Diễn đàn Tu viện Phật giáo Việt nam


Đoàn Thực

Thảo luận chung về các món chay

Các điều hành viên: Sen Hong, Bất Nhị, TUỆ LÂM, samhoi, Phattutaigia

Re: Đoàn Thực

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Chủ nhật 23 Tháng 12, 2012 2:30 pm

Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikaya) 9. Kinh Chánh tri kiến (Sammàditthi sutta).

Trích dẫn về (Thức ăn)

-- Lành thay, Hiền giả!
Các Tỷ-kheo ấy, sau khi hoan hỷ, tín thọ lời nói Tôn giả Sariputta và hỏi thêm Tôn giả Sariputta câu hỏi như sau:
- Này Hiền giả, có thể có pháp môn nào khác, nhờ pháp môn này vị Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin Pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này?

-- Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri thức ăn, tuệ tri tập khởi của thức ăn, tuệ tri đoạn diệt của thức ăn, và tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của thức ăn, chư Hiền, khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin Pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này.

Chư Hiền, thế nào là thức ăn, thế nào là tập khởi của thức ăn, thế nào là đoạn diệt của thức ăn, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt của thức ăn?

Chư Hiền, có bốn loại thức ăn này, khiến các loài chúng sanh đã sanh được an trú hay các loài hữu tình sẽ sanh được hỗ trợ cho sanh.

Thế nào là bốn? Ðoàn thực, loại thô hay loại tế, xúc thực là thứ hai, tư niệm thực là thứ ba, thức thực là thứ tư.

Từ tập khởi của ái có tập khởi của thức ăn, từ đoạn diệt của ái có đoạn diệt của thức ăn.

Thánh Ðạo Tám Ngành này là con đường đưa đến đoạn diệt của thức ăn, tức là: Chánh Tri kiến, Chánh Tư duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh tấn, Chánh Niệm, Chánh Ðịnh.

Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri thức ăn như vậy, tuệ tri tập khởi của thức ăn như vậy, tuệ tri đoạn diệt của thức ăn như vậy, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của thức ăn như vậy, khi ấy, vị ấy đoạn trừ tất cả tham tùy miên, tẩy sạch sân tùy miên, nhổ tận gốc kiến mạn tùy miên "Tôi là", đoạn trừ vô minh, khiến minh khởi lên, diệt tận khổ đau ngay trong hiện tại. Chư Hiền, như vậy Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin Pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này. http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung09.htm

Forum:

Để tham khảo tiếp theo về '' xúc thực là thứ hai, tư niệm thực là thứ ba, thức thực là thứ tư''. Chúng ta quay trở lại hay ôn lại về ý nghĩa của hai chữ đoàn thực.

"Đoàn thực'' tức là vật thực để nuôi dưỡng thân (sắc) hay duy trì thọ mạng. Và hiểu nôm na như thế nào về đoàn thực?
Ví dụ về những người bị bệnh chứng bại não, bị chiến tranh, đói khổ. Thì cần phải có vật thực và chỉ biết "ăn để mà sống'' chớ không phải sống để mà ăn và hưởng thụ. (Đó gọi là đoàn thực, ngoài ra vật thực cần phải đòi hỏi của vị giác của lưỡi khi đụng tới vật thực (gọi là xúc). Rồi từ đó sanh khởi ra tư niệm và thức thực! Sanh ái và tạo nghiệp.v.v. Do đó mà người tu sĩ cần nên hiểu qua Pháp môn này. Xem về...

Pháp khất thực của người Khất Sĩ.Khi thọ dụng các thức ăn, các Vị Tỳ Kheo xem như là việc uống thuốc để duy trì sự sống mà tu hành, ngon không ham, dở không bỏ. Thọ dụng cúng phẩm của người đời vừa khỏi đói khát thì thôi, không được ham cầu cho nhiều, phá vỡ thiện niệm của họ.

Xem: Lược Ý Nghi Thức Cổ Phật Khất Thực Trong Giới Đàn Phật Giáo Bắc Truyền

Ý Nghĩa Hạnh Trì-Bình Khất-Thực của Nhà Phật (Còn tiếp)
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Đoàn Thực

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 2 24 Tháng 12, 2012 2:54 pm

Xúc thực (phassāhāra).

1.Nghĩa chữ trong Phật học:

Xúc thực là sự tiếp chạm giữa căn (indriya), cảnh (ārammaṇa) và thức (viññāṇa).
Là sự cảm thọ của 6 giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý). Hay còn gọi là món ăn tinh thần.

Cảnh (trần cảnh): Khi 6 giác quan này tiếp xúc 6 trần là (sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp) thì gọi là 12 xứ.

Mười hai Xứ: Mười hai xứ là cơ sở giao tiếp giữa con người với thế giới thực tại khách quan, bao gồm sáu nội xứ ( thuộc về tự thân) và sáu ngoại xứ ( thuộc về ngoại cảnh). Sáu nội xứ là: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và ý thức. Sáu ngoại xứ là: Hình thể, âm thanh, hương khí, mùi vị, sự tiếp xúc, và các sự vật hiện tượng( sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp).

Mười tám Giới: Mười tám giới là cơ sở giao tiếp toàn diện của con người với thế giới thực tại khách quan, bao gồm: Sáu nội xứ, sáu ngoại xứ và sáu tình thức của mắt, tai ,mũi ,lưỡi ,thân và ý ( nhãn thức, nhĩ thức, tỹ thức, thiệt thức, thân thức và ý thức).

2. Vì sao cần phải có thức?

Vì không có sự hướng tâm đến cảnh sẽ không nhận thức cảnh, người có mắt, có cảnh sắc nhưng không chú ý đến cảnh sắc sẽ không nhận thức được.
Hay tuy có tai, có âm thanh nhưng không chú ý sẽ không nghe chi cả, dĩ nhiên trừ trường hợp cảnh quá lớn như cảnh kinh hoàng đột nhiên ập đến, tiếng sấm nổ, mùi nồng nặc...

