Diễn đàn Tu viện Phật giáo Việt nam


Những kỷ niệm buồn vui (Phần 3) (Thích Huyền Diệu)

Bồ Tát Hạnh

Các điều hành viên: Sen Hong, Bất Nhị, TUỆ LÂM

Những kỷ niệm buồn vui (Phần 3) (Thích Huyền Diệu)

Gửi bàigửi bởi gioidinhhue » Thứ 4 19 Tháng 1, 2011 9:57 am

(Kỳ 3)

Ở hiền gặp lành

Kinh nghiệm bản thân của tôi là ở đời muốn làm chuyện phước đức quả thật rất khó khăn, mà làm việc tội lỗi thì dễ hơn nhiều. Riêng tôi chỉ mới có niềm mơ ước thôi mà đã gặp phải bao nhiêu thử thách.

Đầu tiên tôi đứng ra hình thành ban vận động thành lập ngôi chùa Việt Nam mà tôi là tổng thư ký. Cùng với một số bạn bè thân hữu, tôi bỏ ra bao nhiêu công sức mới vận động được vị thống đốc bang Bihar đồng ý bán cho hai mẫu đất với giá tượng trưng một đồng rupi vào năm 1974. Lúc bấy giờ chúng tôi là những người vô danh phải kiên trì lắm mới đạt được thành công này. Tuy nhiên người chủ tịch của ban vận động lại cất giữ giấy cấp đất mà không có động thái nào xúc tiến thêm. Theo điều kiện ghi trong quyết định giao đất, trong vòng 24 tháng người được cấp phải sử dụng, quá thời hạn đó chính quyền sẽ lấy lại để cấp cho người khác. Thế là sau hai năm án binh bất động, miếng đất đương nhiên bị nhà nước địa phương thu hồi. Đây là điều vô cùng đáng tiếc và tôi phải mất đến hơn mười năm nữa lao tâm khổ trí mới mua được khu đất khác để xây chùa. Từ sự việc này, tôi rút ra kinh nghiệm hễ mình có khả năng làm một việc gì, tốt hơn hết cứ âm thầm mà làm, nếu được thì khi nào làm xong mới nên nói.

Song song đó tôi vẫn tiếp tục hoàn tất chương trình đại học. Khi vừa tốt nghiệp tôi được bổ nhiệm làm trợ lý cho người thầy của mình tại Đại học Nantes là giáo sư Yves Durant, nhà quý tộc sinh trưởng trong một dòng họ lâu đời của nước Pháp. Thời kỳ này có một việc xảy ra mà hệ quả tác động nhiều đến công việc cũng như cuộc sống của tôi sau này.

Lần đó giáo sư Durant nhờ tôi đến trông nhà giúp trong thời gian vợ chồng ông đi nghỉ hè. Một ông Tây nhà giàu đã rắc rối huống chi thầy tôi thuộc dòng dõi vua chúa, cuộc sống lại càng phức tạp và kiểu cách hơn nhiều. Trước khi giao nhà, ông bà cẩn thận dặn dò tôi đủ điều, trong đó việc quan trọng nhất là để mắt đến đàn chó cưng.

Tôi được sắp xếp ở trong một căn phòng riêng đầy đủ tiện nghi. Hàng ngày tôi trông coi mọi việc trong tòa nhà một cách chu đáo, siêng năng tưới vườn hoa, chiều chiều lại dẫn đàn chó đi bách bộ.

Một hôm nhân rảnh rỗi, tôi đi thơ thẩn trong sân, khi đến chỗ nhà để xe ở kế bên chuồng ngựa, thấy nơi này không được sạch sẽ, tôi nảy ý dọn dẹp và bỏ ra mấy ngày để quét dọn lau chùi. Tôi mang đôi bốt cao cổ và gắn vòi xịt nước bằng máy để tẩy uế những chỗ rơi rớt phân ngựa. Bỗng nhiên tôi nhìn thấy trong góc nhà xe có một vật gì lóe sáng. Tôi nhặt lên, đem rửa sạch, thấy nó lấp lánh thật đẹp.

Lần đầu tiên trong đời cầm trên tay một viên đá óng ánh, tôi chẳng phân biệt được đây là cục đá loại gì. Ngày hôm đó tôi đi ngay xuống vùng Deauville. Nơi đây có các sòng bạc và trường đua ngựa danh tiếng, thu hút nhiều khách du lịch giàu tiền lắm bạc, đặc biệt là các triệu phú người Ả Rập. Tôi đến khu vực chợ trời của dân chuyên mua bán đồ trang sức và đưa chiếc nhẫn ra nhờ định giá. Chủ cửa hàng đo đạc, săm soi một hồi rồi cho biết đó là hột xoàn loại tốt nhất và đưa ra một cái giá cao ngất, tương đương với 50.000 đô la Mỹ, khiến tôi sững sờ.

