược”, giáo dục ấy không chỉ khế hợp chân lý “Pháp nhĩ như thị” (Pháp vốn như vậy), đồng thời còn khơi gợi “tự ngã giáo dục” (tự giáo dục), như thiên kinh vạn luận đều hướng dẫn đại chúng cách phát hiện tự tính, tự yêu cầu, tự giải thoát.

Đức Phật rất chú trọng giáo dục tự tâm. Các ví dụ về tâm trong kinh Phật cho thấy là nhiều vô số kể, cụ thể như: Tâm như khỉ vượn khó có thể kiểm soát; tâm như nháy mắt ánh chớp (sát-na/ksana); tâm như con nai hoang rong ruổi thanh sắc; tâm như bọn trộm cắp, cướp giật công đức; tâm như oan gia thân phải chịu khổ; tâm như kẻ tôi tớ phải gánh chịu nhiều phiền não; tâm như quốc vương có thể chơi tửu lệnh; tâm như nước suối chảy mãi bất tận; tâm như họa sĩ vẻ tranh ảnh; tâm như hư không rộng lớn vô biên… Đức Phật thuyết pháp, hoàn toàn nhắm vào việc “trị tâm”, cho nên nói: “Phật nói tất cả pháp, để trị tất cả tâm; nếu không có tất cả tâm, cần gì dùng đến tất cả pháp?”(12). Nay tóm nêu mấy phương pháp giáo dục của Đức Phật như sau:


3- Mọi người đều nhận được sự giáo dục như nhau (hữu giáo vô loại): Đức Phật không chỉ nói đạo lý về xử lý việc chính sự cho người vừa có tiền lại có quyền như vua Tần Bà Sa La(13) (Bimbisara), mà còn nói cảnh giới ngộ đạo cho Thủ-đà-la (Sudda) Ưu Bà Ly(14) (Upali); không chỉ nói pháp duyên khởi cho những người có lợi căn (căn tính nhạy bén) như Xá Lợi Phất (Sariputra), mà còn nói pháp môn tịnh hóa tâm linh cho những người có thuần căn (căn cơ chậm lụt) như Châu Lợi Bàn Đà Già (Cudapanthaka); không chỉ khiến cho những người vô tham như Đại Ca Diếp (Kasyapa) xuất gia, mà còn khiến những người đại tham như Nan Đà (Nanda) vào đạo; không chỉ nói pháp cho những nam giới có trí, mà còn khai thị cho những nữ giới ngu muội; chẳng những ngợi khen phu nhân Mạt Lợi (Mallika) trinh tiết, mà còn động viên cô gái Liên Hoa Sắc (Utpalavarna) dâm đãng. Đức Phật giáo dục chúng sinh, không phân nghèo giàu quý tiện, không từ kẻ trí người ngu hay cơ lợi tính thuần, Ngài đều giúp đỡ, giáo hóa trên tinh thần bình đẳng không phân biệt.


3- Dạy dỗ không biết mệt mỏi (hối nhân bất quyện): Đức Phật không vì chúng sinh lì lợm, ương bướng mà quăng bỏ chúng, trái lại diễn thuyết vô lượng pháp môn, làm lợi ích chúng sinh. Ví như người anh em họ của Đức Phật là Đề Bà Đạt Đa (Devadatta) nhiều lần mưu hại Đức Phật, nhưng Đức Phật không những không có oán hận, mà còn giáo huấn và cảm hóa một cách độ lượng; ngoại đạo Chỉ Man (Ương Khuất Ma La/Angulimalya) được Đức Phật dùng từ bi cảm hóa nhiếp phục, cuối cùng quy y Phật giáo; với sự cống cao ngã mạn của vua Thiện Giác (Suprabuddha), Đức Phật đã không từ nan đưa ra ví dụ, khiến nhà vua giác ngộ; trước khi Đức Phật ‘thị tật’ (bị bệnh) vẫn thuyết pháp cho vị ngoại đạo Tu Bạt Đà La (Subhadra) hơn 100 tuổi, đủ thấy Ngài là nhà giáo dục không biết mệt mỏi.


