Diễn đàn Tu viện Phật giáo Việt nam


Đoàn Thực

Thảo luận chung về các món chay

Các điều hành viên: Sen Hong, Bất Nhị, TUỆ LÂM, samhoi, Phattutaigia

Re: Đoàn Thực

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 7 05 Tháng 1, 2013 8:27 pm

Trích dẫn: Theo Luận A tỳ đàm

Những đoàn sắc pháp (kalāparūpa) sau khi bình số là 51 bọn, cứ mỗi sátna tiểu của tâm có một bọn diệt đi, một bọn khác sinh lên (mỗi sátna tâm có ba sátna tiểu là: Sinh, trụ, diệt).
Do đó, các đoàn sắc pháp luôn bình số là 51 bọn.
Ví như ngọn lửa luôn tồn tại là nhờ có nhiên liệu, cũng vậy, tuy sắc pháp sinh diệt liên tục nhưng vẫn tròn đủ là do có sắc vật thực (đoàn thực) làm duyên trợ sinh.

Khi sắc vật thực cũ diệt đi, sắc vật thực mới sinh lên, thế là bảy sắc còn lại cũng sinh theo. Do đó nói rằng: “Sắc vật thực làm duyên cho sắc bất ly sinh lên”.

- Xúc thực làm duyên cho thọ sinh lên.
Như kinh văn: “ xúc duyên thọ”.
Người có thần kinh nhãn tốt, gặp cảnh sắc rõ, có sự nhận thức cảnh (là nhãn thức), ba pháp này hội lại, thế là nhãn xúc sanh lên, khi nhãn xúc sinh lên sẽ làm duyên cho những cảm thọ lạc, khổ hay xả phát sinh (trong lộ đổng lực), nên nói “xúc thực làm duyên cho thọ sinh ra”.

- Tư niệm thực làm duyên cho thức tái sinh (paṭisandhiviññāṇa).
Như nghiệp tương ưng với Dục giới sẽ làm duyên cho thức tái sinh trong cõi Dục giới. Nghiệp tương ưng với Sắc giới sẽ làm duyên cho thức tái sinh trong cõi Sắc giới.
Nghiệp tương ưng với Vô sắc giới sẽ làm duyên cho thức tái sinh trong cõi Vô sắc giới.
Như vậy, tư niệm thực làm duyên cho tái sinh vào ba cõi.

-Thức thực làm duyên cho danh - sắc sinh lên bằng đồng sanh duyên (sahājātapaccayo).
Khi thức tục sinh hiện khởi, bấy giờ danh (nāma) cũng sinh lên, danh ở đây là ba uẩn: thọ, tưởng và hành uẩn.

Đồng thời với thức tục sinh, những đoàn sắc nghiệp cũng sinh lên, loại sắc nghiệp này gọi là sắc tục sinh (đây là nói cõi ngũ uẩn, cõi vô sắc chỉ có danh, ở cõi Vô tưởng chỉ có sắc Mạng quyền làm việc tục sinh).

Trong thời bình nhật, khi tâm sinh lên lập tức các tâm sở cũng hiện khởi, các tâm sở ấy là danh.

Đồng thời tâm cũng tạo ra một loại sắc để hành động hay nói, gọi là sắc tâm tạo (cittajarūpa), ngoại trừ ngũ song thức và các tâm quả Vô sắc không tạo sắc tâm, những tâm còn lại đều tạo sắc tâm.

Có Phật ngôn:
“Thức duyên cho danh - sắc”.

Thức trong lý duyên khởi chỉ cho những tâm quả, một số tâm quả đảm nhiệm việc tục sinh, số khác thì không như nhãn thức, nhĩ thức chẳng hạn. Còn thức thực chỉ cho tất cả các tâm.

Có thể có người nghi ngờ câu Phật ngôn: “chúng sanh tồn tại do vật thực” còn thiếu sót.
Vì rằng: Có chúng sanh là phạm thiên Vô tưởng (asaññī) không có đoàn thực, không có xúc thực, không có tư niệm thực, không có thức thực nhưng vị ấy vẫn tồn tại.