Tôi hoang mang lấy lại viên đá bỏ túi rồi vội vã quay đi. Việc đầu tiên tôi đi mua ngay mấy cây kim tây, bỏ viên hột xoàn vào túi trong rồi cẩn thận gài chặt lại. Chưa an tâm, lâu lâu tôi lại đưa tay sờ túi xem viên kim cương còn nằm yên ở đó hay không. Rõ ràng, lợi đâu chưa thấy mà tự nhiên lại rước mối lo vào người.

Đầu óc tôi rối bời, nghĩ rằng có lẽ mình nghèo quá nhưng có nhiều lòng từ bi, nhiều tánh tốt, nhờ ơn đức cha mẹ, thầy tổ… nên Phật Trời thương mà ban lộc. Số tiền bán viên kim cương là cả một gia tài lúc bấy giờ, đủ để mua một căn nhà ba bốn phòng ngủ tại kinh đô ánh sáng. Về đến nhà, lòng tôi cảm thấy lâng lâng, tự nhủ có lẽ nhờ mình theo học một bậc chân sư nên bây giờ được hưởng phước. Nhưng lúc đó những lời Thầy dạy bỗng văng vẳng bên tai làm tắt niềm hứng khởi. Rồi tôi lại tự bào chữa, rõ ràng mình không ăn cắp mà chẳng qua nhờ có ý tốt, tự nguyện lau dọn nhà cửa nên mới tình cờ nhặt được của rơi.

Suốt một tháng sau đó tôi cứ bị dằn vặt bởi ý nghĩ không biết nên trả hay giữ? Nghĩ đến việc trả thấy cũng tiếc vì trong đời dễ gì có được một số tiền lớn như thế. Còn đang phân vân lưỡng lự, tôi tiếp tục đi đến cửa hiệu kim hoàn tại quảng trường Place Vendôme nổi tiếng thanh lịch, nơi những tay triệu phú và các ông vua dầu hỏa thường lui tới tìm mua nữ trang cho các mệnh phụ phu nhân. Nơi này xác nhận đây là viên kim cương đắt giá và nhìn tôi với vẻ nghi ngờ khiến tôi phải vội vã bỏ đi ngay.

Tôi bèn hỏi ý kiến vài người bạn thân thiết, ai cũng bàn cứ giữ khiến tôi yên tâm nghĩ rằng việc mình làm không có gì sai quấy. Bạn bè đồn đại với nhau rồi tò mò kéo tới yêu cầu tôi cho xem viên kim cương khiến tôi bắt đầu hốt hoảng, e ngại viên ngọc quý này không khéo lại hại đến thân. Vì vậy tôi không lưu lại lâu đài nữa mà ra mướn khách sạn bên ngoài để đừng ai biết chỗ ở của mình.

Khoảng một tuần lễ sau vợ chồng vị giáo sư trở về. Nghe nói tôi đang ở tại khách sạn, ông thầy cười nói đùa dạo này tôi tiền bạc rủng rỉnh lắm hay sao mà lại ra ở bên ngoài cho thêm tốn kém. Sự sang trọng, tiện nghi của khách sạn lại chẳng thể hơn tòa lâu đài của ông bà.

Hôm đó tôi chờ cho ông bà ăn uống xong rồi mới lấy chiếc hộp bên trong có chiếc nhẫn kim cương đặt lên bàn. Bà vợ ngạc nhiên mở hộp, thoạt nhìn thấy chiếc nhẫn, bà tỏ vẻ rất sửng sốt rồi sau đó ôm chầm lấy tôi khóc nức nở. Thì ra đây là chiếc nhẫn gia bảo từ thời các vua Louis truyền lại trong dòng họ và cũng chính là chiếc nhẫn mà ông giáo sư đã trao cho vợ trong ngày cưới. Sau đó chiếc nhẫn đột nhiên biến mất hồi nào không biết. Gia đình ông hầu như xáo tung cả ngôi nhà nhưng vẫn không tìm ra. Cả hai ông bà đều vô cùng buồn rầu, không chỉ vì giá trị vật chất mà quan trọng hơn, đây là một kỷ niệm của dòng họ và là vật gia bảo truyền qua nhiều đời. Chẳng biết vì lý do gì mà chiếc nhẫn lại nằm bên đống phân ngựa một cách bí ẩn như thế.

Kể từ ngày đó, mối quan hệ giữa thầy trò tôi thay đổi một cách đáng kể. Ông bà giáo sư coi tôi như một thành viên trong gia đình, thậm chí ông còn quyết định ghi tên tôi thừa hưởng một phần gia tài ngang bằng với ba người con của ông bà trong di chúc.