Do đó, nói rằng: “Không có thức sinh lên thì xúc cũng không sinh”.

Đồng thời, chính vì căn, cảnh và thức sai biệt nên có xúc sai biệt.

“Này các Tỳkhưu, do duyên giới sai biệt nên xúc sai biệt khởi lên” [10].

- Nhãn căn (thần kinh nhãn) + cảnh sắc + nhãn thức à nhãn xúc.

- Nhĩ căn (thần kinh nhĩ) + cảnh thinh + nhĩ thức à nhĩ xúc.

- Tỷ căn (thần kinh tỷ) + cảnh mùi + tỷ thức à tỷ xúc.

- Thiệt căn (thần kinh thiệt) + cảnh vị + thiệt thức à thiệt xúc.

- Thân căn (thần kinh thân) + cảnh xúc + thân thức à thân xúc.

- Ý thức + cảnh pháp à ý xúc.

Sáu xúc này sai biệt nhau:
Nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc và ý xúc. (Còn tiếp)
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Đoàn Thực

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 3 25 Tháng 12, 2012 11:03 am

3. Hiểm họa của Xúc thực là dính mắc.

Xúc làm duyên cho thọ sinh lên.

Thọ có ba là: Khổ thọ, lạc thọ và xả thọ.

Khổ thọ dẫn đến dính mắc với sân;
Lạc thọ dẫn đến dính mắc với tham;
Xả thọ dẫn đến dính mắc với si.

Lẽ thường chúng sinh không hài lòng với khổ thọ hay xả thọ, chỉ thích thú đối với lạc thọ. Và lạc thọ chỉ khởi lên do có xúc.

Người uống rượu thích thú khi thấy rượu (nhãn xúc), người đam mê âm nhạc sẽ hài lòng khi nghe bản nhạc y tâm đắc (nhĩ xúc), người thích thụ hưởng cảm thấy an lạc khi nằm trên giường nệm êm ái (thân xúc) ….

Một khi có sự tiếp xúc với cảnh nghịch ý (cảnh xấu) thì có cảm giác khó chịu, bấy giờ tâm đã dính mắc với sân. Người nghiện rượu không hài lòng khi nghe ai khuyên họ bỏ rượu (nhĩ xúc), người đam mê âm nhạc sẽ khó chịu khi nghe bản nhạc tồi tệ, nằm trên đất, trên cỏ là sự khó chịu đối với người thích thụ hưởng nệm êm chăn ấm...

Khi dính mắc với lạc thọ qua xúc chạm với cảnh khả ý, cảnh đáng hài lòng, một khi đối tượng ấy mất, chúng sinh này cảm thấy đau khổ, cố tìm lại đối tượng đã mất.

Thế là, chúng sinh ấy có thể rơi vào những ác bất thiện pháp, bị tù tội, bị hành phạt ngay trong hiện tại, đời sau cũng đau khổ do nhân ác ấy. Như một người mất số tiền họ cố tìm lại số tiền ấy, bằng cách lừa gạt người khác, trộm cắp của người …

Do vậy, sự dính mắc trong xúc chạm đáng hài lòng được xem là một hiểm họa.
Để ngăn trừ sự dính mắc trong xúc thực.

Đức Phật dạy: xúc thực cần phải nhận xét như con bò cái bị lột da.
Hình ảnh
Lớp da bao bên ngoài thịt đã bị lột ra, khi ấy chạm bất cứ nơi nào trên thân đều đau nhức, rát buốt. Cũng vậy, xúc thực đối với bất kỳ đối tượng (cảnh) nào cũng chỉ mang lại đau khổ.

Vị Tỳ khưu quán thấy xúc thực này giống như con bò bị lột da, đụng chạm vào bất cứ cảnh nào: xấu, tốt, không xấu không tốt cũng đều mang lại đau khổ, nhờ vậy sẽ chế ngự ham muốn trong xúc chạm với đối tượng (cảnh) đáng hài lòng, chế ngự phẩn nộ, khó chịu khi xúc chạm cảnh không hài lòng.

4. Vì sao? Vì xúc duyên cho thọ, thọ duyên cho ái.


Xúc thực làm sinh khởi thọ, thọ dẫn đến ái. Ái dẫn đến sinh tử luân hồi, đây là hiểm họa cao nhất của xúc thực.
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Đoàn Thực

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 4 26 Tháng 12, 2012 10:46 am

III. Tư niệm thực

Tư niệm thực: Là tư tưởng, niệm nghĩ hay nhớ...đến món ăn đó bằng sự ôn nhớ, bằng sự nghe kể lại, bằng sự thấy, bằng mùi hương...

4.Hiểm họa của Tư niệm thực là huân tập.
Khi chúng sinh tạo ra những nghiệp bất thiện hay những nghiệp thiện hữu lậu, những nghiệp này dẫn chúng sinh trôi lăn trong ba cõi.
Có một số người không tin luân hồi, không tin nghiệp báo, hạng người này không từ chối bất kỳ ác nghiệp nào, họ thực hiện các ác nghiệp để phục vụ cho sự an lạc nhất thời của mình, đó là huân tập ác nghiệp.

5.Truyện đồ tể Cunda là điển hình.

Tương truyền rằng, đồ tể Cunda sống bằng nghề giết mổ heo suốt cả 55 năm. Khi muốn giết heo, ông trói heo thật chặt vào cây cộc rồi dùng chày vồ đánh lên khắp mình con heo cho sưng lên để thịt được mềm.
Sau đó ông chống hai hàm heo bằng cây nêm nhỏ, đổ nước sôi vào trong họng heo, nước nóng thấm vào dạ dày heo làm lỏng phẩn trôi ra hậu môn, bao giờ còn phẩn thì nước còn đục, khi nước chảy ra trong vắt thì heo hết phẩn (dĩ nhiên con heo đau khổ, kêu la inh ỏi cho đến lúc chết).