4- Phương tiện thiện xảo: Đức Phật mượn ‘giấy gói đàn hương’ và ‘dây buộc cá’, để nói với đệ tử về đạo lý “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”; Đức Phật dùng chậu nhơ không thể chứa được nước pháp trong sạch, nhằm giáo dục La Hầu La (Rahula), từ đó làm cho La Hầu La giác ngộ; Đức Phật dùng lời kệ “Con người phải luôn nhớ nghĩ rằng, mỗi khi ăn uống nên biết điều độ, như thế các vị thức ăn sẽ dần nhạt đi, sau khi nhạt loãng, thì mỡ trên cơ thể tự nhiên sẽ ít lại, trong lòng cũng cảm thấy an nhàn vui vẻ từ đó mà được sống lâu hơn”(15), khiến vua Ba Tư Nặc (Prasenajit) hiểu rõ nguyên lý làm cho sức khỏe dồi dào.

Lại nữa, Đức Phật dùng “hướng phong trịch thổ” (16), nói rõ người có ác ý hại người, quả báo rồi cũng tự mình gánh chịu; “mang quy phù mộc”(17), nói rõ nhân thân khó được; “tùng khẩn trung đạo” (chùng căng trung đạo), nói rõ tu hành cũng như việc lên dây đàn, không nên chùng mà cũng chẳng nên căng; “lưỡng quỷ tranh thi”(18) (hai con ma giành giật xác chết), nói rõ chân lý vô ngã… Loạt ví dụ này, đều là do Đức Phật dựa vào cá tính, hứng thú, nhu cầu của chúng sinh, dùng phương tiện thiện xảo để giáo hóa, phát huy nghệ thuật cao nhất trong việc dạy học.


5- Lấy mình làm gương (dĩ thân tác tắc): Việc giáo dục lấy mình làm gương của Đức Phật thì chúng ta có thể thấy rải rác khắp trong các kinh điển, như Đức Phật từng xe chỉ luồn kim giúp cho Tỳ-kheo (Bhikkhu) già cả bị lù lòa, cho thấy Ngài đã gương mẫu thể hiện tình thương yêu, lòng từ bi vô hạn; Đức Phật tự tay gột rửa những ô uế trên thân thể của Tỳ-kheo mắc bệnh, lấy việc làm cụ thể của bản thân mình thay cho những lời giáo huấn; Đức Phật “khiêng quan tài phụ thân”, đưa tang phụ vương, nói rõ trọng điểm của đạo hiếu ở đời; Đức Phật “ngồi đường giữa trưa”, nói với vua Lưu Ly (Veluriya) đạo lý yêu nước “bóng mát che chở của họ hàng thân thuộc là bóng mát che chở vững chãi hơn cả”… Tất cả điều này đều là những việc cụ thể mà Đức Phật đã lấy mình làm gương.


6- Lấy độc trị độc (dĩ độc công độc): Đôi khi “lấy độc trị độc” cũng là một trong những phương pháp giáo dục của Đức Phật. Ví dụ Đức Phật lấy cái lý (cách/biện pháp) của một ai đó, để trị lại ai đó (dĩ kỳ nhân chi đạo, hoàn trị kỳ nhân chi thân), giáo hóa quỷ tử mẫu(19), khiến nó ăn năn hối cải lỗi lầm trước kia, trở thành thần thủ hộ (bảo vệ) của các cháu thiếu nhi; Đức Phật dạy mẫu thân của đứa bé đã chết đến nhà người ta dự viếng tang sự tìm lấy cỏ cát tường, cuối cùng khiến bà giác ngộ đạo lý vô thường.