Các con của giáo sư xưa nay vẫn tỏ ra quý mến tôi, nhưng kể từ lúc ấy thì nảy sinh vấn đề và thái độ của họ bắt đầu thay đổi. Tôi nhìn thấy rất rõ điều này nên cương quyết từ chối. Nhưng giáo sư không đổi ý. Thế là tôi bèn mời các con của ông cùng đến văn phòng luật sư, tôi ký giấy khước từ tất cả quyền lợi của mình được hưởng trong di chúc, nhường lại cho họ toàn quyền sử dụng. Các con của ông bà tỏ vẻ rất ngạc nhiên. Tôi giải thích với họ rằng chẳng qua ông bà giáo sư có lòng quý mến nên làm như vậy, nhưng riêng tôi không bao giờ muốn nhận chỗ tài sản ấy.

Thời gian sau cả hai ông bà giáo sư đều tình nguyện nhờ tôi hướng dẫn học Phật pháp. Vậy là về kiến thức đời thường, tôi là học trò của ông nhưng về mặt tâm linh ông lại là học trò của tôi. Trong nhiều năm tiếp theo, giáo sư Durant chính là người hỗ trợ tích cực nhất trong việc xây dựng ngôi chùa Việt Nam tại Ấn Độ.

Trong công việc thì tất cả những vị trí, việc làm của tôi đều nhờ có sự can thiệp nhiệt tình của Thầy mà được thuận buồm xuôi gió.

Ngoài những sự giúp đỡ lớn lao ấy, Thầy còn nài nỉ cho chùa mượn tiền nhiều lần. Nhưng tôi luôn từ chối, sợ chẳng may có điều gì rủi ro xảy đến cho mình thì không trả được nợ. Sau đó vì ông bà làm mặt giận nên có lần tôi đành phải hỏi mượn cho họ vui lòng rồi đem về cất kỹ. Nửa năm sau tôi mang toàn bộ số tiền đem trả lại. Không ngờ trước khi đưa tiền, giáo sư đã cẩn thận ghi lại số xêri giấy bạc, thành ra tôi giấu đầu lòi đuôi. Ông bà khám phá ra rằng tôi mượn tiền chỉ để họ vui lòng.

Thầy Durant quan tâm công việc của chùa Việt Nam chẳng khác gì việc của bản thân. Không chỉ giúp cho Việt Nam Phật Quốc Tự ở Ấn Độ, ông còn nhiều lần trao đổi với các vị chức sắc cao cấp trong chính phủ Nepal để hỗ trợ cho tôi trong việc xây dựng chùa Việt Nam tại Nepal.

Một kỷ niệm vui là có lần ông điện thoại cho vị đại sứ Pháp ở Nepal, yêu cầu giúp đỡ tôi và ân cần giới thiệu tôi là thầy của ông. Thế là tòa đại sứ Pháp tại Nepal chuẩn bị tiếp đón long trọng người thầy của vị đại giáo sư quý tộc Durant mà họ tưởng tượng phải là một nhân vật đường bệ.

Hôm đó tôi từ ngôi chùa đang xây dựng đi thẳng tới tòa đại sứ với bộ đồ làm việc bụi bặm, quả thật trông không được tươm tất cho lắm. Đến nơi đã thấy viên bí thư thứ nhất của vị đại sứ túc trực chờ đón. Nhưng ông này không thèm để mắt đến anh chàng gầy gò, ốm yếu và rất tầm thường vì tưởng rằng tôi là một trong số những người đến đây chầu chực xin visa vào nước Pháp.

Lúc ấy đã quá giờ hẹn nên viên bí thư có vẻ bồn chồn đi tới lui. Tôi bèn tiến đến trước mặt ông và xưng danh. Việc này khiến ông ta bối rối. Ông cố gắng kiềm chế, không để lộ ra vì lịch sự và xin lỗi tôi rối rít.

Đến khi ông vào bên trong báo với viên đại sứ rồi trở ra mời tôi vào thì lại thêm một tình huống buồn cười khác. Đó là vị đại sứ khi thoáng nhìn thấy tôi đã quay qua hỏi cấp dưới của mình:

- Anh có lầm không? Tôi đang chờ tiếp vị giáo sư của Ngài Durant kia mà?

Ông ta tưởng rằng tôi không biết tiếng Pháp nên không cần hạ giọng khi nói câu này. Phần tôi không lấy làm ngạc nhiên vì đây là cảnh tôi thường xuyên gặp phải, chẳng qua do tôi ít chú trọng trau chuốt vẻ ngoài cho phù hợp.