Rồi ông cạo lông, đốt những lông cứng bằng cây đuốc, sau đó ông quay heo, dùng máu heo thoa lên lớp da đang quay. Ông cùng gia đình dùng thịt heo ấy, phần còn lại đem bán.

Ông sinh sống bằng cách như thế trong 55 năm, nhà ông tuy ở gần Tinh xá Trúc Lâm (Veḷuvanavihāra), nhưng Cunda không hề cúng dường đến Đức Thế Tôn hay chư Tăng dù chỉ một nắm hoa hay một muổng cơm, không hề làm một công đức chi cả.

Một hôm ông lâm bịnh, ác nghiệp giết heo trả quả, ông bò như heo khắp nhà, miệng kêu như heo đang bị hành hạ. Sau 7 ngày ông mệnh chung, tái sinh vào địa ngục Atỳ(avīciniraya).

Nhân câu truyện này Đức Thế Tôn thuyết lên kệ ngôn:
Nay sầu, đời sau sầu. Kẻ ác hai đời sầu.
Nó sầu, nó ưu não. Thấy nghiệp uế mình làm.

Một số người tuy có trí, có niềm tin vào luân hồi, nghiệp báo, nhưng tham đắm vào sự an lạc, họ tránh xa ác, bất thiện pháp, cố gắng tạo mọi thiện pháp để mai hậu hưởng quả an lành, điển hình là nàng Patipūjikā (cúng dường vì chồng).

Với nghiệp bất thiện chúng sinh bị đọa vào bốn khổ cảnh, chịu nhiều đau khổ.
Với nghiệp thiện tuy sinh vào nhàn cảnh, ít đau khổ hơn nhưng vẫn bị già, bịnh, chết dày vò, còn bị bức bách bởi định luật sinh diệt liên tục của pháp hữu vi.
Vì thế, sự tạo nghiệp đồng nghĩa với khổ và sự huân tập trong nghiệp xem như là một hiễm họa sinh tử luân hồi.

5. Tư niệm thực ví như hầm lửa đỏ.
Hình ảnh
Để chế ngự sự ham muốn trong tư niệm thực, Đức Phật dạy cần phải nhận xét tư niệm thực như hầm lửa đỏ.
“Này các Tỳkhưu, ví như một hố than hừng, sâu hơn một thân người, chứa đầy than cháy đỏ rực, hừng cháy không có khói.

Rồi một người đi đến, muốn sống không muốn chết, muốn lạc chán ghét khổ.

Có hai người lực sĩ đến, nắm chặt lấy hai cánh tay nó, kéo nó đến hố than hừng ấy.

Này các Tỳkhưu, người ấy quyết chí muốn lánh xa, tinh cần muốn lánh xa, phát nguyện muốn lánh xa (hố than hừng ấy)”.

Hố than hừng ví như tam giới, còn rơi vào tam giới là còn khổ, còn bị những than hừng già, bịnh, chết thiêu đốt.

Người có trí khi tạo thiện nghiệp không mong cầu hưởng an lạc trong tam giới, chỉ muốn lánh xa tam giới, tức là chỉ muốn thoát ra khỏi sinh tử luân hồi, như vậy được gọi là “không huân tập trong tư niệm thực”.

Khi còn sinh tử luân hồi là do còn ái, khi hiểu rõ và chấm dứt ba ái thì sự luân chuyển trong tam giới không còn.
“Này các Tỳkhưu, khi tư niệm thực được hiểu biết, thời ba ái [36] được hiểu biết.

Khi ba ái được hiểu biết, Ta nói rằng vị Thánh đệ tử không có làm gì thêm nữa.” (sđd).

Và:

“Này các Tỳkhưu, nếu đối với tư niệm thực có tham, có hỷ, có ái, chỗ ấy thức được an trú, tăng trưởng.

Chỗ nào thức được an trú, tăng trưởng, chỗ ấy có danh sắc sanh.

Chỗ nào có danh sắc sanh, chỗ ấy có các hành tăng trưởng.

Chỗ nào có các hành tăng trưởng, chỗ ấy hữu được tái sinh trong tương lai.

Chỗ nào hữu được tái sinh trong tương lai, chỗ ấy có sanh, già, chết trong tương lai.

Chỗ nào có sanh, già, chết trong tương lai, Ta nói chỗ ấy có sầu, có não.”[37]

Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Đoàn Thực

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 6 28 Tháng 12, 2012 12:12 pm

Trước khi tìm hiểu: Thức thực là gì?

Chúng ta quán sát thêm về ý nghĩa: Thức trong duy thức học, Thức trong ngũ uẩn như thế nào.v.v. Hoặc hành giả có tài liệu nào khác hơn, xin mời chia sẽ thêm, Cầu Pháp thành thật rất cảm ơn.


1.Ý thức trong Duy thức học [/COLOR]

Theo Duy thức học, tâm chúng ta tạm phân thành tám: Năm thức trước, là nhãn thức, nhĩ thức, tĩ thức, thiệt thức, thân thức, được gọi là tiền ngũ thức, cộng với phần ý thức được gọi là sáu thức ngoài, vì chúng ta dễ dàng nhận ra chúng.

Hai thức sau là thức mạt-na và thức thứ tám, gọi là hai thức trong, vì chúng hoạt động một cách âm thầm, sâu kín, khó nhận thấy. Sáu thức ngoài hoạt động có gián đoạn, lúc có, lúc không. Hai thức trong hoạt động không gián đoạn.

