Diễn đàn Tu viện Phật giáo Việt nam


Năm 1950, Hội Phật giáo Thế giới (World Fellowship of Buddhi

Thảo luận về Phật Đản

Các điều hành viên: Sen Hong, Bất Nhị, TUỆ LÂM

Năm 1950, Hội Phật giáo Thế giới (World Fellowship of Buddhi

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 5 10 Tháng 4, 2014 8:34 am

Năm 1950, Hội Phật giáo Thế giới (World Fellowship of Buddhists, WFB), khai mạc ở Colombo, nhất trí quyết định rằng danh từ "tiểu thừa" phải được xóa bỏ vì nó không có liên quan gì với đạo Phật hiện diện ngày nay ở Tích lan, Thái lan, Miến điện, Campuchia, Lào v.v... Trên đây là tóm lược về lịch sử đạo Phật Nguyên thủy, Đại thừa và Tiểu thừa.
***
**
*
Đạo Phật Nguyên Thủy và Đạo Phật Đại Thừa Hòa thượng W. Rahula Tỳ kheo Thiện Minh dịch

Để thảo luận vấn đề thường được nhiều người hỏi: sự khác nhau giữa đạo Phật Đại thừa và đạo Phật Nguyên thủy là gì? Để hiểu được điều này chính xác, chúng ta hãy ôn lại lịch sử của đạo Phật và tìm nguồn gốc của đạo Phật Đại thừa và đạo Phật Nguyên thủy.

Đức Phật đản sanh vào thế kỷ thứ sáu trước công nguyên. Ngài thành đạo năm 35 tuổi, 45 năm thuyết pháp độ đời và ngài nhập Níp-bàn năm 80 tuổi. Chắc chắn ngài là một con người có nhiều năng lực nhất, ngày đêm thuyết pháp dạy đạo cho chúng sanh, và Ngài chỉ ngủ có hai giờ đồng hồ trong một ngày.

Đức Phật thuyết pháp giảng đạo cho mọi tầng lớp: vua chúa, hoàng tử, bà-la-môn, thương gia, những người cùng đinh, trí thức, và thường dân lao động. Giáo pháp của Ngài đáp ứng mọi nhu cầu tâm linh của từng người. Những gì Ngài thuyết giảng được gọi là Phật ngôn. Thời điểm đó không có chỗ nào gọi là Trưởng lão bộ (Theravàda) hay Đại thừa (Mahàyana).


Sau khi Ngài thành lập giáo hội Tỳ Kheo tăng và Tỳ Kheo ni, Đức Phật đưa ra những nguyên tắc giáo điều giới luật để bảo vệ giáo đoàn được gọi là Luật (Vinaya). Những lời giảng dạy của Ngài bao gồm trong những bài thuyết pháp cho chư Tăng Ni và Thiện nam Tín nữ được gọi là Pháp (Dhamma).


Đại Hội Kết Tập Kinh Điển Lần Thứ Nhất

Sau ba tháng Thế Tôn viên tịch, những đại đệ tử của ngài triệu tập một đại hội ở thành Ràjagaha (Vương xá). Trưởng lão Kassapa (Ca-diếp) trụ trì đại hội này. Có hai vị rất quan trọng trong đại hội này, các ngài thiên về hai lãnh vực khác nhau - hai vị này trùng tuyên lại Pháp và Luật (Dhamma và Vinaya): ngài Ananda (A-nan-đa) là vị đệ tử hầu cận Đức Phật trong suốt 25 năm, ngài có trí nhớ siêu việt, có thể đọc lại những điều Đức Phật đã thuyết giảng; và ngài Upali (Ưu-ba-ly) đọc lại tất cả những giới luật Đức Phật đã ban hành.

Trong đại hội kết tập lần thứ nhất, chỉ có hai phần Pháp và Luật được trùng tuyên lại. Mặc dù không có quan điểm khác nhau về Pháp (không có đề cập đến Vi Diệu Pháp - Abhidhamma) nhưng chỉ có thảo luận một ít vấn đề về giới luật.


