Diễn đàn Tu viện Phật giáo Việt nam


Quán pháp niệm xứ

Chuyên đề tham khảo Thiền Nam Tông

Các điều hành viên: Sen Hong, Bất Nhị

Quán pháp niệm xứ

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 3 04 Tháng 6, 2013 3:25 pm

4) Quán pháp niệm xứ (dhammānupassanā satipaṭṭhāna):

Hành giả sống quán pháp trên các pháp (dhammesu dhammānupassī viharati), tinh cần (ātāpī), chánh niệm (satimā), tỉnh giác (sampajāno), chế ngự tham ưu ở đời (loke abhijjhā domanassaṃ):

4.1) Năm triền cái (nīvaraṇa):

“… Nội tâm có tham dục (kāmacchanda), tuệ tri:
“Nội tâm có tham dục”; hay nội tâm không có tham dục, tuệ tri:
“Nội tâm không có tham dục”. Và với tham dục chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy.

Và với tham dục đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy. Và với tham dục đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy”.


Cũng vậy, đối với sân hận (vyāpāda), hôn trầm thụy miên (thīna-middha), trạo hối (uddhacca-kukkacca) và nghi hoặc (vicikicchā).

Một hành giả có tâm vi tế, có trí tuệ sắc bén, có thể dễ dàng phát hiện sự sinh khởi và sự đoạn diệt của những pháp che lấp nội tâm.

Như chúng ta đã biết, triền cái là năm pháp trói buộc và che lấp, khiến nội tâm không được an tịnh (định) và trong sáng (tuệ).

Vì vậy, trong thiền định, hành giả cố gắng chế ngự năm triền cái ở mức độ thô bằng năm thiền chi, nhưng trong thiền tuệ hành giả chỉ cần sáng suốt thấy biết thực tánh sinh diệt của năm triền cái dù ở mức độ vi tế như thế nào.

Khi trí tuệ chánh niệm tỉnh giác hoàn toàn trong sáng thì năm triền cái cũng hoàn toàn đoạn diệt, tương lai không còn sanh khởi được nữa.

Tuy nhiên, chúng ta lưu ý là không nên dùng chánh niệm tỉnh giác để cố gắng trừ diệt năm triền cái, mà chỉ soi chiếu một cách khách quan và chứng kiến sự sinh khởi, sự đoạn diệt trong thực tánh tự nhiên của chúng mà thôi.

Cố gắng đối kháng hay buông xuôi theo triền cái là thái độ tham ưu phát xuất từ một cái ta tà kiến hoặc ngã mạn, chỉ làm cho triền cái phức tạp thêm.

***************************************************
Thiền Phật giáo Nguyên thuỷ và Phật giáo Phát triển
Tổ Đình Bửu Long, ngày 30 – 11 – 2007 Tỳ Kheo Viên Minh
Hình ảnh
Hình minh họa

*******************************
Biên tập lại ngày 04-6-2013 Quảng Hòa
*******************************
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Quán pháp niệm xứ

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 4 05 Tháng 6, 2013 3:27 pm

4) Quán pháp niệm xứ (dhammānupassanā satipaṭṭhāna):

Hành giả sống quán pháp trên các pháp (dhammesu dhammānupassī viharati), tinh cần (ātāpī), chánh niệm (satimā), tỉnh giác (sampajāno), chế ngự tham ưu ở đời (loke abhijjhā domanassaṃ):

4.1) Năm triền cái (nīvaraṇa):

4.2) Năm thủ uẩn(upadāna khandhā):

“… Đây là sắc, đây là sắc sanh, đây là sắc diệt. Đây là thọ, đây là thọ sanh, đây là thọ diệt. Đây là tưởng, đây là tưởng sanh, đây là tưởng diệt. Đây là hành, đây là hành sanh, đây là hành diệt. Đây là thức sinh, đây là thức sanh, đây là thức diệt”.