7- Lấy xưa chứng nay (dĩ cổ chứng kim): Mượn các tích xưa của Đức Phật như “cắt thịt hiến cho chim ưng”, “xả thân nuôi hổ”, cho đến “chim oanh vũ dập lửa”, “lông của nai có chín màu sắc” (cửu sắc lộc)…, đều do Đức Phật chứng đạo bằng chính nỗ lực của bản thân, để dẫn dắt, gợi ý tinh thần tự lợi lợi tha.
Ngoài sáu phương pháp đã được khái quát, trình bày một cách cô động trên, còn có các phương pháp giáo dục khác, cụ thể như “tùy hỷ công đức”, “hằng thuận chúng sinh”, “phước huệ song tu”, “giải hành bính trọng” (trí giải và tu hành đều được coi trọng ngang nhau).


Tư tưởng giáo dục và phương pháp giáo dục trong Phật pháp, thực sự rất đáng được chúng ta xem như là chỉ nam (căn cứ để nhận rõ phương hướng) của giáo dục. Các kinh luận Phật giáo, đều là cách hướng dẫn, chỉ bảo chúng sinh làm thế nào để thân, khẩu và ý của con người trở nên đúng đắn, hài hòa, và trọn vẹn nhất, làm cho chúng sinh buông bỏ mọi thói hư tật xấu như tham lam, sân hận và si mê, từ đó mà có thể thay tâm đổi tính, sống một cuộc đời lành mạnh, tự tại và an vui.
HT.TINH VÂN - NGUYỄN PHƯỚC TÂM dịch
(Nguồn: Tinh Vân (2008), Phật giáo và thế tục, NXB.Từ Thư Thượng Hải, tr.118-122
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Bát Chánh Đạo: 1.Chánh kiến.

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 2 30 Tháng 3, 2015 12:49 pm

Bài 7

Phật giáo & giáo dục mầm non

NSGN - Đức Phật dạy trong các pháp cúng dường Phật, việc giáo dục thế hệ kế tiếp nối tiếp mạng mạch Phật pháp là điều quý nhất. Ý này được kinh Duy Ma triển khai, diễn tả là mồi đèn để Phật pháp được tỏa sáng khắp mọi nơi, giúp cho nhiều người xây dựng được đời sống bình an và hạnh phúc. Và đó cũng chính là nền tảng cho việc giữ gìn Chánh pháp tồn tại vững bền và dài lâu trên nhân gian bằng con đường giáo dục.


Hình ảnh
Ảnh: Trần Thế Phong

Như chúng ta đều biết giáo dục thanh thiếu niên nói chung và trẻ em mầm non nói riêng theo phương hướng sống tốt đẹp là điều vô cùng cần thiết chẳng những cho việc xây dựng gia đình hạnh phúc, mà còn đóng góp vào sự an bình và phát triển của xã hội.

Đặc biệt là các cháu ở lớp mầm non, tâm hồn ngây thơ trong sáng của các cháu ví như tờ giấy trắng rất dễ in đậm lên đó những đức tính cao quý và việc làm lợi ích để trong tương lai đó sẽ là hành trang quý báu cho những bước chân vững chãi vào đời góp phần làm tốt đời đẹp đạo.

Vì vậy, từ thuở các cháu chập chững vào Mẫu giáo, bắt đầu tiếp xúc với nếp sống tập thể cùng các bạn, cần được gieo trồng vào tâm trí các cháu những lời nói dễ thương, những suy nghĩ đúng đắn và việc làm lợi ích cho các cháu, cho gia đình và cho cộng đồng theo tinh thần Phật giáo. Đó chính là những hạt nhân thật sự tốt đẹp mà Phật giáo chúng ta vun xới và tưới tẩm để đào tạo những người chủ tương lai của đất nước, những người chủ sáng suốt, biết việc nên làm, biết hòa hợp với mọi người, biết sống vì người khác, vì cộng đồng xã hội.