Trước khi Thế tôn viên tịch, Ngài có bảo Đại Đức Ananda rằng nếu Tăng già muốn sửa đổi một ít giới luật nhỏ, thì các vị có thể sửa đổi.
Nhưng lúc đó ngài Ananda quá u sầu vì Thế Tôn sắp viên tịch mà đối với Ananda thì điều đó không thể có được, nên ngài không có hỏi bậc Đạo sư giới nào là giới nhỏ.

Những thành viên của hội nghị không đồng ý về điều giới luật nào là giới nhỏ, cuối cùng trưởng lão Kassapa quyết định rằng không có giới luật nào Thế Tôn đưa ra phải thay đổi, và ngài cũng không có giới thiệu thêm giới luật mới nào. Như vậy không có lý do chính đáng nào để thay đổi giới luật.


Tuy nhiên trưởng lão Kassapa nhắc nhở một điều: "Nếu chúng ta thay đổi giới luật, dư luận quần chúng sẽ nói rằng đệ tử Sa Môn Gotama thay đổi giới luật trước khi Ngài hỏa táng."

Trong đại hội, giáo pháp được phân chia thành những phần khác nhau và mỗi phần được ấn định cho một vị trưởng lão và đệ tử của vị đó để ghi nhớ. Sau đó giáo pháp được truyền khẩu từ vị thầy đến đệ tử. Giáo pháp được đọc tụng hằng ngày do bởi những hội chúng thường xuyên kiểm chứng với nhau để bảo đảm rằng không có sự thiếu sót hoặc thêm bớt nào cả.

Những nhà sử học công nhận rằng truyền thống khẩu truyền thì đáng tin cậy hơn một bản báo cáo do một người viết về một sự kiện xảy ra sau nhiều năm.


Đại Hội Kết Tập Kinh Điển Lần Thứ Hai

Một trăm năm sau, đại hội kết tập kinh điển lần thứ hai được tổ chức để thảo luận một số vấn đề giới luật. Sau ba tháng Thế Tôn viên tịch không có sự thay đổi về mặt giới luật bởi vì trong suốt thời gian đó không có sự thay đổi về mặt kinh tế, chính trị và xã hội diễn ra.

Nhưng 100 năm sau, một số chư tỳ kheo thấy nhu cầu cần để thay đổi những giới luật nhỏ. Những thầy tỳ kheo chính thống bảo rằng không có điều giới luật gì cần phải thay đổi trong khi những người khác cứ nhất định sữa đổi một số ít giới luật.


Cuối cùng một số thầy tỳ kheo rời bỏ đại hội và thành lập Đại chúng bộ (Mahasanghika). Mặc dù gọi là Đại chúng bộ nhưng không có nghĩa là Đại thừa (Mahayana). Và trong đại hội kết tập lần thứ hai, chỉ có thảo luận những vấn đề liên quan với giới luật và không thấy nói đến sự tranh luận về giáo pháp.


Đại Hội Kết Tập Kinh Điển Lần Thứ Ba

Thế kỷ thứ ba trước công nguyên, thời hoàng đế Asoka, đại hội kết tập kinh điển lần thứ ba được tổ chức để thảo luận quan điểm khác nhau giữa những vị tỳ kheo khác phái.

Trong đại hội kỳ này, sự khác nhau không còn hạn chế về mặt giới luật mà còn liên quan với giáo pháp. Cuối đại hội, chủ tọa là ngài Moggaliputta Tissa (Mộc-liên Tu-đế) biên soạn một quyển sách được gọi là Những Điểm Dị Biệt (Kathavatthu) để bác bỏ luận thuyết hoang tưởng, sai lầm của một số bộ phái. Giáo pháp được đại hội đồng ý và chấp thuận, gọi là giáo thuyết Trưởng lão (Theravada). Tạng Vi Diệu Pháp được kết tập trong đại hội này.


Sau đại hội kết tập kinh điển lần thứ ba, con trai vua Asoka, ngài Mahinda, mang Tam Tạng đến Tích Lan cùng với các Chú Giải đã được đại hội thứ ba trùng tuyên lại. Những kinh điển mang đến Tích Lan được bảo quản cho đến ngày hôm nay mà không có mất mát một trang nào.