2. Căn, cảnh, thức [/color]
Sáu thức ngoài mỗi thức đều có chỗ nương riêng. Chỗ nương của thức gọi là căn. Nói cách khác, căn là nơi phát ra thức. Tương ứng với sáu thức ta có sáu căn là nhãn căn (con mắt), nhĩ căn (lỗ tai), tĩ căn (lỗ mũi), thiệt căn (cái lưỡi), thân căn (cơ thể) và ý căn (chính là mạt-na).

Sáu căn, mỗi căn có khả năng kết hợp với một loại cảnh riêng, để tạo ra thức. Cụ thể như:
***Nhãn căn kết hợp với sắc cảnh để tạo ra nhãn thức, là sự nhận biết về sắc tướng (hình ảnh, màu sắc).

***Nhĩ căn kết hợp với thanh cảnh để tạo ra nhĩ thức, là sự nhận biết về âm thanh.
***Tĩ căn kết hợp với hương cảnh để tạo ra tĩ thức, là sự nhận biết về mùi.
***Thiệt căn kết hợp với vị cảnh để tạo ra thiệt thức, là sự nhận biết về vị.
***Thân căn kết hợp với xúc cảnh để tạo ra thân thức, là sự nhận biết về xúc chạm.
***Ý căn kết hợp với pháp cảnh để tạo ra ý thức, là sự nhận biết về pháp.

Đến đây, để dễ nhận ra tính thực tế và hợp lý của cách phân chia trên, chúng ta hãy làm một sự đối chiếu giữa Duy thức học và Tâm lý học mà cụ thể là Phân tâm học phương Tây.

Theo Phân tâm học, tâm linh chúng ta được phân thành hai là ý thức và vô thức.
Vô thức là phần tâm linh hoạt động ở bên ngoài ý thức. Ý thức của chúng ta chỉ biết được chút ít về vô thức. Có nhiều vùng của vô thức, ý thức hoàn toàn không biết. Vô thức chính là thức mạt-na và thức thứ tám trong Duy thức học.

- Vì chưa thể phân tích vô thức thành hai phần như Duy thức học, nên Phân tâm học không thể lý giải tính cá nhân, còn gọi là sự chấp ngã, có mặt nơi các chủ thể nhận thức. Chấp ngã, là cho rằng ta là chủ thể thân tâm của chính mình.

- Vì ý thức lấy mat-na làm căn, phần này thuộc về vô thức, nên ý thức luôn chịu sự tác động của vô thức. Đây là điều đã được Phân tâm học khám phá, nhưng Phân tâm học chưa thể chỉ ra tác động ấy trong từng ý niệm như Duy thức học.

Sáu thức ngoài được Phân tâm học gom về ý thức. Sở dĩ có hiện tượng này, vì theo truyền thống, các nhà tâm lý phương Tây vẫn cho rằng các giác quan như mắt, tai… là thành phần của bộ máy sinh lý. Chỉ có ý thức là thành phần của bộ máy tâm thần (thành phần tâm lý).

Điều này dẫn đến các hệ quả sau:
Việc xem mắt là chiếc máy chụp ảnh, tai là máy ghi âm… khiến Tâm lý học không thể giải thích tại sao khi một tác động bên ngoài (là một hiện tượng vật lý, thuần mang tính vật chất) kích thích lên các giác quan (cũng là thành phần mang tính vật chất) lại tạo ra các cảm giác, là một hiện tượng tâm lý.

Tâm lý gia Bourdon nói: “Sự xuất hiện cảm giác sau khi có sự kích thích không thể giải thích được”. Nếu quy các cảm giác về cho ý thức, chúng ta vẫn gặp lại những khó khăn trên, nên Clarapèle viết: “Vấn đề triết học liên hệ đến nguồn gốc của ý thức là vấn đề khó khăn nhất”. Cụ thể hơn, dù máy chụp hình có ghi lại được các hình ảnh thì chúng ta cũng không thể nói rằng máy chụp ảnh biết được các hình ảnh mà nó đã chụp được.


Với Duy thức học, mắt, tai… là các căn. Căn có hai phần, là “phù trần căn” và “thắng nghĩa căn”. “Phù trần căn” là năm giác quan mắt, tai… mà ta có thể nhận biết. “

Thắng nghĩa căn” là phần tịnh sắc vi tế. Nó là thể của phù trần căn, và là chỗ nương chính của 5 thức nhãn thức, nhĩ thức… Bát Thức Qui Cũ nói: “Ngũ thức đồng y tịnh sắc căn”. Căn, là chỗ thức y tựa, nhưng cần hiểu nó như một duyên giúp 5 thức sinh khởi hơn là thứ tạo ra 5 thức. Gốc, đều bắt nguồn từ thức thứ tám.


Theo tinh thần Duy thức, các căn đều là sự biến hiện của thức, không lìa thức mà có, nên ở nơi căn đã hàm chứa đủ hai thành phần sinh lý và tâm lý. Vì vậy, việc xuất hiện các cảm giác (các thức ngoài) khi căn tiếp xúc với trần cảnh là điều tự nhiên.

Việc quy 6 thức ngoài vào ý thức đã đồng hóa sự nhận biết của 5 thức trước với việc nhận biết của ý thức. Điều này không phù hợp với thực tế. Trên thực tế, ý thức không thể nhận biết trực tiếp về trần cảnh.

Ta có thể dễ dàng kiểm chứng: Nếu mắt bị mù, tai bị điếc… thì chúng ta không thể nhận thức về hình ảnh, âm thanh… dù các cảnh ấy đang hiện diện và ý thức vẫn còn đó. Ý thức chỉ biết các trần cảnh thông qua 5 thức ngoài và xem đó là những biểu hiện của pháp. Nói cách khác, thứ mà ý thức nhận biết là pháp, không đồng với đối tượng nhận biết của 5 thức ngoài.