Chúng ta có thói quen cố hữu là thường nuôi ảo giác về một cái tôi luôn đồng nhất, liên tục trong mọi hoạt động: Tôi đi đứng, tôi uống ăn, tôi suy nghĩ, tôi đau đớn, tôi buồn phiền, tôi hạnh phúc v.v. nghĩa là dù mọi thứ thay đổi thì cái tôi vẫn không thay đổi.

Ảo giác này đưa đến chấp thủ quan niệm có một cái tôi thường hằng bất biến. Đó chính là thường kiến, một tà kiến nguy hiểm nhất trong 62 tà kiến mà kinh Brahmajāla đã nói đến.

Chính tà kiến này đã gây biết bao khổ đau, phiền lụy cho chúng sinh trong kiếp sống luân hồi sinh tử.

An lạc, giải thoát thật sự rốt ráo không có bất kỳ ở đâu khi chưa chấm dứt hoàn toàn ảo tưởng tà kiến này.

Cách duy nhất để chấm dứt ảo tưởng tà kiến này là quan sát trung thực hoạt động của cái gọi là tôi với chánh niệm tỉnh giác.

Trong khi quan sát, hành giả chắc chắn sẽ thấy rõ (tuệ tri) sự kiện tương sinh và đồng sinh của những chuỗi hoạt động tâm - sinh - vật lý gồm năm yếu tố : sinh vật lý, cảm giác, tri giác, phản ứng và thu thập kinh nghiệm, chúng luôn luôn sinh diệt và biến đổi không ngừng, trong đó không tìm đâu ra cái tôi mà ảo tưởng đã dựng lên trong quá trình tư tưởng của con người.

***************************************************
Thiền Phật giáo Nguyên thuỷ và Phật giáo Phát triển
Tổ Đình Bửu Long, ngày 30 – 11 – 2007 Tỳ Kheo Viên Minh
Hình ảnh
Hình minh họa

*******************************
Biên tập lại ngày 05-6-2013 Quảng Hòa
*******************************
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Quán pháp niệm xứ

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 4 05 Tháng 6, 2013 3:33 pm

4) Quán pháp niệm xứ (dhammānupassanā satipaṭṭhāna):

Hành giả sống quán pháp trên các pháp (dhammesu dhammānupassī viharati), tinh cần (ātāpī), chánh niệm (satimā), tỉnh giác (sampajāno), chế ngự tham ưu ở đời (loke abhijjhā domanassaṃ):

4.1) Năm triền cái (nīvaraṇa):

4.2) Năm thủ uẩn(upadāna khandhā):

4.3) Mười hai xứ(āyatana):

“…Vị Tỷ kheo tuệ tri con mắt và tuệ tri các sắc, do duyên hai pháp này, kiết sử sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết sử chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết sử đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết sử đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy”.

Cũng vậy đối với những căn trần còn lại: Tai – thanh, mũi – mùi, lưỡi – vị, thân – xúc , ý – pháp.
Khi hành giả đã thấm nhuần trong pháp hành vipassanā, vị ấy có thể sống hoàn toàn tỉnh thức với chánh niệm tỉnh giác giữa những tiếp xúc căn trần một cách tự nhiên, vị ấy thấy rõ giữa duyên căn và trần nào có loại kiết sử nào đang sanh, đang diệt hay đã đoạn diệt hoàn toàn.

Ví dụ như khi mắt duyên với sắc nếu có ý niệm “ta thấy” khởi lên, vị ấy biết rõ thân kiến đang hiện hữu.
Khi ý niệm ta biến mất trong cái thấy, vị ấy biết rõ thân kiến sanh nay đã diệt. Khi thân kiến đã hoàn toàn sạch bóng trong tâm, vị ấy biết rõ thân kiến không thể sanh khởi lại nữa.

Cũng vậy, đối với hoài nghi, giới cấm thủ, dục ái, sân hận, sắc ái, vô sắc ái, ngã mạn, trạo cử, vô minh sanh khởi hoặc đoạn diệt khi có sự tiếp xúc giữa các căn và trần, vị ấy hoàn toàn biết rõ như vậy với trí tuệ.