Đáp rằng: Chữ sattā (hữu tình hay chúng sanh) là ám chỉ cho uẩn (khandha).
Như có Pāli rằng:
“Thế nào là pháp hữu duyên? Năm uẩn (là pháp hữu duyên).
Khi các uẩn hội lại, gọi là sattā (chúng sinh) .

Như vậy, khi nói đến chúng sinh tức là nói đến uẩn, Phạm thiên Vô tưởng tuy chỉ có sắc uẩn, nhưng đó là loại sắc uẩn có mạng quyền, sắc Mạng quyền là loại sắc thành tựu do nghiệp lực.

“Sattā kammadāyadā: Chúng sinh là thừa tự của nghiệp” [8].
Và tuy chỉ có sắc uẩn nhưng Phạm thiên Vô tưởng vẫn được gọi là chúng sinh, vì thừa tự của nghiệp.
Ví như có nhiều nhà hội lại, gọi là làng, lửa cháy một nhà trong làng, người ta cũng gọi là cháy làng.

Tức là: “Nói đến làng ngầm nói đến nhà, nói đến chúng sinh ngầm nói đến uẩn. Nói đến nhiều nhà ngầm nói đến làng, nói đến uẩn ngầm nói đến chúng sinh.

Có làng có nhiều loại nhà, có làng chỉ có một loại nhà. Cũng vậy, có hạng chúng sinh nhiều uẩn (5 uẩn, hoặc bốn uẩn) ví như làng có nhiều loại nhà; có hạng chúng sinh một uẩn, ví như làng có một loại nhà.

Do đó, Phạm thiên Vô tưởng tuy chỉ có một uẩn vẫn được gọi là chúng sinh”.
http://buddhanet.net/budsas/uni/u-ch....htm#_ednref36
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Đoàn Thực

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 5 10 Tháng 1, 2013 4:20 pm

Hiểm họa của Thức thực là sự tái sinh.

Thức thực làm duyên cho danh sắc trong thời điểm tục sinh (paṭisandhi), điều này đồng nghĩa xuất hiện một chúng sinh mới, tiếp theo là già, bịnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não và toàn bộ sự khổ sinh lên cho chúng sinh ấy. Từ sự sinh lên này, những nỗi thống khổ từ đó sinh lên.
Do đó hiểm họa của thức thực là danh sắc trong thời điểm tục sinh, nói cách khác hiểm họa của thức thực là sự tái sinh.

Hình ảnh
Lẽ thường chúng sinh trong thế gian thường mong cầu “được thông minh, có trí tuệ”, “là người giàu sang, có danh tiếng, có quyền uy…” hay mong mỏi “có sắc đẹp, có sức mạnh, tai thính, mắt tinh”. Họ cố gắng tạo những việc lành phù hợp với những mong cầu này.

Khi mệnh chung, thiện nghiệp ấy cho quả là tâm tục sinh, chính tâm tục sinh này tạo ra danh sắc phù hợp với ước nguyện trước đó, nhưng rồi kết quả này cũng bị vô thường chi phối, lại trở về với khổ (nếu còn tái sinh, còn danh sắc).

Chẳng khác nào người cần cù làm việc trong một thời gian dài, tích lũy nhiều tài sản, rồi lại phung phí hưởng thụ, sau cùng lại trở nên bần khổ như xưa.

Trái lại, người tạo ác nghiệp, nghiệp này cho quả là thức tái sinh (thức thực), thức tái sinh ấy cũng tạo ra danh sắc thích ứng với cảnh giới tái sinh. Như một chúng sinh bị đọa vào địa ngục, thức thực tạo ra danh sắc thích ứng với lửa địa ngục, không bị lửa này làm tiêu hoại.