Vậy “Pháp” là gì? Tại sao đối tượng nhận biết của ý thức lại là pháp? Tâm của ta vận hành thế nào để tạo ra một ý niệm về pháp trong ý thức?
Muốn hiểu được các điều trên, trước hết cần phân biệt hai loại ý thức: Ý thức hiện lượng và ý thức phân biệt.

3.Ý thức hiện lượng và ý thức phân biệt

Ý thức hiện lượng: Còn gọi là ý thức vô phân biệt, là loại ý thức vừa sinh ra đã có(1) Lúc còn bé, người ta thường sống với loại ý thức này. Với ý thức vô phân biệt, chúng ta cũng biết về trần cảnh thông qua 5 giác quan, nhưng không khởi lên các ý niệm phân biệt như cái này, cái kia, trong, ngoài…

Ý thức phân biệt: Loại ý thức này chỉ xuất hiện và phát triển theo quá trình lớn lên của con người. Đây là loại ý thức tập thành. Nghĩa là do huân tập mà có. Ý thức phân biệt có được từ kinh nghiệm sống của cá nhân và từ sự giáo dục của gia đình và xã hội.

Thí dụ 1: Một đứa bé bò chơi quanh phòng, chụp được gì liền cho vào miệng. Nếu nuốt được nó sẽ nuốt, không nuốt được nó sẽ nhả ra. Nếu sự việc này diễn ra nhiều lần (tập) đứa bé sẽ dần nhận ra thứ gì ăn được, thứ gì không ăn được.

Thí dụ 2: Một đứa bé, nếu được hướng dẫn cái này là ghế, cái này là bàn… và sự hướng dẫn diễn ra nhiều lần (tập) thì về sau đứa bé sẽ tự mình gọi tên khi nó gặp các vật đó.
Hai thí dụ trên cho thấy việc huân tập từ kinh nghiệm sống và từ sự giáo dục đã làm hình thành các ý niệm phân biệt. Khi ý thức lấy các ý niệm phân biệt này làm cơ sở cho sự nhận biết về thế giới thì gọi là ý thức phân biệt.


Nơi người trưởng thành, ý thức phân biệt chiếm ưu thế. Ý thức hiện lượng vẫn còn đó nhưng khó nhận ra. Khi căn tiếp xúc với trần cảnh, ở sát na đầu tiên, ý thức vẫn còn trong trạng thái hiện lượng. Qua sát na thứ hai, ý thức phân biệt mới xuất hiện.

Những ý niệm phân biệt được tạo ra theo nhiều cách khác nhau. Ở con người, phương tiện chính để tạo ra các ý niệm phân biệt là ngôn từ. Ngôn từ đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra các ý niệm phân biệt cho con người.

4.Đôi điều cần biết về ngôn từ

Trước hết, chúng ta cần lưu ý, khi mới sinh ra không ai biết gì về ngôn ngữ. Nếu một cá nhân không được hướng dẫn, dạy dỗ, không có điều kiện tiếp xúc thường xuyên với ngôn ngữ thì cá nhân ấy khi lớn lên vẫn không biết sử dụng ngôn ngữ. Điều đó cho thấy, ngôn ngữ không phải là một hiện tượng tự nhiên mà là một hiện tượng tập thành. Ngôn ngữ chỉ được hình thành sau quá trình huân tập.

Ngôn ngữ với tính cách uyển chuyển của nó đã cho phép tạo ra vô vàn ý niệm phân biệt. Như cũng là màu xanh mà có xanh nhạt, xanh đậm… càng có nhiều ý niệm phân biệt thì ý thức phân biệt càng phát triển, kéo theo sự phát triển của tư duy. Vì thế, chính ngôn từ và sự giáo dục đã làm cho con người khác hẳn các sinh vật khác.

Thông thường, một đứa bé bắt đầu tiếp cận với ngôn ngữ bằng cách tập gọi tên các sự vật quen thuộc. Việc gọi được tên các sự vật góp phần tạo ra sự nhận thức tách biệt rạch ròi giữa các sự vật. Song song với quá trình tách biệt các sự vật với nhau, là tiến trình gắn thuộc tính cho từng sự vật. Điều này dẫn đến một cách nhận thức mới. Đó là cách nhận thức về các sự vật trong thế giới thông qua ngôn từ. Đây là môi trường hoạt động chính của ý thức phân biệt.

Nhìn trên chiều sâu của tâm, ngôn từ đã hình thành theo phương thức sau: Khi một đứa bé được chỉ dạy cái này là bàn, cái này là ghế… thì hình ảnh và tên gọi của các vật sẽ được ghi nhận và lưu trữ trong tâm. Nếu việc chỉ dạy này diễn ra nhiều lần, về sau khi bắt gặp các vật đó, đứa bé sẽ gọi được tên các vật đó.

Sau khi ghi nhận, ngôn từ và hình ảnh của sự vật đều được lưu trữ trong tâm. Nói chính xác là được lưu trữ trong thức thứ tám. Vì sao? Vì 5 thức ngoài hoạt động có gián đoạn và chỉ duyên với các cảnh hiện tại, nên ngôn từ và hình ảnh không thể lưu trữ ở đó. Chúng cũng không thể được lưu trữ nơi ý thức, vì ý thức hoạt động có gián đoạn. Lại nữa, nếu được lưu trữ ở ý thức thì chúng ta phải thường thấy chúng. Trên thực tế, ngôn từ về một sự vật nào đó chỉ xuất hiện lúc thích hợp. Lúc bình thường nó không xuất hiện nơi ý thức. Do có khả năng lưu trữ đó mà thức thứ tám còn có tên là “tạng thức”, là kho chứa các chủng tử thức.