***************************************************
Thiền Phật giáo Nguyên thuỷ và Phật giáo Phát triển
Tổ Đình Bửu Long, ngày 30 – 11 – 2007 Tỳ Kheo Viên Minh
Hình ảnh
Hình minh họa

*******************************
Biên tập lại ngày 05-6-2013 Quảng Hòa
*******************************
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Quán pháp niệm xứ

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 5 06 Tháng 6, 2013 6:45 pm

4) Quán pháp niệm xứ (dhammānupassanā satipaṭṭhāna):

Hành giả sống quán pháp trên các pháp (dhammesu dhammānupassī viharati), tinh cần (ātāpī), chánh niệm (satimā), tỉnh giác (sampajāno), chế ngự tham ưu ở đời (loke abhijjhā domanassaṃ):

4.1) Năm triền cái (nīvaraṇa):

4.2) Năm thủ uẩn(upadāna khandhā):

4.3) Mười hai xứ(āyatana):

4.4) Thất giác chi(bojjhaṅga):

“… Nội tâm có niệm giác chi, tuệ tri: “Nội tâm có niệm giác chi”, hay nội tâm không có niệm giác chi , tuệ tri: “Nội tâm không có niệm giác chi ”. Và với niệm giác chi chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy. Và với niệm giác chi đã sanh nay được tu tập viên thành, vị ấy tuệ tri như vậy”.

Cũng vậy đối với trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, định xả giác chi...

Bình thường hành giả có trí tuệ bén nhạy có thể quan sát thấy những yếu tố giác ngộ đang hiện diện trong tâm, nhưng phải có chủ ý tìm kiếm một cách thiếu tự nhiên.

Cho nên khi các giác chi còn mờ nhạt chưa nên gắng gượng hành đề mục này như vậy.

Đối với hành giả đã thuần thục trong niệm thân, niệm thọ, niệm tâm hoặc niệm pháp với các đối tượng trước, đến đây các giác chi hiện lên rất rõ ràng trong tâm, vị ấy chỉ chứng kiến một cách tự nhiên, trong sáng.

***************************************************
Thiền Phật giáo Nguyên thuỷ và Phật giáo Phát triển
Tổ Đình Bửu Long, ngày 30 – 11 – 2007 Tỳ Kheo Viên Minh
Hình ảnh
Hình minh họa

*******************************
Biên tập lại ngày 05-6-2013 Quảng Hòa
*******************************
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Quán pháp niệm xứ

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 5 06 Tháng 6, 2013 6:51 pm

4) Quán pháp niệm xứ (dhammānupassanā satipaṭṭhāna):

Hành giả sống quán pháp trên các pháp (dhammesu dhammānupassī viharati), tinh cần (ātāpī), chánh niệm (satimā), tỉnh giác (sampajāno), chế ngự tham ưu ở đời (loke abhijjhā domanassaṃ):

4.1) Năm triền cái (nīvaraṇa):

4.2) Năm thủ uẩn(upadāna khandhā):

4.3) Mười hai xứ(āyatana):

4.4) Thất giác chi(bojjhaṅga):

4.5) Tứ Thánh đế (Ariya sacca):

“Này các tỷ kheo, thế nào là vị tỷ kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Bốn Sự Thật?”

“Này các tỷ kheo, vị tỷ kheo như thật tuệ tri: “Đây là khổ”, như thật tuệ tri: “Đây là khổ tập”, như thật tuệ tri: “Đây là khổ diệt”, như thật tuệ tri: “Đây là con đường đi đến khổ diệt”.

“Như vậy vị ấy sống quán pháp trên các nội pháp hay sống quán pháp trên các ngoại pháp, hay sống quán pháp trên các nội pháp ngoại pháp, hay sống quán tánh sanh khởi (samudaya dhamma) trên các pháp, hay sống quán tánh diệt tận (vaya dhamma) trên các pháp, hay sống quán tánh sanh diệt (samudaya vaya dhamma) trên các pháp.