1. Vua Milinda có hỏi Đức Nāgasena (Natiên) về “lửa địa ngục rất nóng, một tảng đá lớn như cái nhà, rơi vào địa ngục sẽ tiêu hoại trong giây lát. Vì sao chúng sinh có thể sống trong đó thời gian cả ngàn năm hay lâu hơn để chịu khổ được?”.

Đức Nāgasena trả lời: “Đó là do sức mạnh của ác quả gìn giữ mạng sống chúng sinh ấy.”
Ngài Nāgasena có cho ví dụ: Những vật thực đi vào bụng người nữ bị tiêu hoại bởi sức nóng của lửa, nhưng thai bào nằm trong bụng mẹ thì vô sự. [38]
Chính thức tục sinh tạo ra danh sắc phù hợp với môi trường hiện khởi của chúng sinh và thức tục sinh này nâng đở, gìn giữ chúng sinh được tồn tại nhờ sức mạnh của ác quả ấy”.

Như Phật ngôn:
“So na ca tāva kālaṃ kareyya yāva na taṃ pāpakammaṃ byantī hoti:
Nếu không có thời gian dài trôi chảy, ác quả (của) nghiệp ấy không tiêu hoại.”

Để ngăn trừ dính mắc trong thức thực (tức là dính mắc trong danh sắc tốt đẹp), Đức Phật cho ví dụ 300 ngọn giáo.

2. Kinh văn nêu ví dụ: Đức vua bắt được tên trộm, Đức vua ra lịnh hành phạt tội nhân, vào buổi sáng đâm vào người tội nhân 100 ngọn giáo (satti), nhưng không cho tội nhân chết, vào buổi trưa đâm vào người tội nhân 100 ngọn giáo, vào buổi chiều đâm vào người tội nhân 100 ngọn giáo.

“Này các Tỳkhưu, các ngươi nghĩ thế nào? Người ấy trong một ngày bị đâm 300 ngọn giáo, do nhân duyên ấy có cảm thọ khổ ưu chăng?

- Bạch Thế Tôn, chỉ một ngọn giáo, do nhân duyên ấy có cảm thọ khổ ưu, còn nói gì bị đâm 300 ngọn giáo.

- Như vậy, này các Tỳkhưu, Ta nói thức thực cần phải nhận xét.

-Này các Tỳkhưu, khi thức thực được hiểu rõ, thời danh sắc được hiểu rõ.
Khi danh sắc được hiểu rõ thời Ta nói rằng vị Thánh đệ tử không làm gì thêm nữa.”[39]

Với chỉ một vết thương cũng đau khổ, nhức nhối khôn tả rồi, huống hồ là 300 vết thương do ngọn giáo đâm vào chỉ trong một ngày, thì sự đau đớn khốc liệt vô cùng.
Sự tái sinh ví như bị ngọn giáo đâm vào, danh sắc hiện khởi ví như vết thương, những đau khổ khác biệt nhau sinh khởi từ vết thương ví như sự khổ khác biệt của danh sắc. Vết thương nối tiếp vết thương chỉ trong một ngày thì nỗi thống khổ của danh sắc này đủ để ngán ngẫm.

3.Khi có danh sắc thì có ba sự khổ phát sinh, đó là:
- Khổ khổ (dukkha dukkhatā).
Là sự khổ thân và khổ tâm. Thân nhận lãnh thọ khổ, tâm nhận lãnh thọ ưu.

- Hữu vi khổ (saṅkhāra dukkhatā).
Là sự khổ khi còn pháp hữu vi, pháp hữu vi luôn sinh diệt, còn sinh diệt thì còn dẫn đến khổ.
Lại nữa, còn pháp hữu vi (danh sắc) thì còn phải nhận lãnh những ác quả lẫn thiện quả do nghiệp đã tạo trong quá khứ hay trong hiện tại.
Chí đến Đức Chánh giác, khi chưa Vô dư Nípbàn, còn thân năm uẩn Ngài vẫn phải nhận những ác quả do ác - bất thiện nghiệp đã gieo trong quá khứ.