Trong thời điểm hiện tại, khi mắt bắt gặp một sự vật mà ta có thể gọi tên chúng, điều đó cũng có nghĩa là tên gọi các sự vật đã được lưu trữ trong tạng thức. Nói theo Phân tâm học, là đã được lưu trữ trong vô thức. Nếu trước đây ta chưa từng biết tên các sự vật đó, thì ở hiện tại khi bắt gặp các sự vật đó, ta không thể biết tên gọi của chúng.Chánh Tấn Tuệ http://www.phattuvietnam.net/nghiencuu/triethoc/17689-%C3%BD-th%E1%BB%A9c-l%C3%A0-g%C3%AC-1.html

Xem tiếp: Khái quát về Ngũ Uẩn Vô Ngã (HT. Thích Thiện Siêu ) http://www.daophatngaynay.com/vn/phat-phap/giao-phap/vo-thuong-kho-vo-nga/5569-Khai-quat-ve-Ngu-Uan-Vo-Nga.html
Hình ảnh
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Đoàn Thực

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 7 29 Tháng 12, 2012 8:28 pm

Thọ ấm

Ngài Huyền Trang dịch là Thủ uẩn vì sao? Trong kinh có cắt nghĩa chữ Thọ và chữ Thủ này. Vì sao gọi là Thọ ấm? Vì sao gọi là Thủ uẩn? Trước hết chúng ta tìm hiểu vì sao gọi là Thọ ấm.
Đây là một chữ đặc biệt, thỉnh thoảng mới có trong kinh chứ không phải có nhiều, nhưng mà nó cũng là chữ đúng chứ không sai.

Trong kinh Tạp A-hàm 3 số 51 có nói rằng: " Do mắt và Sắc sinh Nhãn thức, ba sự hòa hợp sinh Xúc, duyên Xúc sinh Thọ, thọ vui, thọ khổ, thọ không khổ không vui, nương nơi đó sinh lòng nhiễm trước.

Tai, mũi, lưỡi, thân, ý; Ý thức và pháp sinh ý thức, ba sự hòa hợp sinh Xúc, duyên Xúc sinh Thọ; thọ vui, thọ khổ, thọ không khổ không vui, nương thọ đó sinh lòng hỷ". http://www.daophatngaynay.com/vn/phat-p ... o-Nga.html
========
----------
Forum: Nếu đọc sơ qua ở Duy thức thì chỉ hiểu là Lục căn, lục trần sinh lục thức. Khi tới đoạn kinh tạp A-hàm thì do ba sự (căn trần thức) hòa hợp trong đó có sự tác động của Xúc...thành ra bị ô nhiểm...tham ái và tạo nghiệp.

kinh Trung Bộ > kinh Chánh tri kiến thì giải thật là dể hiểu, dể là thế nào. Đó là Đoàn, xúc, tư niệm và thức thực của vật chất (trần), vị giác (lưỡi)...
5 giác quan còn lại cũng tương tự. Rồi tư đó Hàng giả so sánh với duy thức mới thấy có sự hòa hợp. Đây chỉ là ý kiến cá nhân thu thập của người viết. Độc giả đừng quá quan tâm về phần forum này. Mà hãy nên tư duy ở kinh điển.
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Đoàn Thực

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 2 31 Tháng 12, 2012 6:01 pm

Thọ ấm (tiếp theo)

Trong kinh Tạp A-hàm bản chữ Hán cũng có đoạn nói: "Bỉ nhất thiết tứ đại cập tứ đại sở tạo sắc, thị sắc thọ ấm, nhãn xúc sinh thọ lạc đẳng, lục thọ thân danh thọ thọ ấm; nhãn xúc sinh tưởng đẳng. Lục tưởng danh tưởng thọ ấm nhãn xúc sinh tư đẳng, lục tư danh hành thọ ấm, nhãn thức thân nãi chí ý thức thân, danh thức thọ ấm. Do thủ sinh cố, thuộc ư thủ cố, năng sinh thủ cố”.

Câu này cốt giải nghĩa cái gì? Cốt ý giải nghĩa chữ "Thọ". Bên kia dịch Ngũ ấm, tức năm nhóm, nhưng năm nhóm có chữ "Thọ" nữa, vì sao? Vì tất cả bốn đại và bốn đại sở tạo sắc thì gọi là Sắc thọ uẩn. "Nhãn xúc sinh thọ lạc đẳng, lục thọ thân danh thọ thọ ấm, nhãn xúc sinh tưởng đẳng... ".

Thọ này phát sinh từ nơi Nhãn xúc, Tỷ xúc, Thiệt xúc, Thân xúc và Ý xúc, Xúc sinh Thọ. Trong Mười hai nhân duyên cũng có nói, có Xúc sinh Thọ. Nếu không xúc thì không sinh Thọ.

Không xúc tức là không có căn đối với trần thì không có sinh Thọ được, vì vậy cho nên gọi là Nhãn xúc sinh thọ. Ta có sáu căn, tất nhiên có sáu sự xúc đối.

Đã có xúc đối tất nhiên có sáu Thọ của nơi sáu sự xúc đối đó.

"Lục tưởng danh tưởng thọ ấm, nhãn xúc sinh tư đẳng, lục tư danh hành thọ ấm, nhãn thức nãi chí ý thức thân, danh thức thọ ấm".

[Chúng ta lưu ý chữ "Thân", tôi sẽ giải thích sau]. Nếu như không có Nhãn xúc, Nhĩ xúc... thì không có tưởng được. Nếu một người mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý đều hoàn toàn không có thì người ấy không tưởng được gì hết; ngược lại, có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý mà anh ta không xúc chạm gì hết thì anh ta cũng không tưởng gì được hết.

Khi nào anh ta xúc thì mới có Thọ ấm. http://www.daophatngaynay.com/vn/pha...an-Vo-Nga.html
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Đoàn Thực

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 4 02 Tháng 1, 2013 11:47 am

Truyện Thiền sư khống chế được cái chân què.