“Pháp
đang là” vị ấy an trú niệm như vậy cho đến mức xứng trí (ñāṇa mattāya), khế niệm (paṭissati mattāya). Và vị ấy sống không nương tựa (anissito), không chấp trước (na upādayati) điều gì trên đời”


Trên phương diện pháp học, chúng ta có thể hiểu được giáo lý Bốn Sự Thật Vi Diệu trong kinh Chuyển Pháp Luân tương đối dễ dàng, nhưng trên phương diện pháp hành rốt ráo thì không dễ thấy được chân lý này khi tuệ giác chưa đủ chín mùi, vì đây là chặng cuối cùng của hành trình giác ngộ: Thánh Đạo Tuệ.

Đôi lúc chúng ta cũng có thể thâm nghiệm cảm giác khổ hoặc sự sanh, sự diệt của khổ nhưng đó là khổ thọ đơn thuần trong pháp hành niệm thọ.

Cũng vậy, thỉnh thoảng chúng ta thấy nguyên nhân của khổ là tham, sân chẳng hạn, nhưng đó là một trạng thái tâm sinh diệt đơn thuần trong pháp hành niệm tâm, hoặc có khi thấy chánh niệm khởi lên, có khi thấy hôn trầm biến mất, đó là niệm pháp.

Chúng ta có thể tuệ tri những đối tượng thực tánh này một cách cục bộ, từng mảng riêng biệt, nhưng đó chưa phải là tuệ tri Tứ Thánh Đế.

Tứ Thánh Đế xuất hiện trọn vẹn trong một mối quan hệ nhân quả gần như đồng thời và xuyên suốt trước Thánh Đạo Tuệ.

Vậy thì đoạn này vừa là pháp hành vừa là kết quả của pháp hành (pháp thành) trong thiền tuệ Vipassanā.

***************************************************
Thiền Phật giáo Nguyên thuỷ và Phật giáo Phát triển
Tổ Đình Bửu Long, ngày 30 – 11 – 2007 Tỳ Kheo Viên Minh
Hình ảnh
Hình minh họa

*******************************
Biên tập lại ngày 06-6-2013 Quảng Hòa
*******************************
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Quán pháp niệm xứ

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 5 13 Tháng 6, 2013 12:38 pm

4) Quán pháp niệm xứ (dhammānupassanā satipaṭṭhāna):

Hành giả sống quán pháp trên các pháp (dhammesu dhammānupassī viharati), tinh cần (ātāpī), chánh niệm (satimā), tỉnh giác (sampajāno), chế ngự tham ưu ở đời (loke abhijjhā domanassaṃ):

4.1) Năm triền cái (nīvaraṇa):

4.2) Năm thủ uẩn(upadāna khandhā):

4.3) Mười hai xứ(āyatana):

4.4) Thất giác chi(bojjhaṅga):

4.5) Tứ Thánh đế (Ariya sacca):

II.5) TÁNH CỦA HÀNH GIẢ VỚI CÁC NIỆM XỨ:

Có hai khuynh hướng che lấp khiến hành giả không thấy được thực tánh của thân-thọ-tâm-pháp, đó là tánh tham ái tánh tà kiến.

Hành giả thiền Vipassanā chủ yếu là phải khám phá, phát hiện và thấy rõ trong hai khuynh hướng trên mình có tánh tham ái hay tà kiến mạnh hơn.

Tánh tham ái thường che lấp thực tánh của đối tượng thân thọ.
T
ánh tà kiến khiến hành giả không thấy thực tánh của đối tượng tâm pháp, nếu hành giả biết mình có khuynh hướng nào sẽ chọn đối tượng đúng với cá tánh của mình và kết quả quán chiếu sẽ dễ dàng hơn.