Trở lại mối quan hệ giữa giáo sư Durant và tôi, qua sự việc này, tôi rút ra một kinh nghiệm quý báu. Rõ ràng nếu trước đây tôi giữ lại chiếc nhẫn kim cương để đổi lấy một căn nhà, chưa chắc nó còn tồn tại được đến ngày nay. Trong khi đó có thể nói toàn bộ các khoản tiền giáo sư đã giúp cho ngôi chùa Việt Nam sau này tính ra gấp mấy lần trị giá chiếc nhẫn kim cương trước đây.

Tóm lại nhờ luôn tâm niệm làm theo lời dạy của vị ân sư mà trong đời tôi đã thu lượm được nhiều kết quả tốt đẹp, tôi thường gọi đó là phép mầu, mà mọi người đều có thể có được.

Một kỷ niệm buồn

Tôi gặp gỡ chú Long ở Canada nhân một lần sang đó nói chuyện về việc tu tập Phật pháp. Chú đến gặp tôi với vẻ ngoài trông rất thảm hại, đầu tóc để dài, râu ria xồm xoàm chẳng buồn cạo và tâm sự rằng chỉ muốn tự tử. Nguyên do là vì cô vợ mà chú rất thương yêu đang nhất quyết đòi ly dị khiến chú rất đau khổ. Vốn là con nhà giàu và được cha mẹ nuông chiều từ nhỏ, khi lớn lên gặp phải cảnh khổ trong cuộc sống, chú không đủ nghị lực để vượt qua và luôn luôn có ý định tự tử.

Tôi khuyên chú không nên hủy hoại thân mình vì được sinh ra làm người đã là một phúc đức. Tuy nay gặp cảnh buồn phiền nhưng biết đâu về sau lại gặp được một người khác thương yêu mình và chú cũng thương người ấy thì sẽ tìm thấy hạnh phúc. Và tôi đề nghị chú qua đất Phật ở một thời gian cho khuây khỏa.

Chú bèn thu xếp đi ngay mặc dù xưa nay không có đức tin tôn giáo. Tôi cũng không bao giờ xem đó là vấn đề vướng mắc mà luôn tôn trọng tự do của người khác. Việt Nam Phật Quốc Tự lúc nào cũng mở rộng cửa đón mọi người đến trú ngụ, có điều kiện tới đâu thì lo cho tới đó trong khả năng của mình.

Chú Long sống kề cận với tôi đúng là hai thái cực. Tôi luôn lạc quan, vui vẻ, yêu đời, ngược lại chú lúc nào cũng rầu rĩ, bi quan, yếm thế. Ngày ngày chú đứng chống nạnh nghiêm khắc nhìn ngắm mọi thứ trong chùa, từ tượng Phật đến bản thân tôi, với ai chú cũng tỏ ra không có thiện cảm. Hiểu được tâm trạng của chú nên tôi kiên nhẫn chịu đựng. Trong công việc, chú rất siêng năng và tiếp tay phụ giúp chùa đắc lực, từ sửa chữa điện nước đến chu toàn mọi việc khác. Nhưng điều bất tiện nhất là tất cả mọi người đến chùa đều phải nghe chú tâm sự nỗi niềm riêng dài liên miên bất tận. Tôi nhắc nhở chú rất nhiều lần không nên làm như vậy, bởi vì chùa là nơi người ta đến để tìm sự an lạc, thanh thản. Chú cứ đem chuyện buồn ra kể lể hết giờ này đến giờ khác sẽ ảnh hưởng không hay đến tư tưởng mọi người. Đáng nói hơn cả là chú xem tất cả phụ nữ như kẻ thù, tôi khuyên giải thế nào chú cũng không để lọt tai. Đây là một trở ngại rất lớn cho chùa.

Một thời gian sau, chú dần dà tìm lại được sự yên tĩnh trong tâm hồn. Khi đó lại bắt đầu nảy sinh chuyện rắc rối khác, bởi vì hễ bất cứ ai đến làm công quả cho chùa đều bị chú gây khó khăn và tìm cách đẩy đi để giữ vị trí độc tôn của mình. Tính cách này gây bất mãn cho mọi người trong chùa khiến chú ngày càng bị cô lập. Cho đến một hôm chú quyết định rời chùa, nhưng trước khi ra đi chú để lại một dấu ấn dữ dội là chặt phá rất nhiều cây quý trong chùa. Điều này cho thấy tâm của chú chứa đầy thù hận.