Xưa có một vị Thiền sư bị té què chân, vì thế mà đi đứng nằm ngồi đều bị chướng ngại, khổ sở vô cùng, nhất là phải di chuyển để tụng kinh, hành thiền. Nói tóm lại là bị lệ thuộc vào cái chân què, và làm gì cũng đi sau người ta cả. Nhưng đến khi phải chuẩn bị cho ngày thị tịch, Ngài muốn ngồi kiết già nhập Thiền mà đi luôn. Nhưng "hắn" (cái chân què) có nghe Ngài đâu. Cái chân què cứ trở ngại Ngài hoài, bắt Ngài phải dỗ dành ngon ngọt với hắn, hắn mới chịu để yên, như người qua sông phải lụy đò, nên Ngài phải chiều nó.

Một hôm, Ngài quyết định nhập diệt, Ngài định ngồi kiết già để mà nhập diệt, nên vừa mới đưa chân lên, hắn đau quá, Ngài quyết tâm lấy nắm cái chân què lên và nhủ thầm:

"Bấy lâu nay Ta theo mi, chiều mi đủ thứ, nay mi phải dứt khoát theo ta". Khi ấy Ngài không kể đau đớn gì cả, cố bắt chân ngồi kiết già, thế là hắn phải theo và ngồi yên. Nếu chúng ta có một sự tự tại đối với Sắc, đối với Thọ, đối với Tưởng, đối với Hành, đối với Thức như Ngài (vị Thiền sư) thì chúng ta mới giải thoát được.

Phật dạy người tu phải biết quán vô thường, vô ngã, song đồng thời cũng phải biết nương theo cái thân này để vượt qua bờ bên kia, nhưng nếu cứ chấp chặt, yêu quý nó thì cũng giống như người bị rớt xuống nước, thấy xác chết ở giữa biển cả mênh mông, mừng quá chụp lấy mà tô điểm cho xác chết, không chịu vào bờ. Người khôn phản biết nương thân Ngũ uẩn như nương thây chết nổi trên biển cả để làm phương tiện vào bờ, nhưng không lụy vào nó, mà cũng đừng ruồng rẫy nó, vì không có nó không được.
***
***
Tại sao gọi là Ngũ chúng, Ngũ uẩn, Ngũ thủ uẩn, Ngũ ấm và Ngũ thọ ấm, giữa chúng có sự đồng nhau và khác nhau như thế nào?

- Năm ấm tức là chỉ cho năm cái ngăn che chân tánh.

- Thủ uẩn chỉ cho năm uẩn, nhưng có sự chấp thủ trong đó thành Năm thủ uẩn.

- Năm thọ ấm tức sáu căn tiếp xúc sáu trần thành có thọ, nếu không Xúc thì không có Thọ, Tưởng, Hành, Thức... Chữ Thọ cùng nghĩa với chữ Thủ.

Ngũ uẩn là Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức, năm cái này xét về mặt thể tính thì nó giống nhau, cùng chỉ Sắc , Thọ, Tưởng, Hành, Thức.

Nhưng xét về mặt nghĩa thì khác nhau, vì sao?

-Trong khi nói năm uẩn tức là nói Năm nhóm, Năm sự tập hợp, Năm sự tích tụ. Còn nói Năm ấm tức là nói Năm sự ngăn che, thành Năm cái nghĩa khác nhau nhưng thể tính vẫn là một.

Thể là đồng Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức, nhưng giải thích theo kiểu này thì gọi là Ấm, giải thích theo cách kia thì gọi là Uẩn.

Như vậy Ấm có nghĩa ô nhiễm, là hữu lậu. Nhưng khi nói về Uẩn thì nó vừa hữu lậu vừa vô lậu. Nếu ở trước chữ Uẩn có chữ "Thủ" thì trở thành hữu lậu, trước Uẩn có chữ "Pháp" thì trở thành vô lậu.

Riêng chữ Ngũ uẩn là Năm nhóm. Như vậy Năm nhóm có thể là tốt, có thể là xấu, có thể hữu lậu, có thể vô lậu. Cho nên khi nói Ngũ uẩn là nói chung cho cả hữu lậu vô lậu chứ không phải nói tốt xấu gì cả.

Nhưng khi nói Năm nhóm đó do Thủ phát sinh, do Ái Thủ phát sinh, lệ thuộc nơi Ái Thủ và nó có thể phát sinh Ái Thủ, thì Năm nhóm đó là Năm thủ uẩn. Chữ Thủ nghĩa là Ái Thủ, là chấp Thủ đối với Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức mà Ái Thủ nó thì gọi là Thủ uẩn. Vì Ái Thủ cho nên mới có Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Như vậy Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức do Ái Thủ mà sinh, nó lệ thuộc với Ái Thủ và chính từ nó cũng sinh ra Ái Thủ. Thế cho nên gọi là Thủ uẩn.

Còn khi gọi Uẩn không thôi tức nhiên không phải là Thủ uẩn, hữu lậu cũng được, vô lậu cũng được. Nhưng thường thường trong kinh có khi nói Ngũ uẩn, có khi nói Ngũ thủ uẩn, tức nhiên chúng ta cũng nhận định biết rằng khi nói Thủ uẩn là cố nhấn mạnh về sự chấp thủ Ngũ uẩn. Còn khi gọi Ngũ uẩn là muốn chỉ về cái nhóm đó, của cái thực thể đó.

Còn Ngũ ấm tức nhiên chỉ về sự ngăn che chân tánh, vì nó cho nên không nhận thức được cái tánh của pháp giới là vô ngã, vô thường, cho nên gọi là Ấm, Ngũ thọ ấm cũng y như Ngũ thủ uẩn, nghĩa của nó giống nhau. Chữ Thọ này có nghĩa là Ái thọ, chấp Thủ. Thành ra chữ Thọ ấm này là cái nghĩa người ta dịch chung chứ thật ra nói chữ Ấm không cũng đủ có cái nghĩa ô nhiễm rồi, không cần chữ Thọ cũng có nghĩa là ô nhiễm.