Về việc giảng dạy Phật pháp cho giới cư sĩ, hiện nay chúng ta đã có rất nhiều đạo tràng triển khai giáo pháp, nhưng phần lớn các đạo tràng dành cho Phật tử lớn tuổi tu học. Cũng có một số ít đạo tràng được tổ chức cho sinh viên, học sinh đã phần nào xây dựng được cho các em lối sống đạo đức, hiểu biết và quan tâm đến việc giúp đỡ những người kém may mắn.

Riêng việc dạy Phật pháp cho trẻ em mẫu giáo đã được chư Ni thực hiện tại một số tỉnh thành trong nhiều năm qua. Thực tế cho thấy một số trường mầm non của Phật giáo đang âm thầm nuôi dạy con em các gia đình khó khăn, con em dân tộc vùng sâu vùng xa…

Giáo dục trẻ ở lứa tuổi mầm non với tinh thần phục vụ xã hội, vì cộng đồng, vì tương lai của trẻ em, việc nuôi dạy trẻ thơ của quý Ni sư đã mang lại nhiều kết quả tốt đẹp, rất đáng trân trọng. Tuy nhiên, vì nhiều lý do, những trường mẫu giáo mầm non của Phật giáo còn rất ít và chỉ mang tính cách đơn lẻ.
Đứng trước yêu cầu bức thiết của công tác giáo dục trẻ mầm non một cách quy củ, Học viện Phật giáo Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh nối kết với Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh mở lớp Đào tạo Sư phạm Mầm non hệ vừa học vừa làm niên khóa 2014-2018 dành cho chư Ni và nữ Phật tử.


Chư tôn đức Hội đồng Điều hành Học viện và Phân ban Ni giới đã thống nhất về việc ủng hộ học phí cho chư Ni theo học lớp này. Phân ban Ni giới Trung ương và Ni giới các tỉnh thành sẽ hỗ trợ 50%; Hội đồng Điều hành Học viện hỗ trợ 25%. Còn lại 25% học viên tự đóng.

Hiện nay, với chính sách xã hội hóa giáo dục, Nhà nước đã có chủ trương khuyến khích tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng mở cơ sở giáo dục mầm non để cùng gánh vác trách nhiệm với xã hội và cũng để đáp ứng nhu cầu học tập của con em Phật tử. Cũng như với sự tổ chức đào tạo của Học viện và sự quan tâm hỗ trợ học phí dành cho chư Ni theo học lớp Đào tạo Sư phạm Mầm non. Những điều thuận lợi này đã mở ra cho chư Ni và nữ Phật tử cơ hội dấn thân trên con đường thực hiện hạnh Bồ-tát, một hạnh cao quý và cần thiết để hàng đệ tử Phật tiến đến quả vị Toàn giác.


Thiết nghĩ chư Ni và nữ Phật tử với tâm tính vốn có của người nữ là dịu dàng, hiền hòa, kiên nhẫn sẽ dễ dàng thích hợp với việc dạy dỗ trẻ thơ và tác động tốt đẹp đến tâm hồn cởi mở, trong trắng của các cháu theo tinh thần Phật pháp.

Chúng tôi tin tưởng rằng nền giáo dục Phật giáo dành cho lớp mầm non do Học viện Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh tổ chức sẽ giúp các bé trẻ thơ phát triển trí sáng suốt, lòng từ bi và những yếu tố cần thiết để mai sau trưởng thành trên vạn nẻo đường đời, các cháu luôn có được cuộc sống an vui, xây dựng được gia đình hạnh phúc và góp phần cho cộng đồng xã hội phát triển, hòa hợp và yên bình.

HT. Thích Trí Quảng
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Bát Chánh Đạo: 1.Chánh kiến.

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 5 23 Tháng 4, 2015 3:05 pm

Bài 8

Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Bát Chánh Đạo: 1.Chánh kiến.

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 2 27 Tháng 4, 2015 5:19 pm

Bài 9
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland


Quay về Thiền Nguyên Thủy

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến1 khách

cron