Kinh điển được viết bằng tiếng Pàli, dựa vào ngôn ngữ Ma-kiệt-đà (Magadhi) do Đức Phật thuyết giảng. Không có điều gì gọi là Đại thừa ở thời điểm đó.

***
**
*
[color=#ff0000]Sự Xuất Hiện Của Đại Thừa (Mahayana)
[/color]

Giữa thế kỷ thứ I trước công nguyên đến thế kỷ thứ I sau công nguyên, hai thuật ngữ Đại thừa (Mahayana) và Tiểu thừa (Hinayana) xuất hiện trong Diệu pháp liên hoa kinh (Saddharma pundarika sutra).


Khoảng thế kỷ thứ II sau công nguyên, chữ "đại thừa" dần dần được định nghĩa rõ ràng hơn.
Ngài Long Mãng (Nagarjuna) phát huy triết học đại thừa về tánh Không và trong một bản kinh nhỏ được người ta gọi là Trung luận thuyết (Madhyamika-karika, còn gọi là Trung quán luận) chứng minh rằng vạn pháp đều rỗng không.


Khoảng thế kỷ thứ IV, Vô Trước (Asanga) và Thế Thân (Vasubandhu ) sáng tác một số tác phẩm về kinh điển Đại thừa. Sau thế kỷ thứ I sau công nguyên, những nhà Đại thừa bắt đầu tạo một lập trường rõ ràng, và từ đó, họ đưa vào các danh xưng "đại thừa" và "tiểu thừa".


Chúng ta không nên nhầm lẫn Tiểu thừa với Trưởng lão bộ (Theravada) bởi vì những danh từ này không đồng nghĩa nhau.


Phật giáo Trưởng lão bộ truyền đến Tích Lan vào thế kỹ thứ III trước công nguyên, khi đó không có danh từ Đại thừa nào cả. Bộ phái Tiểu thừa chỉ phát triển ở Ấn độ và hiện hữu hoàn toàn độc lập, không phải hình thức của đạo Phật hiện có ở Tích Lan. Ngày nay, bộ phái Tiểu thừa không còn tồn tại ở bất cứ nơi nào trên thế giới.

***
**
*
Do đó, năm 1950, Hội Phật giáo Thế giới (World Fellowship of Buddhists, WFB), khai mạc ở Colombo, nhất trí quyết định rằng danh từ "tiểu thừa" phải được xóa bỏ vì nó không có liên quan gì với đạo Phật hiện diện ngày nay ở Tích lan, Thái lan, Miến điện, Campuchia, Lào v.v... Trên đây là tóm lược về lịch sử đạo Phật Nguyên thủy, Đại thừa và Tiểu thừa.


Đạo Phật Đại Thừa Và Đạo Phật Nguyên Thủy

Bây giờ, chúng ta thử tìm hiểu sự khác nhau giữa đạo Phật Đại thừa và đạo Phật Nguyên thủy là gì?

Tôi nghiên cứu đạo Phật Đại thừa nhiều năm, và càng nghiên cứu tôi càng thấy hầu như không có bất cứ điều gì khác nhau giữa đạo Phật Nguyên thủy và đạo Phật Đại thừa về mặt giáo lý căn bản.

1.Cả hai đều chấp nhận Đức Phật Thích Ca là bậc đạo sư.
2.Tứ Thánh Đế trong cả hai trường phái đều giống nhau.
3.Bát Chánh Đạo trong cả hai trường phái thì cũng tương tự .

4.Lý Duyên Khởi trong cả hai trường phái đều giống nhau.
5.Cả hai đều không chấp nhận tư tưởng về thượng đế tạo ra thế gian này.
6.Cả hai đều chấp nhận Tam tướng (Khổ, Vô thường, Vô ngã) và Tam vô lậu học (Giới, Định, Huệ) , không có bất kỳ sự khác biệt nào.


Đây là những giáo lý quan trọng nhất của Đức Phật và cả hai trường phái đều công nhận.


Cũng có một số ít điểm khác nhau. Hiển nhiên là quan điểm về Bồ tát. Nhiều người nói rằng Đại thừa là quả vị Bồ tát dẫn đến quả vị Phật, trong khi đó Nguyên thủy thì đưa đến quả vị A La Hán.