Những trường hợp như vậy không phải là hiếm. Đã từng có nhiều người tìm đến với chùa trong tâm trạng đau buồn, trong lúc đang bị thất cơ lỡ vận, sa cơ thất thế. Cổng chùa luôn rộng mở đón tiếp. Thế nhưng khi đã yên nơi yên chỗ, họ lại tìm cách củng cố vị trí của mình để mong khuynh loát và chiếm giữ quyền hành. Tuy nhiên tôi vẫn tin tưởng cuối cùng mọi việc vẫn đâu ra đó, sự thanh tịnh của chùa không bao giờ bị phá vỡ vì một vài người không có tâm

Hết thẩy là khảo nghiệm,

Coi thử mình ra sao,

Ðối cảnh lầm không biết,

Phải luyện lại từ đầu.

Hòa Thượng Tuyên Hóa

http://www.dharmasite.net/
gioidinhhue
Cảm ơn, Thành viên Moderator (Xin thông báo BQT)
 
Bài viết: 953
Ngày tham gia: Thứ 5 03 Tháng 9, 2009 3:27 pm

Những kỷ niệm buồn vui (Phần 4)

Gửi bàigửi bởi gioidinhhue » Thứ 4 19 Tháng 1, 2011 10:07 am

(Kỳ 4)

Vài kỷ niệm vui

Nhưng không phải chỉ có những kỷ niệm buồn. Trong số những nhân vật đến rồi đi, tôi vẫn còn giữ kỷ niệm vui về ông Bảy, người đã trải qua hơn ba tháng gắn bó với Việt Nam Phật Quốc Tự trong thời kỳ chùa đang xây dựng. Vào năm 1996, tôi sang bang California của nước Mỹ tham dự một hội nghị về trao đổi văn hóa. Nhân dịp đó các Phật tử có mời tôi nói chuyện một buổi về Việt Nam Phật Quốc Tự tại Cali. Sau khi kết thúc, mọi người ùa đến vây quanh tôi xin chụp hình lưu niệm. Bỗng nhiên có một cụ già người Việt dáng vẻ quắc thước đến nhét một mảnh giấy vào tay tôi, nói một cách thành khẩn: “Thưa thầy, xin thầy đọc giùm con ngay”. Tôi lấy làm lạ nên khi mọi người mời vào bên trong ngồi uống nước, tôi bèn mở tờ giấy ra xem. Trong thư chỉ ghi một hàng chữ nguệch ngoạc: “Xin thầy vui lòng cho con gặp mặt để thưa một việc cần kíp, nếu không con chết”. Tôi kinh ngạc không hiểu nguyên do gì mà một người hoàn toàn xa lạ lại viết những lời căng thẳng như vậy. Nhìn thấy ông đang đứng gần đó với vẻ mặt băn khoăn chờ đợi, tôi vẫy ông đến gần và xin số điện thoại, hẹn sẽ gọi điện trao đổi sau.

Vừa về đến khách sạn, tôi gọi điện thoại cho ông ngay. Ông kể rằng ngay từ nhỏ đã ao ước đi tu nhưng chưa có duyên lành. Nay được nghe tôi kể chuyện xây dựng ngôi chùa trên đất Phật, ông rất xúc động và tha thiết xin theo về chùa để tu. Tôi khuyên ông phải bàn bạc với gia đình và thu xếp mọi việc thật yên ổn rồi mới ra đi, không nên nôn nóng vội vàng như thế. Ông bèn mời tôi tuần sau đến nhà chơi.

Thế là chỉ trong vòng một tuần lễ, ông quy tụ đầy đủ con cháu dâu rể ở rải rác khắp các bang trên đất Mỹ tập hợp tại nhà ông. Tôi đến nơi, được cả nhà đón tiếp một cách trịnh trọng, mời ngồi trên một cái ghế cao, còn mấy chục thành viên trong gia đình xúm xít xung quanh. Mọi người coi tôi như thượng khách và tỏ ra cung kính khiến tôi khá ngỡ ngàng. Ông bà có vẻ là người chân chất, ít chữ nghĩa, tuy nhiên họ dạy dỗ con cái rất tốt. Mặc dù tất cả đều đã trưởng thành, dâu rể có cả người nước ngoài nhưng đều tỏ ra rất hiếu đạo và tôn kính cha mẹ.

Sau khi trao đổi mấy câu chuyện xã giao, ông Bảy nghiêm trang đứng lên nói về ước nguyện muốn được đi tu. Tôi góp ý:

- Nếu ông Bảy muốn đi tu thì phải có sự đồng ý của bà Bảy và các con cháu trong gia đình.

Và tôi quay sang hỏi bà vợ:

- Ông Bảy muốn theo tôi sang đất Phật để tu hành, vậy bà có đồng ý hay không?