1) Hành giả tánh tham ái có trí tuệ yếu nên hành thân niệm xứ để dễ trừ tham ái do thấy tánh bất tịnh của thân.
Người có tánh tham ái mà trí tuệ lại kém thì thường tham đắm trong ngũ dục như sắc đẹp, vị ngon… và nhất là đối với thân dục, nếu không vừa ý thì liền sinh sân hận (sân hận là mặt trái của lòng tham ái), vì vậy thân niệm xứ là đối tượng phù hợp để nâng cao trí tuệ yếu kém, nhờ đó thấy rõ bản chất thật của xác thân ô trược để dứt trừ lòng tham ái trong ngũ trần.

2) Hành giả tánh tham ái có trí tuệ mạnh nên hành thọ niệm xứ để dễ trừ tham ái do thấy thực tánh khổ của thọ.
Thọ hay cảm giác là đối tượng vi tế đối với một lòng tham ái cao, vì vậy cần một trí tuệ sâu sắc hơn mới có thể thấy được.
Ví dụ một người ghiền ma túy đã đẩy lòng tham ái của mình lên cao cùng với sự dính mắc vào những cảm giác giác quan (thọ).
Nếu người đó có trí thì nên lấy chính cảm giác ấy làm đối tượng để chú tâm quan sát. Khi lắng nghe trung thực cảm giác đang hiện khởi người đó sẽ thấy ra bản chất thật của cảm thọ và nhờ đó lòng tham ái được hóa giải.
Nhiều trại cai ma túy trên thế giới đã ứng dụng thành công phương án này.

3) Hành giả tánh tà kiến có trí tuệ yếu nên hành tâm niệm xứ để dễ trừ tà kiến do thấy tánh vô thường của tâm.

Tâm là một đề tài gây nhiều tranh luận trong các lãnh vực đạo học, thần học, triết học, tâm lý học, phân tâm học, siêu hình học v.v. với nhiều tên gọi khác nhau, như linh hồn, tiểu ngã, đại ngã, thức tánh v.v. và nhiều luận thuyết mâu thuẩn nhau mà phần lớn là những lý luận dựa trên giả thuyết hơn là thực kiện, như chủ trương tâm là thực thể thường hằng (thường kiến), là sản phẩm của vật chất (đoạn kiến), tâm sinh ra vạn pháp (duy tâm), tất cả đều do tâm biến hiện (duy thức), linh hồn là tiểu ngã, vũ trụ tâm là đại ngã v.v.

Vì vậy, có không ít những luận thuyết chủ quan, sai lầm mà Phật giáo gọi là tà kiến.

Người đã tà kiến lại có trí tuệ yếu thì nên lấy tâm làm đối tượng quán chiếu. Khi quan sát kỹ với chánh niệm tỉnh giác hành giả sẽ thấy ra qui luật vận hành của tâm, thấy nhân và duyên sinh diệt của nó, thấy đúng tánh, tướng, thể, dụng… của nó thì chắc chắn khi trí tuệ đầy đủ sẽ loại trừ được những tà kiến sai lầm.

4) Hành giả tánh tà kiến có trí tuệ mạnh nên hành pháp niệm xứ để dễ trừ tà kiến do thấy tánh vô ngã của pháp. Pháp là những thực kiện được phát hiện qua chánh niệm tỉnh giác trong sự vận hành của thân tâm hay sự tương giao giữa căn trần.

Bình thường ít ai phát hiện được điều này, họ chỉ quan niệm theo thói quen rằng thân tâm và thế giới là ta hay của ta. Đây chính là tà kiến cốt lõi nhất trong những tà kiến của con người về ngã và pháp. Người có trí chỉ cần quan sát sự tương giao vận hành của thân-tâm-cảnh thì sẽ không còn ngã kiến nữa.
***************************************************
Thiền Phật giáo Nguyên thuỷ và Phật giáo Phát triển
Tổ Đình Bửu Long, ngày 30 – 11 – 2007 Tỳ Kheo Viên Minh
Hình ảnh
Hình minh họa

*******************************
Biên tập lại ngày 13-6-2013 Quảng Hòa
*******************************
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland


Quay về Thiền Nguyên Thủy

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến1 khách

cron