Tôi phải nói rằng Đức Phật Toàn giác, Độc giác và Thinh văn giác cũng là những vị A La Hán.

Kinh điển Đại thừa không bao giờ sử dụng La Hán thừa.

Họ sử dụng ba thuật ngữ: Bồ tát thừa, Duyên giác thừa và Thinh văn thừa.

Theo truyền thống Nguyên thủy, ba quả vị này được gọi là ba quả Giác (Bodhi).


Có người cho rằng Phật giáo Nguyên thủy thì ích kỹ bởi vì dạy con người phải tìm kiếm sự cứu rỗi cá nhân. Nhưng làm sao một người ích kỹ có thể giác ngộ được?


Cả hai trường phái đều chấp nhận có ba Thừa, hay ba Giác, và cũng đều công nhận lý tưởng Bồ tát là cao quí nhất.


Tuy nhiên, Đại thừa đã hư cấu nhiều vị Bồ tát huyền bí.
Trong khi đó, Phật giáo Nguyên thủy cho rằng Bồ tát là một con người ở giữa chúng ta, và Ngài hiến tặng trọn vẹn đời mình cho sự giác ngộ, chắc chắn sẽ trở thành vị Phật vì lợi ích của thế gian, vì hạnh phúc cho đời.


Ba Hạng Phật

Có ba hạng Phật: Chánh đẳng chánh giác (sammasambuddha), Độc giác (paccekabuddha), và Thinh văn giác (savakabuddha).

Việc chứng đắc Níp-bàn giữa ba vị thì giống nhau.
Chỉ có sự khác nhau là Chánh đẳng chánh giác có nhiều uy đức và phẩm chất hơn hai vị kia.


Có người nghĩ rằng tánh Không do ngài Long Mãng nói thì hoàn toàn là giáo lý Đại thừa.

Thật ra, ngài căn cứ vào tư tưởng Vô Ngã và Lý Duyên Khởi, đã có sẵn trong kinh tạng Pàli.


Một lần đại đức Ananda hỏi Đức Phật,

"Người ta nói về chữ Không, vậy Không là gì? "

Đức Phật trả lời, "Này Ananda, không có bản ngã cũng không có bất cứ điều gì liên quan với bản ngã trên đời này. Do đó, thế gian là vô ngã."

Tư tưởng này do ngài Long Mãng đưa ra khi ông viết quyển sách "Madhyamika-karika" (Trung quán luận) nổi tiếng của mình.


Trong Phật giáo Đại thừa, bên cạnh tư tưởng tánh Không còn có ý niệm "Tàng thức" vốn đã có nguồn gốc trong kinh tạng nguyên thủy.

Những người Đại thừa chỉ khai triển thêm các khái niệm nầy để tạo dựng nền triết học và tâm lý học sâu thẳm./.

(Nguyên tác: ‘Theravada - Mahayana Buddhism’,Gems of Buddhist Wisdom, Buddhist Missionary Society, Kuala Lumpur, Malaysia, 1996)
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Năm 1950, Hội Phật giáo Thế giới (World Fellowship of Bu

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 5 10 Tháng 4, 2014 8:53 am

ĐẠI HỘI LIÊN HỮU PHẬT GIÁO THẾ GIỚI LẦN THỨ HAI MƯƠI MỐT TỔ CHỨC TẠI BANGKOK, THÁI LAN

Thích Nguyên Tạng lược ghi


Hàng ngàn Tăng Ni và Phật tử thuộc nhiều tông phái Nam và Bắc Tông của 40 quốc gia khác nhau trên thế giới đã đến thủ đô Bangkok, Thái Lan để tham dự Đại Hội Liên Hữu Phật Giáo Thế Giới (The World Fellowship of Buddhists - WFB) lần thứ hai mươi mốt, từ ngày 5 đến ngày 10 tháng 12 năm 2000.

Đại hội lần này lấy chủ đề là "Phật giáo và toàn cầu hóa" (Buddhism and Globalization). Đại hội kỳ này do Hoàng Gia Thái và Chính quyền Thái Lan bảo trợ.