Bà nhỏ nhẹ trả lời:

- Thưa thầy con không phản đối nhưng xin được đi theo để lo cho ông.

Ông Bảy liền trợn mắt và lớn tiếng:

- Không được, bà cứ để tôi đi một mình, chừng nào đắc đạo, tôi trở về độ cho bà.

Bà Bảy thở dài và lặng lẽ lấy khăn lau nước mắt chứ không dám nói gì thêm. Khi ông quay sang hỏi ý kiến các con thì người nào cũng rụt rè tán đồng chứ không dám nói trái ý cha. Thấy vợ có vẻ buồn, ông quay sang cự nự:

- Tôi đã hy sinh suốt mấy chục năm nay lo cho gia đình, bây giờ bà phải trả tự do cho tôi muốn làm gì thì làm chứ.

Bà vợ rầu rĩ cúi mặt và lấy khăn lau nước mắt khiến tôi rất xúc động nên quay sang nói với ông Bảy:

- Thôi ông cũng nên thong thả, để tôi có thời gian sắp xếp mọi việc sẵn sàng rồi mời ông sang. Nếu quả ông có phước duyên thì thế nào cũng sẽ được toại nguyện. Dục tốc bất đạt.

Tôi đứng dậy từ giã cả gia đình, rồi đến an ủi bà Bảy:

- Bà cứ yên tâm, nếu không được phép của bà, tôi sẽ không dẫn ông đi đâu.

Sau khi hội nghị kết thúc, tôi trở về Ấn Độ. Không bao lâu sau, tôi liên tục nhận được điện tín và cả điện thoại của các con ông Bảy yêu cầu tôi trở qua Mỹ gấp để cứu cha họ. Tuy không hiểu ất giáp gì nhưng nghe nói có chuyện cần kíp liên quan đến tính mạng con người, tôi vội vã thu xếp công việc bay sang Mỹ. Qua đến nơi tôi mới rõ sự tình. Thì ra sau khi tôi về lại Ấn Độ, ông Bảy hết sức thất vọng và một mực dọa rằng nếu không được đi tu ông sẽ tự vẫn. Thế là từ đó hễ ông đi đâu làm gì cũng đều có người thân đi theo, kể cả khi ông vào nhà vệ sinh. Tình trạng căng thẳng kéo dài nên cả gia đình họp nhau lại bàn bạc và đành chấp thuận để ông sang Ấn Độ, sợ ông tự vẫn chết bất tử. Sau đó họ mới đánh điện và gửi vé máy bay mời tôi sang Mỹ để đón ông.

Công việc xây dựng chùa đang rối rắm trăm bề mà bỗng nhiên giờ đây tôi lại phải mang thêm một gánh nặng. Còn về phần ông Bảy, việc quá nôn nóng muốn đi tu cũng không phải là tốt. Thế nhưng tôi cũng không thể từ chối trước mong ước quá thiết tha của ông.

Khi biết ý nguyện của mình sắp được thực hiện, ông Bảy vui vẻ sung sướng như trẻ con được quà. Nhìn thấy tôi mặc chiếc áo kiểu Ấn Độ, ông bèn hỏi mượn để làm mẫu vì ông vốn là thợ may. Tôi cứ tưởng có lẽ ông muốn may tặng tôi vài bộ đồ để coi như ra mắt sư phụ, ai ngờ ông may đo cho chính ông. Rồi ông sục sạo tìm mua cả trăm cuốn sách kinh đóng thùng mang sang đất Phật. Ông yêu cầu các con phải mua vé máy bay hạng nhất cho cả hai thầy trò vì theo ông một lần đi tu là một lần khó! Thế nhưng tôi không đồng ý. Tôi luôn luôn đi vé máy bay loại thường cho đỡ tốn kém, chỉ khi nào các trường đại học mời hay những hội nghị quan trọng mà tiêu chuẩn dành cho đại biểu là vé máy bay hạng nhất thì tôi mới miễn cưỡng chấp nhận. Cuối cùng ông phải chiều theo ý tôi, đi loại vé thường.

Trước ngày lên đường, các con của ông đến gặp riêng tôi, dặn dò đủ thứ chẳng khác nào tôi là... con rể của ông. Thậm chí có người còn nhét vào túi xách tôi vài chai dầu gió và căn dặn:

- Con có đưa dầu cho ba con rồi nhưng thầy cũng giữ thêm vài chai, khi nào ba con xài hết thì đưa cho ông.

Người lại ân cần nhờ vả:

- Ba con thích ăn ngon, con xin gửi thầy ít tiền để khi nào ba con thèm món gì nhờ thầy mua giúp.