- Ngũ chúng: Có nghĩa tương tợ như Ngũ uẩn, là Năm nhóm, như nói "tứ nhân thành chúng" (bốn thầy Tỷ-kheo trở lên thành chúng), một nhóm trở lên gọi là chúng. Vì thế ngày xưa, trong luận Đại Trí Độ của Ngài Long Thọ trước tác, Ngài La-thập dịch ra tiếng Trung Hoa là Ngũ chúng, y như Ngũ uẩn có Năm nhóm. Năm cái tập hợp lại cho nên gọi là Ngũ chúng.

Tóm lại, có hai pháp môn mà Phật dạy cho chúng ta thấy rõ lý Vô ngã đó là Mười hai nhân duyên và Ngũ uẩn. Hai pháp môn này Phật thường nói nhất và cụ thể nhất. Ngoài ra, thỉnh thoảng Ngài cũng có khi đề cập đến pháp Lục nhập, Thập nhị xứ, Thập bát giới là Vô ngã, nhưng cũng chỉ là phần phụ. Vì Lục nhập, Thập nhị xứ, Thập bát giới nó cũng thuộc vào nơi Ngũ uẩn và Mười hai nhân duyên hết. http://www.daophatngaynay.com/vn/phat-p ... o-Nga.html
(Trích "Ngũ Uẩn Vô Ngã", NXB Tôn Giáo, 1999)
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Đoàn Thực

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 4 02 Tháng 1, 2013 11:50 am

Trong kinh tạng Pàli: Ngũ uẩn còn gọi là Sinh y; Ngũ uẩn là gánh nặng.

Ngũ uẩn cũng gọi là Sinh y. Vậy thế nào là Sinh y? Chữ Sinh y như trong Pàli nói tức là Năm uẩn, là cái căn cứ cho một đời sống khác, là chỗ y cứ cho một cuộc đời, cho một sự sống, nên gọi là Sinh y.

Trong kinh Tăng Chi Bộ tập 3a, tr. 395 có nói: "Vị Tỷ-kheo ly dục... chứng và trú Sơ thiền. Vị ấy, ở đây, đối với cái gì thuộc về Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức, các pháp ấy, vị ấy tùy quán là vô thường, là khổ, là bệnh, là mụt nhọt, là mũi tên, là va chạm, là bệnh tật, là khách lạ, là biến hoại, là trống không, là vô ngã; vị ấy né tránh tâm mình khỏi những các pháp ấy, sau khi tránh né, vị ấy hướng đến bất tử giới.

Đây là tịnh lạc, thù thắng, đây là sự chỉ tức tất cả Hành, sự từ bỏ Sinh y, sự tận diệt khát ái, ly tham, đoạn diệt, Niết bàn".

Trong kinh Tương Ưng Bộ tập 3 có ghi:

"Năm uẩn là gánh nặng,
Kẻ gánh nặng là người,
Cầm lấy gánh nặng lên,
Chính là khổ ở đời.
Còn bỏ gánh nặng xuống xong,
Tức là lạc không khổ,
Gánh nặng bỏ xuống xong,
Không mang theo gánh khác.
Nếu nhổ khát Ái lên,
Tận cùng đến gốc rễ,
Không còn đói và khát,
Được giải thoát tịnh lạc”.

http://www.daophatngaynay.com/vn/phat-phap/giao-phap/vo-thuong-kho-vo-nga/5569-Khai-quat-ve-Ngu-Uan-Vo-Nga.html

Các từ ngữ Phật học về ý nghĩa dùng từ trong Ngũ uẩn!...tại sao có ngã và đừng chấp ngã, bài khái quát về Ngũ uẩn đến đây là hết.

Trở lại bài học "Kinh Chánh tri kiến" trong Trung Bộ Kinh.

Tìm hiểu: "Thức thực là gì, như thế nào phát sanh và làm sao để huân tu.v.v. Chúng ta tham khảo bài kinh này trở lại một lần nữa. Cho tường tận, chính xác hơn. Chúc độc giả nhiều mai mắn. Rất cảm ơn.
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Re: Đoàn Thực

Gửi bàigửi bởi Bất Nhị » Thứ 6 04 Tháng 1, 2013 1:48 pm

IV. Forum: Thức là gì?

Trong vật lý, nghành Y khoa tâm lý học. Theo sự tìm hiểu qua sách vở của người viết, mình nhận xét thức là ý thức, là tâm, là sự hiểu biết tự nhiên của con người qua sự kiểm soát hệ thống của não bộ (Thần kinh). Nhờ não bộ trung ương qua cảm giác thần kinh, trung gian của 5 giác quan. Mà con người mới biết phân tách các sự vật và có tình cảm hỉ nộ ái ố.v.v.

Riêng về Phật giáo thì thức có rất nhiều nghĩa:

Thức (ý thức) gọi là thức thực... Bản ngã từ đâu mà có. Sự cấu tạo của bản ngã (thân và tâm) từ nơi nào...

Thức trong ngũ uẩn, Thức trong duy thức học thì chúng ta đã đọc qua rồi. Là sự sai sử qua các Căn và trần để sanh ra tham ái. Từ tham ái để rồi tạo nghiệp thiện hoặc ác... Và tái sanh lại trong lục đạo, cứ thế mãi (Thao khảo từ lý 12 nhân duyên).

Hy vọng dưới forum này sẽ nhận được nhiều kinh nghiệm của các vị đây.
Hình đại diện của thành viên
Bất Nhị
Clean Spam
 
Bài viết: 4200
Ngày tham gia: Thứ 3 30 Tháng 10, 2012 7:46 pm
Đến từ: Nederland

Trang trướcTrang kế tiếp

Quay về Sức khỏe và Thực phẩm

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến2 khách

cron