Hội Liên Hữu Phật Giáo Thế Giới (WFB) được thành lập vào ngày 25 tháng 5 năm 1950 tại Tích Lan với 5 chủ trương như sau:

1) Khuyến khích hội viên học và tu theo lời Phật dạy;

2) Siết chặt tình hữu nghị, đoàn kết và thống nhất giữa các quốc gia Phật giáo;

3) Đẩy mạnh công tác truyền bá giáo lý mầu nhiệm của Phật;


4) Tổ chức và đưa các hoạt động Phật sự vào trong các lĩnh vực như xã hội, giáo dục, văn hóa;

5) Mang lại hòa bình, an lạc và hạnh phúc đến cho hành tinh này và sẵn sàng liên kết với những tổ chức khác có cùng đường hướng.

(1. To Promote among the members strict observance and practice of the teachings of the Buddha; 2. To secure unity, solidarity and brotherhood among Buddhists; 3. To propagate the sublime doctrine of the Buddha; 4. To organize and carry on activities in the field of social, educational and cultural; 5. To work for happiness, harmony and peace on earth and to collaborate with other organizations working for the same ends.)


Để đạt được mục đích trên, WFB đã cho thành lập nhiều chi nhánh trên khắp thế giới và một Hội đồng trị sự gồm các tiểu bang như :

Ban Giáo dục, In ấn và Nghệ thuật,
Ban Hoằng pháp,
Ban Từ thiện,
Ban Đoàn kết,
Ban Tài chánh…


Trong 30 năm hoạt động, với sự bảo trợ và ủng hộ nhiệt thành của các chính phủ Tích Lan, Miến Điện ,Thái Lan, Nepan, AᮠĐộ, Nhật Bản, Lào, Campuchia….từ 27 chi nhánh ban đầu đã phát triển lên đến 135 chi nhánh của 40 quốc gia trên khắp các châu lục.

Năm 1970, Hội đã được UNESCO (1) thừa nhận là một tổ chức phi chính phủ, từ đó Hội là thành viên thường trực trong ban cố vấn cho UNESCO trong vấn đề giáo dục, văn hóa, xã hội theo quan điểm của Phật giáo.

Về Trụ sở Trung ương được đặt tại Tích Lan từ năm 1950 đến 1958, sau đó được dời qua Miến Điện, sau sáu năm (1958-1963) đặt tại Miến Điện, trụ sở một lần nữa lại chuyển qua thủ đô Bangkok, Thái Lan cho đến ngày hôm nay (2).


Chủ trương của Hiệp hội là hai năm tổ chức đại hội một lần. Đại hội lần thứ nhất tổ chức tại Colombo, Tích Lan (1950), lần thứ 2 tại Tokyo, Nhật Bản (1952); lần thứ 3 tại Yangon, Miến Điện;

lần thứ 4 tại Kathmandu, Nepan (1956); lần thứ 5 tại Bangkok, Thái Lan (1958); lần thứ 6 tại Phnom Penh, Campuchia (1961);

lần thứ 7 tại Sarnath, Ấn Độ (1993); lần thứ 8 tại Chiangmai, Thái Lan (1966); lần thứ 9 tại Kuala Lumpur, Mã Lai (1969);

lần thứ 10 tại Colombo, Tích Lan (1972); lần thứ 11 tại Bangkok, Thái Lan (1976); lần thứ 12 tại Tokyo, Nhật Bản (1978);

lần thứ 13 tại Bangkok, Thái Lan (1980); lần thứ 14 tại Colombo, Tích Lan (1984); lần thứ 15 tại Kathmandu, Nepan (1986);

lần thứ 16 tại Los Angeles, Hoa Kỳ (1988); lần thứ 17 tại Seoul, Triều Tiên (1990); lần thứ 18 tại Taipei Kaoshiung, Đài loan (1992);

lần thứ 19 tại Bangkok, Thái Lan (1994); Đại hội lần thứ 20 lúc ấy dự tính nhóm tại Tích Lan vào 1996, sau đó được dời qua Nam Triều Tiên, nhưng do biến cố chính trị của hai quốc gia này, nên đến năm 1998 đại hội mới được triệu tập tại Wollongong, New South Wales, Úc Đại Lợi (1998).