Tôi thật sự ngao ngán trước viễn cảnh phải lo phục vụ thêm một ông già trong khi bản thân mình công việc đang ngập đầu ngập cổ. Nhưng mặt khác cũng rất cảm kích trước lòng hiếu đạo của những người con. Tôi nghĩ thầm chắc kiếp trước mình còn mắc nợ ông nên giờ đây phải trả. Ngày lên đường, khi đã yên vị trên máy bay, ông Bảy tỏ ra vô cùng sung sướng và bắt đầu mở máy nói oang oang. Tôi nhắc nhở ông:

- Ông bình tĩnh lại, máy bay vẫn còn đang bay trên nước Mỹ chứ chưa đến đất Phật đâu.

Suốt mấy tiếng đồng hồ trên đường từ Mỹ sang Luân Đôn, ông nói chuyện không ngừng khiến tôi vô cùng mệt mỏi. Máy bay vừa đáp xuống phi trường Luân Đôn, ông hứng khởi thốt lên:

- Mô Phật! Mô Phật! Thưa thầy thế là con đã đến được đất Phật.

Tôi bật cười:

- Chưa đâu, chúng ta chỉ mới tới Ănglê thôi.

Máy bay dừng tại Luân Đôn để tiếp nhiên liệu rồi lại tiếp tục bay sang Ấn Độ. Ông Bảy khấp khởi vui mừng tưởng rằng chỉ một hai giờ đồng hồ nữa sẽ qua tới đất Phật, nhưng khi biết rằng phải mất đến hơn tám tiếng thì ông tỏ ra hết sức nôn nóng. Khi máy bay đáp xuống thủ đô New Delhi, ông Bảy mừng rỡ quay sang tôi:

- Mô Phật! Thưa thầy con sung sướng quá, bây giờ con đã được tới đất Phật, được theo gót ngài Huyền Trang, được theo thầy rồi!

Ngay khi vừa đặt chân xuống phi trường, ông vội quỳ xuống thành kính hôn lên mặt đất làm mấy ông Tây bà đầm lấy máy hình ra chụp ảnh lia lịa. Ra đến chỗ nhận hành lý, thấy ông già cả, tôi định xách va li giúp nhưng ông nhất định không chịu:

- Thầy để con xách. Thầy mà xách thì con mang tội chết.

Lúc ấy thời tiết bắt đầu vào hè nên ông bảo tôi:

- Thưa thầy trời nóng quá, con đề nghị thầy trò mình vào ở trong khách sạn năm sao.

- Không, không nên. Ở đó rất mắc, hơn cả trăm đô la một ngày.

- Mấy trăm cũng được, không sao đâu thầy.

Nhưng tôi nhất định không chịu nên cuối cùng ông phải chiều ý tôi, về ở tạm tại một ngôi chùa. Biết ông đã quen với tiện nghi nên tôi mua vé xe lửa toa có máy lạnh để đi từ New Delhi đến Bồ Đề Đạo Tràng, chứ thông thường tôi luôn luôn đi vé ngồi cho đỡ tốn kém. Suốt chặng đường ông lại tiếp tục thuyết pháp. Lúc đến Việt Nam Phật Quốc Tự, thấy cảnh vườn cây xanh, ông tỏ ra mừng rỡ vô cùng khiến tôi cũng vui lây:

- Thưa thầy, con từ Bắc vào Nam, từ Việt Nam sang Mỹ rồi đi khắp các nước mà chưa bao giờ thấy nơi nào đẹp và thơ mộng như cảnh chùa mình.

Bắt đầu từ đó ông giành làm hết mọi việc, đến nỗi khi tôi tụng kinh ông cũng bảo để ông tụng thay. Mỗi bữa ăn, ông nấu cơm rồi dọn cho tôi giống y như trong nhà hàng, bày đầy đủ bát đĩa và cả khăn ăn rất trịnh trọng. Đặc biệt không bao giờ ông chịu ngồi ăn chung với tôi.

Thông thường mỗi sáng tôi cúng Phật bằng nước lạnh, từ khi có ông thì hàng ngày ông pha trà để cúng Phật, chư Bồ Tát ở chánh điện và bàn thờ chư Tổ, chư liệt vị anh hùng ở phía sau chánh điện. Thái độ thành tâm của ông khiến tôi rất vui. Tôi lại nghĩ sau bao nhiêu năm cô độc, vất vả, có lẽ nay chư Phật chư Bồ Tát thương tình ban cho người đệ tử già bầu bạn để đỡ hiu quạnh.

Suốt hơn một tháng đầu, ông phấn khởi làm mọi việc một cách đầy nhiệt tình và rất đúng giờ. Hàng ngày trước khi cúng Phật, ông pha cho tôi một bình trà, vậy là tôi vừa ngồi nhâm nhi ly trà vừa nghe ông tụng kinh, lòng cảm thấy rất êm ả thanh thoát vô cùng nơi đất Phật.