- Hoại khổ (viparinṇāma dukkhatā).
Là sự khổ sinh lên khi bị biến hoại, nói cách khác là do vô thường chuyển đổi. Như sự an lạc thân tâm mất đi, chúng sinh còn tham ái, cảm thấy khổ sở vô hạn.

Vị Thánh Anahàm Visākha có hỏi Thánh nữ Alahán Dhammadinnā:

“- Thưa Ni cô, đối với lạc thọ, cái gì lạc, cái gì khổ?”
Vị Thánh nữ Alahán đáp rằng:

- Này hiền giả Visākha, đối với lạc thọ, cái gì trú là lạc, cái gì biến hoại là khổ.[40]

4. Đức Phật dạy:“Này các Tỳkhưu, nếu đối với thức thực có tham, có hỷ, có ái, chỗ ấy thức được an trú, tăng trưởng.
Chỗ nào thức được an trú, tăng trưởng, chỗ ấy có danh sắc sanh.
Chỗ nào có danh sắc sanh, chỗ ấy có các hành tăng trưởng.
Chỗ nào có các hành tăng trưởng, chỗ ấy hữu được tái sinh trong tương lai.
Chỗ nào có sanh, già, chết trong tương lai, Ta nói chỗ ấy có sầu, có não (sđd).

5. Đối với chúng sinh là thai sinh, khi tục sinh có ba đoàn sắc là:

Đoàn ý vật, đoàn tính (nam hay nữ), đoàn thân, sở dĩ ba đoàn này có mặt trước tiên vì:

- Đoàn thần kinh thân có nhiều nơi thân do đó đoàn thân sinh trước.
- Đoàn tính sinh lên để xác định nam hay nữ sau này.
- Đoàn ý vật sinh lên để làm nơi nương cho tâm tục sinh và những tâm hữu phần (bhavaṅga) sinh kế tiếp.

Đối với chúng sinh hóa sinh trong cõi có sắc, khi tâm tục sinh vừa hiện khởi thì những đoàn sắc do nghiệp tạo đồng sinh theo (cõi Phạm thiên Sắc giới có 4 đoàn: Đoàn nhãn, đoàn nhĩ, đoàn ý vật, đoàn mạng quyền. Chư thiên Dục giới, ngạ quỷ, chúng sinh địa ngục có đủ các đoàn sắc nghiệp tương ứng, Phạm thiên Vô tưởng thì tục sinh bởi đoàn mạng quyền).

Trong các đoàn sắc nghiệp có sắc vật thực bất ly (sắc vật thực trong đoàn bất ly), sắc vật thực bất ly là sắc do nghiệp thủ (kammupādāna) tạo thành, nghiệp thủ có là do ái tập khởi. Do đó, ái là tập khởi của đoàn thực.


6. Nên Đức Sāriputta dạy:

“Từ tập khởi của ái, vật thực tập khởi”.
Nghĩa là khi còn ái thì còn tái sinh, còn luân hồi sinh tử. Duy trì sự tồn tại của chúng sinh là vật thực, nên nói “ái là tập khởi của vật thực”, rồi vật thực duyên ngược lại cho ái bằng Hổ tương duyên (nương qua nương lại, ví như hai cây nương vào nhau đứng vững trên đất).

Xúc thực duyên cho thọ, tư niệm thực duyên cho thức tái sinh, thức thực duyên cho danh sắc. Tất cả đều hiện khởi trong thời điểm tục sinh, do ái làm duyên.

Nên ghi nhận trong phần trí hiểu rõ về vật thực, Đức Sāriputta (XálợiPhất) trình bày hai loại vật thực:

Vật thực thành tựu do nghiệp thủ, vật thực thành tựu không do nghiệp thủ.
Nói cách khác: Có loại vật thực là nhân (vật thực thành tựu không do nghiệp thủ), có loại vật thực là quả (vật thực thành tựu do nghiệp thủ).

7.Vật thực thành tựu do nghiệp thủ.Là ba thực (xúc, tư niệm và thức thực) trong tâm quả hiệp thế, và sắc vật thực trong sắc nghiệp.