Vị khai sáng và làm chủ tịch đầu tiên của hội này là Tiến sĩ G. P. Malalasekera, người Tích Lan (1950-1958); Các vị kế nhiệm là Cư sĩ U Chan Htoon, người Miến Điện (1958-1963); Công chúa P. P. Diskul, người Thái Lan (1963-1983); Giáo sư Sanya Dharmasakti, người Thái (1983-1998) và Cư sĩ Phan Wannamithee (1998- hiện tại (3)).


Mở đầu, ông Phan Wannamithee, Chủ Tịch Hội Liên Hữu Phật Giáo Thế giới đã tuyên đọc diễn văn khai mạc đại hội. Ông đã ngỏ lời chào mừng tất cả đại biểu và cho biết lý do tại sao lấy chủ đề cho đại hội lần này là "Phật giáo và Toàn cầu hóa" (Buddhism and Globalization): "Đây là đề tài mà thế giới đang quan tâm, sự tác động trực tiếp của thế giới đã nhanh chóng thay đổi những khuynh hướng mới của thời đại.


Trong kỳ đại hội này, chúng ta sẽ tập trung đến cách thức làm thế nào để giáo lý vi diệu của Đạo Phật có thể được thiết lập một cách tự nhiên ở khắp mọi nơi trên thế giới, để đáp ứng được những nhu cầu cấp bách của thời đại, để mang niềm an lạc, hạnh phúc đến cho nhân loại".


Chương trình nghị sự của Đại hội tiếp đó là đại diện phái đoàn đọc báo cáo và tham luận cũng như bàn thảo chương trình hoạt động Phật sự cho nhiệm kỳ hai năm của Hội.

Đại hội đã lắng nghe các bài tham luận của các đại biểu từ Nepan, Thái Lan, Đài Loan, trong đó đặc biệt có bài "Trường Đại học Phật giáo thế giới: một nhu cầu cho hôm nay và ngày mai" (The World Buddhist University: A challenge of Today and Tomorrow) của Tiến sĩ Ananda W. P. Guruge, "Năm mươi năm của Liên Hữu Phật giáo thế giới" (Fifty Years of the World Fellowship of Buddhists) của Hòa Thượng Phra Dhammavisudhikavi.


Nhân dịp này, Đại hội đã nhận được nhiều điện thư chúc mừng từ Vua Nepan, các Thủ tướng Thái, Bangladesh, Srilanka, đặc biệt có thư chúc mừng của Vua Thái Lan, ngài Bhumibol Adulyadej, trong thư có đoạn viết:

"Hội của chúng ta hiện có nhiều quyết tâm để phấn đấu duy trì và truyền bá lời Phật dạy cho tất cả chúng sanh trên thế giới.
Niềm tin và trí tuệ mà chúng ta đang có là một yếu tố quan trọng cho công việc cao quý của chúng ta.
Xin hãy gìn giữ niềm tin ấy. Đừng để nó suy thoái mà phải vun bồi ngày càng tốt hơn, qua việc học hỏi, phân tích và áp dụng giáo lý của Phật giáo vào trong đời sống của mình, cũng như giúp đỡ và hướng dẫn người khác học và hiểu đúng đắn về giáo lý.

Một khi mọi người hiểu và áp dụng đúng lời Phật dạy, Phật giáo sẽ trở nên phổ biến và chấp nhận rộng rãi hơn. Cuối cùng PG sẽ có thể dẫn dắt cho nhân loại sống trong sự an lạc, hài hòa và hạnh phúc ".


Đại hội đã bế mạc trong bầu không khí hoan hỷ với buổi đại tiệc do Hoàng gia Thái chiêu đãi. Được biết, kỳ Đại Hội lần thứ 22 của Liên Hữu Phật Giáo Thế Giới sẽ được tổ chức tại Mã Lai vào năm 2002.