Nhưng sau đó bỗng nhiên ông bắt đầu tụng kinh trễ nải dần rồi từ từ bỏ luôn. Một buổi sáng không thấy ông pha trà tụng kinh như thường lệ, tôi vào phòng hỏi thăm:

- Sao hôm nay ông Bảy không tụng kinh?

- Thưa thầy mình mẩy con đau nhức quá.

- Chắc là ông bị bệnh rồi. Ông có cần bác sĩ không để tôi đi kêu?

Ông có vẻ không tin tưởng bác sĩ Ấn Độ nên lắc đầu. Tôi trở ra tự pha trà rồi đi tụng kinh. Tụng xong vẫn không thấy bóng dáng ông đâu, tôi bèn xuống bếp nấu ăn. Cơm nước xong xuôi, tôi gọi ông ra ăn thì ông nhất định không chịu ăn như mọi khi. Sau khi tôi ăn xong, ông vẫn tiếp tục nằm yên trong mùng khiến tôi rất lo lắng. Nếu lỡ ông lâm bệnh nặng thì thật phiền toái, mà nếu có mệnh hệ nào lại càng nguy hơn, nhất là trong lúc việc xây chùa còn đang ngổn ngang. Vậy là tôi phải dọn cơm vào mâm rồi bưng đến tận giường cho ông. Ông nói rằng sợ tội nên không dám ăn, tôi phải dỗ dành:

- Thôi ông ráng ăn đi, ông không chịu ăn, tội còn nặng hơn.

Đồng thời tôi nghĩ bụng, đúng là quả báo nhãn tiền, lúc trước để ông pha trà cho mình thì nay mình phải nấu cơm bưng đến tận giường hầu ông, hơn thế nữa lúc ông nằm một chỗ tôi phải giặt giũ áo quần cho ông. Quả thật, đây là quả báo nhãn tiền của tôi.

Sau đó tôi bắt đầu trở lại nếp sống cũ, hàng ngày dậy sớm pha trà tụng kinh, tiếp theo chuẩn bị bữa cơm rồi bưng vào tận giường năn nỉ ông Bảy ăn.

Vào một buổi chiều mưa, sau thời gian tụng kinh chiều, tôi đang ngồi thanh thản ngắm nhìn cảnh vật mờ ảo bên ngoài, thỉnh thoảng những tia chớp lóe lên chiếu sáng những hạt mưa óng ánh rơi trên tàu lá chuối, lắng nghe tiếng ễnh ương ếch nhái hòa cùng với tiếng mưa rơi trên lá cây trong vườn, làm thành một bản hòa tấu thật du dương. Bỗng nhiên tôi nghe tiếng người khóc nên vội vàng đi xuống, thấy ông Bảy đang ngồi trên bậc cầu thang khóc nức nở. Tôi ngạc nhiên hỏi:

- Có chuyện gì đó ông Bảy?

- Thưa thầy con buồn chịu không nổi, từ hồi cha sinh mẹ đẻ tới giờ, chưa bao giờ buồn ghê gớm đến như vậy.

Lúc đó lòng tôi đang vui nên thoạt đầu không hiểu được điều ông nói:

- Tại sao ông lại buồn?

- Thưa thầy con nhớ nhà quá!

- Nhưng ông nhớ ai?

- Dạ con nhớ má thằng Út!

Hóa ra ông đang nhớ bà Bảy! Tôi bật cười:

- Tại sao ông không nhớ ai hết mà chỉ nhớ má thằng Út?

- Thưa thầy, con coi má thằng Út như mẹ ruột của con vậy.

- Ủa, sao kỳ vậy? Tại sao ông lại coi bà Bảy như mẹ mình?

- Thưa thầy con vốn mồ côi từ nhỏ nên rất thiếu tình thương. Đến khi gặp má thằng Út thì bà hết mực yêu thương chiều chuộng con. Hễ mỗi khi con bệnh là bà chăm sóc tận tình, nấu phở cho con ăn, kho thịt, nấu cháo…
Hết thẩy là khảo nghiệm,

Coi thử mình ra sao,

Ðối cảnh lầm không biết,

Phải luyện lại từ đầu.

Hòa Thượng Tuyên Hóa

http://www.dharmasite.net/
gioidinhhue
Cảm ơn, Thành viên Moderator (Xin thông báo BQT)
 
Bài viết: 953
Ngày tham gia: Thứ 5 03 Tháng 9, 2009 3:27 pm


Quay về Bồ Tát Hạnh

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến1 khách

cron