8.Vật thực thành tựu không do nghiệp thủ.- Là sắc do thời tiết tạo (utujarūpa), sắc do vật thực tạo, những loại sắc ấy đều có sắc vật thực trong đoàn bất ly.
Riêng sắc do tâm tạo (cittajarūpa), có loại thành tựu do nghiệp thủ (là sắc do tâm quả hiệp thế tạo ra), có loại thành tựu không do nghiệp thủ (là những sắc do những tâm ngoài tâm quả hiệp thế tạo ra).

- Tâm bất thiện, tâm thiện, tâm duy tác là thức thực, đều có xúc thực, tư niệm thực, đây là những vật thực thành tựu không do nghiệp thủ.

Đức Sāriputta(Xálợiphất) dạy: “Vật thực diệt do ái diệt”.

Tức là khi không còn ái thì vật thực thành tựu do nghiệp thủ hay thành tựu không do nghiệp thủ trong tương lai sẽ không tồn tại, riêng trong hiện tại, bao giờ còn 5 uẫn, vị Thánh Alahán vẫn còn vật thực.
Nên câu nói “vật thực diệt do ái diệt”, ám chỉ sau thời điểm viên tịch của vị Thánh Alahán, tức là không còn tái sinh.


***Dứt phần giải về vật thực.***
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Đoàn Thực

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 7 02 Tháng 8, 2014 5:30 pm

Hãi cả đời với tương ớt lúc nhúc dòi bọ

Không ít người cảm thấy kinh hãi, ghê sợ khi xem clip quay cận cảnh chai tương ớt tại một quán bún chả vỉa hè ở Hà Nội có chứa đầy dòi bọ được chia sẻ trên diễn đàn mạng xã hội mới đây.
Trong clip có ghi cận cảnh hình ảnh một chai tương ớt dòi bọ bò lổm ngổm trên miệng, được nickname Mẹ Cu Tí chia sẻ trên diễn đàn Vitalk.vn.


Thành viên này cho biết, theo chia sẻ của người đăng tải clip, thì những hình ảnh này được ghi lại trong một quán bún chả vỉa hè ở quận Cầu Giấy (Hà Nội). Clip này là có thật, không phải do người quay sắp đặt bởi theo thành viên Mẹ Cu Tí, chẳng ai có rỗi hơi lại đi bắt dòi bỏ vào chai tương ớt.





Hình ảnh

Cận cảnh dòi bò đầy trên miệng chai tương ớt


“Mình có thói quen đi ăn hàng quán thường lấy nguyên chai tương ớt bóp thẳng vào bát ăn, không mở nắp ra bao giờ. Giờ xem clip này thấy khủng khiếp quá”. Sau khi chia sẻ thói quen đi ăn uống ngoài vỉa hè của mình, thành viên Mẹ Cu Tí có khuyên mọi người nên cẩn thận và chú ý hơn khi đi ăn món ăn có kèm với tương ớt.


Ngay sau khi clip chai tương ớt chứa đầy dòi được chia sẻ, trên các diễn đàn, đa phần mọi người xem xong đều cảm thấy ghê sợ, kinh hãi. Một số thành viên trên diễn đàn còn cho hay sẽ hạn chế đi ăn các quán ngoài vỉa hè.


Thành viên khanhvu... cho biết đã bỏ ăn tương ớt ở các hàng quán từ 2 năm nay. “Cách đây 2 năm đi ăn phở tại một quán gần bệnh viện Bạch Mai, sau khi chủ quán bê bát phở đặt lên bàn cho mình, mình cầm chai tương ớt bóp thẳng vào bát phở và thấy không chỉ 1 mà có đến cả vài chục con dòi bò lổm ngổm trong bát. Từ lần đó tới giờ mình cạch luôn món tương ớt, không dám ăn nữa”.

Theo Bảo Hân Vietnamnet
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Trang trước

Quay về Sức khỏe và Thực phẩm

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến1 khách