Được biết ngoài kỳ đại hội này, hội còn tổ chức lễ kỷ niệm chu niên 50 năm thành lập hội (1950-2000). Để đánh dấu sự kiện quan trọng này, Hội có tổ chức triển lãm, trưng bày nhiều dữ kiện lịch sử trong 50 năm hoạt động của hội, ấn hành sách kỷ yếu, và đặc biệt là khánh thành một trường Đại học Phật giáo Thế giới (World Buddhist University)(4) vào ngày cuối cùng của đại hội./.


Ghi chú:

(1) UNESCO : Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hiệp quốc ( United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization).

(2) Địa chỉ liên lạc của Hội: World Fellowship of Buddhists, 616 Benjasiri Park, Soi Medhinivet off Soi Sukhumvit 24, Sukhumvit Road, Bangkok 10110, ThaiLand. Tel: 662.661.128489 Fax: 662.661.0555 Email: [url=mailto:wfb_hq@asianet.co.th]wfb_hq@asianet.co.th[/url] Website http://www.wfb-hq.org

(3) Thành phần Ban lãnh đạo hiện nay của Hội:

Chủ tịch danh dự 1. Hòa Thượng Master Hsing Yun (Đài Loan) 2. Giáo sư Sanya Dharmasakti (Thái Lan)
Chủ tịch: Mr. Phan Wannamethee (Thái Lan)

Phó Chủ tịch :
- Cư sĩ John D. Hughes (Úc) - Hòa Thượng Suddhananda Mahathero (Bangladesh) - Ông Sangay Wangchug (Bhutan) - Hòa Thượng T. Dhammaratana (Pháp) - Cư sĩ Friedrich Anton Reg (Đức) - Cư sĩ R. S. Gavai (Ấn Độ) - Cư sĩ Jang Woon Yang (Triều Tiên) - Cư sĩ Dato' Khoo Leong Hun (Mã Lai) - Hòa Thượng Choijiljav Dambajav (Mông Cổ) - Cư sĩ Loke Darshan (Nepan) - Cư sĩ Ananda W. P. Guruge (Tích Lan) - Cư sĩ Steven S. W. Huang (Đài Loan) - Cư sĩ Gen. Chalom Wismol (Thái Lan) - Cư sĩ Sunao Miyabara (Hoa Kỳ)

- Tổng Thư Ký : Tiến sĩ Nantasarn Seesalab ( Thái Lan)
- Thủ Quỹ : Cư sĩ Ambhorn Arunrangsi ( Thái Lan)
- Ủy viên tài chánh: Phật giáo Nhật Bản

- U빍 viên đối ngoại : Tiến sĩ Ananda W.P. Guruge ( Sri Lanka)
- Ủy viên giáo dục, xuất bản, văn hóa và nghệ thuật: Tiến sĩ Pataraporn Sirikanchara (Thái lan); Thượng Tọa Pannyavaro (Úc)
- Ban Hoằng Pháp: Cư sĩ Nensiri Mutukuma (Tích Lan)

- Ủy viên Nhân đạo: Cư sĩ Khoo Kwan Hock (Mã Lai)
- Ủy viên đoàn kết và thống nhất: Giáo sư Cheng Chen-huang (Đài Loan)
- Ủy viên thanh niên: Cư sĩ Sommai Kornsakoo (Thái Lan)

- Ủy viên phát triển kinh tế: Cư sĩ Framcis Wanigasekere (Tích Lan)
- Ủy viên phụ nữ: Giáo sư tiến sĩ Sritaptim Panipan (Thái Lan)


(4) Địa chỉ liên lạc Trường Đại Học Phật Giáo Thế Giới: Tiến sĩ Nantasarn Seesilab World Buddhist University 616 Benjasiri Park, Sukhumvit 24 off Soi Medhinnivet Bangkok 10110, Thailand. Mobile phone (in Thailand): 01 806 0678 Tel: (662) 661 1284-87 Fax: (662) 661 0555 Email: secretariat@wb-university.org Website: http://www.wb-university.org/
http://www.buddhismtoday.com\viet\pgtg\sukien\016-daihoi2.htm


****
Ghi chú thích nơi đây:
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland


Quay về Lễ Phật Đản trong và ngoài nước

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến1 khách

cron